KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
KHẢO SÁT MỨC ĐỘ CÔ ĐƠN TRỰC TUYẾN
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN MỘT SỐ TRƯỜNG TẠI HÀ NỘI
Lê Phương Thúy*, Nguyễn Văn Thiệu*, Lê Phú Vương, Vũ Thu Hà*
ABSTRACT
The explosion of technology has brought multidimensional impacts and changed all aspects of
human life. Not only the numerous conveniences, but the information age also raises notable mental
health problems. One of which is online loneliness. Online loneliness can happen to anyone who uses
the Internet and social networks. In this study, we have investigated the level of online loneliness of
Hanoi high school students. Research results have been formed through the data collecting and processing using the statistical software SPSS version 25.0.
Keywords: Loneliness, Online loneliness, Internet, Mental health, Social network.
Received: 7/11/2021; Accepted: 21/11/2021; Published: 12/12/2021
1. Đặt vấn đề
Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã mở ra
một kỷ nguyên phát triển mới. Dưới sự bùng nổ
như vũ bão của mạng Internet và sự phát triển
vượt bậc của công nghệ thông tin, mọi lĩnh vực,
ngành nghề, mọi khía cạnh đời sống đều thay
đổi từng ngày, từng giờ. Thời đại số đã giúp kết
nối con người ở khắp nơi trên thế giới thông qua
những trang mạng xã hội như Facebook, Twitter,
Instagram, Snapchat, YouTube và rất nhiều các
trang mạng xã hội khác. Trên toàn cầu, số lượng
người sử dụng mạng xã hội liên tục tăng dần sau
mỗi năm. Theo số liệu thống kê mới nhất, trong
12 tháng (từ tháng 7/2020 đến tháng 7/2021) đã
có 520 triệu người dùng mới. Con số này tương
đương với mức tăng trưởng của hơn 1,4 triệu
người dùng mới mỗi ngày trên mạng xã hội. Cho
đến tháng 7 năm 2021, số người đang sử dụng các
trang mạng xã hội là 4,48 tỷ người, chiếm 56,8%
tổng dân số thế giới (Datareportal, 2021). Những
con số này vẫn tiếp tục tăng trưởng không ngừng.
Quả thực, thế giới trực tuyến mang đến cho con
người vơ vàn tiện ích: kho thơng tin khổng lồ,
các loại hình giải trí đa dạng, phong phú, phương
* Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội
thức kết nối linh hoạt…
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Khái quát về cô dơn trực tuyến
Sự cô đơn của con người đã được nghiên
cứu và đề cập trong nhiều đề tài khác nhau trên
thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo Sullivan
(1953), cô đơn là một trải nghiệm không thoải
mái và mãnh liệt có liên quan đến những nhu cầu
thân mật không được đáp ứng. Weiss (1973) cho
rằng, cô đơn là một cảm xúc hoặc kinh nghiệm
tâm lý chủ quan xảy ra khi một cá nhân thấy
thiếu hài lòng với các mối quan hệ và có khoảng
trống giữa mong muốn của họ với mức độ gắn
kết thực tế. Bên cạnh đó, cơ đơn cịn được định
nghĩa là một trải nghiệm chủ quan về nỗi đau khổ
xảy ra khi các mối quan hệ xã hội của một người
được cho là kém hơn mong muốn (Hawkley &
Cacioppo, 2010). Như vậy, có thể thấy rằng, mặc
dù cơ đơn được nhìn nhận, định nghĩa dưới nhiều
quan điểm khác nhau nhưng vẫn có nội hàm
giống nhau. Tương tự, “Trực tuyến” được dùng
để mô tả các hoạt động được thực hiện và dữ liệu
có sẵn trên Internet” (Dictionary of British and
World English, 2015). Từ điển Collin nhận định
trực tuyến là những gì có liên quan đến Internet
TẠP CHÍ QUẢN LÝ VÀ CƠNG NGHỆ - Số 19 Q 4/2021
69
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
hay những hoạt động diễn ra khi kết nối mạng.
Nhìn chung, thơng qua những nhận định về cơ
đơn và trực tuyến, nhóm nghiên cứu đưa ra định
nghĩa cô đơn trực tuyến là: trải nghiệm cảm xúc
chủ quan, xảy ra khi cá nhân không thỏa mãn với
sự kết nối các mối quan hệ trên mạng Internet.
