Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của ngành công thương về kiến thức cải cách hành chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (260.79 KB, 6 trang )

QUẢN LÝ - KINH TẾ

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA NGÀNH CƠNG THƯƠNG VỀ KIẾN THỨC
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Ths. Nguyễn Thị Minh Hoà
Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ Cơng Thương Trung ương
Email:
Ngày tịa soạn nhận được bài báo:09/03/2021
Ngày phản biện đánh giá: 19/03/2021
Ngày bài báo được duyệt đăng: 26/03/2021
Tóm tắt
Để đảm bảo sự phát triển, nhiều quốc gia đã xem cải cách hành chính (CCHC) là một
yêu cầu tất yếu, một mũi đột phá nhằm thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh
của nền kinh tế, đẩy mạnh dân chủ và góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người
dân. Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư bùng nổ, đang diễn ra sau sắc ở
nhiều nước phát triển và diễn ra với tốc độ nhanh ở các nước đang phát triển như hiện
nay, đặt ra những thách thức mới trước khả năng phá vỡ cấu trúc ngành và thị trường,
cùng sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị tồn cầu. Việt Nam
khơng thể nằm ngồi xu thế đó, chính phủ đã tập trung ưu tiên đầu tư để tiến tới nền kinh
tế số, nâng cao năng lực số và kỹ năng số cho lực lượng lao động, triển khai Chính phủ
số và dữ liệu mở khuyến khích ứng dụng lớn trong thống kê kinh tế nhằm nâng cao năng
lực cảnh báo sớm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mơ. Ngành Cơng Thương nói riêng và Việt
Nam nói chung đã phát triển ứng dụng cơng nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực nhưng ưu
tiên ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công trong
các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, giao thơng, nơng nghiệp…
Từ khố: Cải cách hành chính, chính phủ điện tử, kinh tế số, ứng dụng nghệ thơng tin
trong quản lý hành chính,…
Summary:
Enhancing development, many countries have considered administrative reform
(PAR) as an indispensable requirement, a breakthrough to promote growth, improve the


TẠP CHÍ KHOA HỌC 69
QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ


competitiveness of the economy, and promote democracy and contribute to improving
the quality citizens’ life. In the explosive fourth industrial revolution, which is taking place
in many developed countries and rapidly taking in developing countries in the present,
with new challenges in the face of potential disruption industry and market structure,
and the transformation of the entire global production, management and governance
system Vietnam cannot stay out of that trend, the government has focused on prioritizing
investment to move towards the digital economy, improving digital capacity and digital
skills for the workforce, implementing Digital Government and data. Open and encourage
large application in economic statistics to improve early warning capacity to ensure
macroeconomic stability. The Industry and Trade industry in particular and Vietnam in
general have developed information technology applications in all fields, but prioritizing
the application of information technology in administrative management, providing public
services in the economic fields, education, health, transport, agriculture…
Key words: Administrative reform, E-government, digital economy, application of
information technology in administrative management,..
1. Đặt vấn đề
Trước tình hình và xu hướng hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước,
Đảng ta đã có những đánh giá và nhìn nhận
những yếu kém để đề ra phương hướng: Văn
kiện trình Đại hội XII của Đảng đã đánh giá:
“Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các
thiết chế cơ bản trong bộ máy pháp quyền xã
hội chủ nghĩa như Quốc hội, Chủ tịch nước,
Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm
chưa thật sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả; chưa

khắc phục được sự chồng chéo, vướng mắc
về chức năng, nhiệm vụ giữa các thiết chế; hệ
thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng
bộ; kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước,
thực thi cơng vụ cịn nhiều yếu kém; tham
nhũng, lãng phí vẫn cịn nghiêm trọng”.
Bên cạnh đó, thế giới đang trải qua những
thay đổi lớn nhất của ngành cơng nghiệp trong
hơn 100 năm qua, chính vì thế, Sản Xuất trở
thành một chủ đề nóng hổi được nhiều sự
quan tâm.
Giáo sư Klaus Schwab, tác giả cuốn sách
The Fourth Industrial Revolution (Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư) đã nêu rõ, chúng
ta đang ở giai đoạn giữa của Cuộc cách mạng
cơng nghiệp lần thứ Tư. Như một tiến trình tất
70 TẠP CHÍ KHOA HỌC

QUẢN LÝ VÀ CƠNG NGHỆ

yếu, Cuộc cách mạng công nghiệp mà chúng
ta đang trải qua - Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ Tư, được thúc đẩy bởi các tiến
bộ bao gồm sản xuất thông minh, robot, trí tuệ
nhân tạo và Internet of Things (IoT).
Đồng thời, xu hướng số hóa nền kinh tế
và các hoạt động xã hội, là nền tảng cho phép
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư bùng
nổ, đang diễn tiến sâu sắc ở nhiều nước phát
triển và diễn ra với tốc độ nhanh ở các nước