Như vậy, cô đơn trực tuyến có thể xảy ra với
bất cứ ai đang sử dụng mạng xã hội, ở bất kỳ độ
tuổi nào. Học sinh Trung học phổ thơng (THPT)
cũng thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ đối mặt
với cơ đơn trực tuyến. Với học sinh THPT, việc
truy cập internet và sử dụng mạng xã hội ngày
càng trở nên phổ biến. Đây là lứa tuổi có sự
chuyển đổi vai trị và vị thế xã hội so với các
lứa tuổi trước đó. Bên cạnh hoạt động chủ đạo
là học tập và định hướng nghề nghiệp, sự phát
triển mạnh mẽ của lý tưởng sống và tính tích cực
xã hội thì nhu cầu giao tiếp, kết bạn cũng là một
điểm nổi bật. (Dương Thị Diệu Hoa, 2008). Do
đó, mạng xã hội giống như một phần cuộc sống
thường ngày của học sinh THPT. Khảo sát này
được thực hiện nhằm tìm hiểu về mức độ cơ đơn
trực tuyến của học sinh THPT tại một số trường
trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong khảo sát này, chúng tôi sử dụng phương
pháp nghiên cứu định lượng, thông qua bảng hỏi
trực tuyến (Google form) để giải quyết mục tiêu
đề ra. Bảng hỏi có tham khảo và sử dụng thang
đo cô đơn UCLA III (University of California
Los Angeles Loneliness Scale) để đánh giá mức
độ cô đơn trực tuyến của đối tượng nghiên cứu.
Thang đo đã được thử nghiệm và sử dụng rộng
rãi trên thế giới từ rất nhiều năm trước. Bên cạnh
đó, phương pháp chọn mẫu thuận tiện đã được
sử dụng trong quá trình thu thập dữ liệu. Dữ liệu
nghiên cứu là kết quả khảo sát trên đối tượng học
sinh của một số trường THPT trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Đây là một khảo sát mô tả cắt ngang,
thực hiện trong quý IV năm 2021. Số liệu thu
thập được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS
version 25.0. Thang đo lường được kiểm tra độ
tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha.
2.3. Kết quả nghiên cứu
Kết quả khảo sát của nghiên cứu bao gồm:
70
một số thông tin về khách thể khảo sát, thói quen
sử dụng mạng xã hội, mức độ cô đơn trực tuyến
chung và trên các nhóm đối tượng khác nhau.
3.1. Khái quát về khách thể khảo sát
Bảng 2.1: Thông tin nhân khẩu học của khách
thể khảo sát (n=344)
Đặc điểm
Giới tính
Khối lớp
Học lực
Số
lượng
Tỷ lệ (%)
Nữ
254
73,9
Nam
90
26,1
Lớp 10
151
43,9
Lớp 11
73
21,2
Lớp 12
120
34,9
Trung Bình
1
0,29
Khá
49
14,24
Giỏi
294
85,47
Một vài thơng tin nhân khẩu học cơ bản của
mẫu khảo sát được mô tả ở bảng 2.1. Trên tổng
số 344 khách thể, có 254 HS nữ (73,9%) và 90
HS nam (26,1%). Trong đó, bao gồm HS cả ba
khối lớp: lớp 10 (43.9%), lớp 11 (21,2 %) và lớp
12 (34,9%). Phần lớn HS trong mẫu khảo sát có
học lực giỏi (85,47%), còn lại là HS học lực khá
(14,24%), chỉ có duy nhất 1 HS có học lực trung
bình (0,29%). Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên
đối tượng HS của một số trường THPT tại thành
phố Hà Nội như: THPT Yên Hòa, THPT chuyên
Ngoại ngữ, THPT chuyên Khoa học Tự nhiên,
THPT Lê Quý Đôn, THPT Cầu Giấy, THPT
Xuân Đỉnh...