đang phát triển.
Điều này đặt ra những thách thức mới
trước khả năng phá vỡ cấu trúc ngành và thị
trường, cùng sự chuyển đổi của toàn bộ hệ
thống sản xuất, quản lý và quản trị tồn cầu.
Việt Nam khơng thể nằm ngồi xu thế đó,
nhưng sự chuẩn bị cịn thiếu đầy đủ. Chính
phủ cần tập trung ưu tiên đầu tư để tiến tới
tương lai nền kinh tế số, trong đó, tập trung
vào phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới công
nghệ thông tin và năng lượng, phát triển hơn
nữa năng lực an ninh mạng và quản trị dữ liệu
vững mạnh, nâng cao năng lực số và kỹ năng
số cho lực lượng lao động, triển khai Chính
phủ số và dữ liệu mở, khuyến khích ứng dụng
lớn trong thống kê kinh tế nhằm nâng cao
năng lực cảnh báo sớm bảo đảm ổn định kinh


tế vĩ mô.
Từ những năm 2000, Đảng, Nhà nước ta
luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan Nhà nước, xác định đây là động lực góp
phần thúc đẩy cơng cuộc đổi mới tạo khả năng
đi tắt, đón đầu để thực hiện thắng lợi cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngày 08/11/2011,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/
NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 2020, theo đó xác định mục tiêu của Chương

trình: xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất,
huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn
lực cho phát triển đất nước; Tạo môi trường
kinh doanh bình đẳng, thơng thống, thuận
lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về
thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân
thủ thủ tục hành chính; Xây dựng hệ thống
các cơ quan hành chính nhà nước từ trung
ương tới cơ sở thơng suốt, trong sạch, vững
mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính
dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều
hành của Chính phủ và của các cơ quan hành
chính nhà nước; Bảo đảm thực hiện trên thực
tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền
con người, gắn quyền con người với quyền
và lợi ích của dân tộc, của đất nước; Xây
dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức
có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp
ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát
triển của đất nước; Trọng tâm cải cách hành
chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách
thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng
cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động
lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức
thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả
cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính

và chất lượng dịch vụ cơng.
Năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị

quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng,
phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững và hội nhập quốc tế với
quan điểm “Ứng dụng, phát triển công nghệ
thông tin trong tất cả các lĩnh vực, song có
trọng tâm, trọng điểm. Ưu tiên ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý hành chính, cung
cấp dịch vụ cơng, trước hết là trong lĩnh vực
liên quan tới doanh nghiệp, người dân như
giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp…”.
Thể hiện quyết tâm xây dựng Chính phủ
điện tử, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo việc
thành lập Ủy ban quốc gia về Chính phủ điện
tử trên cơ sở kiện tồn Ủy ban quốc gia về
ứng dụng công nghệ thông tin do Thủ tướng
Chính phủ là Chủ tịch Ủy ban. Ủy ban có các
thành viên là Bộ trưởng các bộ liên quan trực
tiếp tới các nhiệm vụ trong xây dựng Chính
phủ điện tử để gắn kết xuyên suốt các bộ,
ngành, địa phương trong thực hiện nhiệm
vụ. Đồng thời Ủy ban có sự tham gia của đại
diện cho khu vực tư nhân giúp phát huy hiệu
quả hợp tác công - tư trong triển khai thực
hiện nhiệm vụ này. Các nhiệm vụ triển khai
Chính phủ điện tử sẽ được đánh giá gắn liền
với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu từng
bộ, ngành, địa phương và được đo lường qua

bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, đo lường chất
lượng kết quả xây dựng Chính phủ điện tử để
bảo đảm tính chính xác và cơng bằng thơng
qua Tổ công tác giúp việc của Ủy ban.
Đối với Bộ Công Thương, trong những
năm qua, Lãnh đạo Bộ cùng cán bộ cơng
chức, viên chức tồn ngành đã tích cực triển
khai các nội dung về cải cách thủ tục hành
chính liên quan đến ngành. Những nhận thức
chung của lãnh đạo Bộ Công Thương, công
chức, viên chức được khẳng định rõ nét qua
Nghị định 98/NĐ-CP năm 2017 của Chính
phủ, chương trình cải cách hành chính được
cụ thể hóa bằng Quyết định 4846 cắt giảm
1/3 thủ tục hành chính, đồng thời xã hội hóa
dịch vụ hành chính cơng, rà sốt các nội dung
liên quan đến các điều kiện kinh doanh theo
TẠP CHÍ KHOA HỌC 71
QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ


hướng tiếp tục tạo mơi trường thơng thống
cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước, chuyển từ
tiền kiểm sang hậu kiểm. Quá trình tái cơ cấu
bộ máy Bộ Công Thương thời gian qua giảm
từ 35 xuống 30 đơn vị đầu mối, số phòng giảm
từ 175 xuống 105. Đây là cơng việc có khối
lượng rất lớn, vai trò và quyết tâm của người
đứng đầu Bộ máy rất cao cùng sự đồng lòng,