3.2. Thói quen sử dụng mạng xã hội
Biểu đồ 1: Thời gian sử dụng mạng xã hội
(n=344)
Biểu đồ 1 thể hiện thời gian HS THPT sử dụng
TẠP CHÍ QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ - Số 19 Quý 4/2021
KHOA HỌC CƠNG NGHỆ
mạng xã hội trung bình trong một ngày. Kết quả
nghiên cứu trên tổng số 344 khách thể khảo sát
cho thấy số lượng HS THPT sử dụng mạng xã
hội trung bình trên 5 tiếng chiếm tỉ lệ cao nhất
(34,89%). Điều này cho thấy việc truy cập và sử
dụng mạng xã hội là hoạt động phổ biến hàng
ngày của HS trên mẫu khách thể. Bên cạnh đó,
số lượng HS THPT sử dụng mạng xã hội từ 3-5
tiếng một ngày cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao
(31,69%), cao hơn số lượng HS sử dụng mạng xã
hội từ 1-3 tiếng mỗi ngày (29,65%). Số lượng HS
sử dụng mạng xã hội dưới 1 tiếng/ngày chiếm tỉ
lệ thấp nhất, với chỉ 3,8%.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, những trang
mạng xã hội được HS THPT trên mẫu khách
thể sử dụng khá đa dạng. Trong đó, Facebook
là mạng xã hội phổ biến nhất, có số lượng HS
THPT sử dụng chiếm tới 98,8% tổng mẫu nghiên
cứu. Đây cũng là một điều dễ hiểu, bởi những
tính năng ấn tượng và những tiện ích mà mạng xã
hội này mạng lại, Facebook hiện đang là mạng xã
hội lớn nhất thế giới. Các trang YouTube (98%),
Zalo (95,9%) và Instagram cũng có lượng lớn HS
THPT sử dụng với tỷ lệ lần lượt là 98%; 95,9%
và 85,8%. Mặt khác, mạng xã hội Tiktok mới nổi
trong một vài năm trở lại đây cũng có khá nhiều
HS THPT trên mẫu khách thể sử dụng, chiếm
tỷ lệ 72,4%. Có số lượng người dùng thấp hơn
hẳn các mạng xã hội khác là Twitter (37,5%) và
Snapchat (15,4%). Mặt khác, một vài HS THPT
trên mẫu khách thể có sử dụng nhữngnền tảng
mạng xã hội khác như Tumblr, Spotify, Weibo,
Gapo, hay Reddit...
2.4. Mức độ cô đơn trực tuyến của HS THPT
Từ bảng số liệu gốc với 18 câu hỏi, sau khi tiến
hành khảo sát và thu thập số liệu, kết quả phân
tích cho thấy có 01 item xấu (có tương quan biến
tổng thấp hơn 0.3). Sau khi loại bỏ item xấu này
thang đo cịn 17 item có độ tin cậy tăng từ 0,847
lên 0,852. Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn
Mộng Ngọc (2008), mức giá trị hệ số Cronbach’s
Alpha từ 0,8 đến gần bằng 1 được đánh giá là
thang đo lường rất tốt. Do đó, thang đo được sử
dụng trong khảo sát này là phù hợp để đo mức độ
cơ đơn trực tuyến của HS THPT.
Nhóm nghiên cứu sử dụng cách đánh giá phân
theo nhóm điểm (dựa trên điểm trung bình (ĐTB)
và độ lệch chuẩn (ĐLC) để đánh giá mức độ cô
đơn trực tuyến của HS trên mẫu khảo sát. Có 3
mức độ được đưa ra dựa trên 3 nhóm điểm khác
nhau: Thấp - Trung Bình - Cao. Trong đó:
Mức Thấp < (ĐTB – 1 ĐLC)
Mức Trung bình: > (ĐTB - 1 ĐLC) và < (ĐTB
+ 1 ĐLC)
Mức Cao > (ĐTB + 1 ĐLC)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, điểm cơ đơn
trung bình của 344 HS là 33,67 với độ lệch chuẩn
là 8,303. Do đó, điểm trung bình cho 1 item là
1,98, với độ lệch chuẩn là 0,49.
Biểu đồ 2: Phân bố điểm trên thang đo cô đơn
trực tuyến
Trong q trình phân tích số liệu, một số item
trong thang đo đã được mã hóa lại cho phù hợp.
Qua phân tích, nhóm nghiên cứu nhận thấy một
số item có điểm số cao như:
Q4.15. “Tơi cảm thấy mình là người nhút nhát
trên mạng xã hội” có điểm trung bình là 2.36.
Q4.6. “Tơi khơng thể chia sẻ sở thích và ý
tưởng của mình với những người trên mạng xã
hội” có điểm trung bình là 2,21.
Q4.2. “Tơi cảm thấy lạc lõng trên mạng xã
hội” có điểm trung bình là 2,19.
Q4.14 “Ln có những người bạn trên mạng
xã hội thực sự hiểu tôi” đã được mã hóa thành
Q4.14R đạt điểm trung bình là 2.35; “Khơng có
nhiều bạn trên mạng xã hội thực sự hiểu tơi”.
TẠP CHÍ QUẢN LÝ VÀ CƠNG NGHỆ - Số 19 Quý 4/2021
71
KHOA HỌC CƠNG NGHỆ
Như vậy, có thể thấy mặc dù sử dụng mạng xã
hội với tần suất lớn (biểu đồ 1) nhưng HS THPT
trên mẫu khách thể nghiên cứu vẫn cảm thấy lạc
lõng và không nhận được sự thấu hiểu từ những
người bạn trên mạng xã hội. HS vẫn cảm thấy
cô đơn trong các mối quan hệ trên mạng xã hội.
Theo 3 mức đánh giá mức độ cô đơn trực tuyến
của HS THPT trên mẫu khảo sát, nhóm nghiên
cứu nhận định rằng:
Mức thấp: 54 HS (15,7%)
Mức trung bình: 233 HS (67,7%)
- Mức cao: 57 HS chiếm (16,6%)
3.5. Sự khác biệt về mức độ cơ đơn trực tuyến
giữa các nhóm khách thể
Nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh sự khác
biệt về mức độ cơ đơn trực tuyến giữa nhóm HS
nam và HS nữ; giữa HS thuộc ba khối lớp khác
nhau (lớp 10, lớp 11, lớp 12); và giữa các nhóm
HS có lực học khác nhau. Kết quả được thể hiện
lần lượt trong bảng 2.2. bảng 2.3 và bảng 2.4
dưới đây.
Bảng 2: Kiểm định T-test về sự khác biệt mức
độ cô đơn trực tuyến theo giới tính
Nam
Nữ
Số lượng
Điểm TB
ĐLC
90
254
33,70
33,65
8,58
8,22
Levene’s Test for Equality Sig.
(2-tailed)
Phương sai of Variances
đồng nhất
F
Sig.
0,964
0,358
0,550
Kết quả bảng 2.2 cho thấy, mức độ cô đơn của
HS nam (ĐTB = 33,70; ĐLC = 8,58) và HS nữ
(ĐTB = 33,65; ĐLC = 8,22). Kiểm định Levene
cho thấy giá trị giá trị kiểm định (sig) = 0,550 >
0,05. Như vậy, phương sai các nhóm giá trị là
đồng nhất. Tiếp tục phân tích, mức ý nghĩa sig
= .964 > 0.05. Do đó, ta kết luận khơng có sự
khác biệt về độ cơ đơn trực tuyến theo giới tính.
Những tác động, ảnh hưởng của mạng xã hội đến
HS nam và HS nữ là như nhau.
Bảng 2.3: Kiểm định ANOVA về sự khác biệt
mức độ cô đơn theo khối lớp
Lớp 10
72
Số lượng
Điểm TB
ĐLC
151
33,3576
8,21165
Lớp 11
Lớp 12
73
120
34,2329
33,7083
7,91714
8,68728
Levene’s Test for Equality of Sig.
P h ư ơ n g Variances
(2-tailed)
sai đồng
F
Sig.
nhất
0,760
1,187
0,306
Qua kiểm định One-way Anova cho thấy, giá trị
sig của kiểm định Levene = 0.306 > 0.05, nên
phương sai các nhóm giá trị là đồng nhất. Kết quả
phân tích Anova với giá trị sig của kiểm định F là
0,76 > 0,05. Như vậy, khơng có sự khác biệt về
mức độ cơ đơn trực tuyến giữa các khối lớp.
Bảng 2.4: Kiểm định T-test về sự khác biệt
mức độ cô đơn giữa học lực khá và giỏi
Khá
Giỏi
Số lượng
Điểm TB
ĐLC
49
294
33,6735
33,6429
8,60084
8,27338
Levene’s Test for Equality Sig.
(2-tailed)
Phương sai of Variances
đồng nhất
F
Sig.
0,981
0,011
0,917
Nhóm nghiên cứu sử dụng kiểm định T-test
cho hai nhóm HS khá và giỏi. (do chỉ có 1 HS có
học lực trung bình nên khơng thực hiện so sánh
nhóm học lực này). Kết quả bảng 2.4 về kiểm,định
T-test cho thấy, giá trị sig của kiểm định Levene
là 0,917 > 0,05, do đó, phương sai của các nhóm
giá trị là đồng nhất. Giá trị sig (2-tailed) của kiểm
định T-test là 0.981 > 0.05, cho thấy khơng có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ cơ
đơn trực tuyến giữa hai nhóm HS THPT có học
lực khác nhau. Nói cách khác, mức độ cơ đơn
trực tuyến giữa nhóm HS giỏi và nhóm HS khá là
khơng có sự khác biệt.
3. Kết luận
Có thể thấy, thế giới số với những hình thức
tương tác đa dạng trở nên thật hấp dẫn với con
người. Đặc biệt là với những người trẻ, những
người ln khao khát khám phá, tìm kiếm và
làm chủ thông tin. Với HS THPT trên mẫu khảo
sát, HS sử dụng các trang mạng xã hội khá đa
dạng (Facebook, Instagram, YouTube, Tiktok,
Zalo…), với tần suất cao (phần lớn sử dụng thời
gian trung bình trên 3 tiếng/ngày) và sử dụng vì
TẠP CHÍ QUẢN LÝ VÀ CƠNG NGHỆ - Số 19 Q 4/2021
KHOA HỌC CƠNG NGHỆ
nhiều mục đích khác nhau. Sử dụng mạng xã hội
trở thành một thói quen trong cuộc sống hàng
ngày của HS. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng, phần
lớn HS trên mẫu khách có mức độ cơ đơn trực
tuyến ở mức trung bình. Ngồi ra, khơng có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ cơ đơn
trực tuyến giữa các nhóm HS có đặc điểm khác
nhau về giới tính, khối lớp hay học lực. Như vậy,
cơ đơn trực tuyến ảnh hưởng đến tất cả các HS
THPT trên mẫu khảo sát dù là HS nam, nữ; dù
đang học khối lớp nào hay có học lực như thế
nào. Điều này đặt ra bài toán cho những nhà quản
lý giáo dục, nhà trường và các bậc phụ huynh cần
có những tác động phù hợp để định hướng các em
sử dụng mạng Internet nói chung và mạng xã hội
nói riêng một cách phù hợp và lạnh mạnh, giúp
HS cải thiện chất lượng mối quan hệ ở cả đời
sống thực và ảo, từ đó nhận ra được những giá trị
tốt đẹp của cuộc sống.
Tài liệu tham khảo
1. Collins Dictionary Online, https://www.
collinsdictionary.com/dictionary/english/online
2. Datareportal, />global-digital-overview
3. Dictionary of British and World English
(2015), Oxford University Press
4. Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên) (2012),
Tâm lí học phát triển, NXB Đại học Sư phạm
Hà Nội.
PHƯƠNG PHÁP LẶP KHỐI TRUNG BÌNH... (tiếp theo trang 64)
{
}
ma
trận A và D diag
=
=
1/ acl l 1,2,..., n .
1
Thay thế Dt(k) bởi D trong (32) ta được
(
)
x k +1 =
x k + λk DAtT( k )Mt ( k ) b ( ) − At ( k ) x k (33)
t k
Phương pháp sử dụng bước lặp (33) được gọi
là khối đơn giản SART (BSSART). Đặt
yk = D
−1
2
1
x k và A t (k) = A t (k)D 2
(34)
Thay vào (34) ta được
y
k +1
(
(
=
y k + λk AtT( k )Mt ( k ) b ( ) − At ( k ) y k
Với
Thì
)
t k
)
(35)
Wt ( ) = D1/2 AtT( k )Mt ( k ) At ( k )D1/2
k
(
)
ρ Wt ( k ) =ρ AtT( k )Mt ( k ) At ( k )D ≤ AtT( k )Mt ( k )
1
At ( k )D =1 (36)
1
Áp dụng định lý 2.2 thì {y k } hội tụ đến y∗,
k ≥0
với y∗ là nghiệm của hệ AD1/2 y ∗ = b . Từ (36) ta
có
1/2 *
lim
=
x k D=
y
x * (37)
k →∞
Do đó Ax b . Tiếp theo, ta xét thuật tốn
BSSART với bất phương trình tuyến tính. Tương
tự, bước lặp thu được là
(
x k +1 =
x k + λk DAtT( k )Mtk( k ) b ( ) − At ( k ) x k
t k
)
(38)
3. Kết luận
Nghiên cứu trình bày một cách có hệ thống
phương pháp trung bình thành phần để giải hệ
phương trình tuyến tính thưa, kích thước lớn bằng
phương pháp lặp khối và đưa ra được các vấn đề
sau: Trình bày phương pháp lặp khối trung bình
thành phần dựa trên phương pháp trung bình thành
phần cho đẳng thức và bất đẳng thức tuyến tính;
Trình bày kết quả hội tụ, đồng thời đưa vào một số
áp dụng của phương pháp lặp khối trung bình từng
thành phần trong trường hợp hệ tương thích, hệ
khơng tương thích và một số trường hợp đặc biệt
của phương pháp lặp khối trung bình thành phần.
Tài liệu tham khảo
1. H.H.Bauschke, J.M.Borwein.(1996), On
projection algorithms for solving convex feasibility problems, SIAM 367-426.
2. Y.Censor, D.Gordon, R.Gordon.(2001),
An efficient iterative parallel algorithm for
large sparse unstructured problems, Parallel
Computing 777-808
3. J.W.Demmel.(1997),Applicaied numerical
linear algebra, SIAM, Philadelphia, PA.
4. E.John.(2005), Handbook of parallel
computing and statistics, 199 - 220.
TẠP CHÍ QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ - Số 19 Quý 4/2021
73