hiểu và phấn đấu của tồn ngành. Vì vậy, rất
cần có sự nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá
khách quan để toàn thể cán bộ, cơng chức,
viên chức tồn ngành phải nắm vững chủ
trương, tinh thần, nắm vững được những nội
dung đã làm được, đánh giá và định hướng
sắp đến của ngành Công Thương, yêu cầu
đặt ra trước tình hình Việt Nam hội nhập ngày
càng sâu rộng để mỗi cá nhân nhận thức vai
trò của mình trong từng vị trí cơng tác, nâng
cao năng lực thực thi cơng vụ đóng góp vào
sự phát triển của ngành.
2.Nội dung nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu ngồi nước
Đã có một số nghiên cứu đánh giá của các
tổ chức quốc tế như UNDP hay Worldbank về
cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi
đầu tư trong nước. Các đánh giá này mang
tính chất độc lập, có tính tham khảo và góp ý
cho việc xây dựng chính sách của Việt Nam
thơng qua các cuộc hội thảo được tổ chức
trong nước.
Trong việc nghiên cứu những vấn đề về
CCHC và cải cách TTHC cần phải kể đến cuốn
sách của hai tác giả: S. Chiavo ¬ Campo và
P.S.A. Sundaram thuộc Ngân hàng phát triển
châu Á “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành
chính cơng trong một thế giới cạnh tranh”
(Nxb Chính trị quốc gia, 2003). Ở đây, khi đề
cập đến tính hiệu quả kinh tế của cải cách

TTHC các tác giả cho rằng: “Về mặt tổng thể,
quy trình sẽ trở nên vơ nghĩa nếu khơng tính
đến hiệu quả, nhưng ngược lại, nếu q tập
trung vào kết quả mà khơng quan tâm đến
72 TẠP CHÍ KHOA HỌC

QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ

việc bảo vệ các quy định cơng bằng và quy
trình đúng đắn thì cũng khơng thể có những
cải thiện bền vững được”. Đây là một trong
những quan điểm cảnh báo rất sâu sắc về
quan hệ giữa tính hiệu quả và sự cơng bằng
với tính đúng đắn của pháp luật. Sự thiên lệch
cái này có thể sẽ làm hỏng cái kia. S. Chiavo
¬ Campo và P.S.A. Sundaram cũng cho rằng:
“Bên cạnh số lượng quá dư thừa các quy định
ở các nước đang phát triển là tình trạng bừa
bãi và mâu thuẫn của các văn bản. Nhiều văn
bản có các quy định bỏ ngỏ và mơ hồ đã buộc
công dân phải tuân theo ý muốn chủ quan của
các viên chức nhỏ nhen”.
Nghiên cứu của TS. Thaveepom
Vasavakul, Chuyên gia tư vấn quốc tế: “Hành
chính cơng và Phát triển kinh tế ở Việt Nam,
Tái thiết nền hành chính cơng cho thế kỷ 21”
nằm trong loạt bài nghiên cứu chính sách về
cải cách hành chính và phịng chống tham
nhũng (Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc tại Việt Nam) đã có sự đánh giá quá

trình cải cách của Việt Nam, việc tiếp nhận
và thực hiện cải cách từ những kinh nghiệm
quốc tế. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất
một số nội dung cần thực hiện, xem xét trong
quá trình hoạch định chính sách và cải cách
hành chính ở Việt Nam như: thiết kế các tiểu
chương trình gắn CCHC với phát triển kinh tế;
đưa yếu tố phục vụ vào sứ mệnh tổ chức của
hành chính cơng; thành lập các nhóm cơng
tác chính sách; xây dựng hệ thống các chỉ số
đánh giá; tăng cường nghiên cứu hành động
về CCHC; tiến hành các điều tra lĩnh vực cơng
thường kỳ.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nhà nghiên cứu đã từng làm rõ về
nguyên tắc chung trong việc tổ chức và họat
động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành
chính nhà nước và đã đưa ra những mục
tiêu, nội dung cải cách, các quan điểm, định
hướng cải cách bộ máy nói chung và bộ máy
hành chính nhà nước nói riêng, đáp ứng yêu


cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia. Các cơng trình nghiên cứu ở Việt Nam
liên quan tới cải cách bộ máy hành chính nhà
nước từ năm 2000 đến nay thể hiện như sau:
Trước hết có thể nhắc đến cuốn sách của
PGS.TSKH. Nguyễn Văn Thâm và PGS.TS
Võ Kim Sơn (2001) Thủ tục hành chính: lý

luận và thực tiễn do NXB Chính trị quốc gia
ấn hành. Trên cơ sở cuốn sách này, 2 tác giả
đã biên soạn cuốn Giáo trình Thủ tục hành
chính được Nxb Giáo dục in nhiều lần. Đây
có thể nói là 2 cuốn sách giáo khoa đầu tiên
ở nước ta trình bày tương đối đầy đủ và riêng
về TTHC. PGS.TSKH. Nguyễn Văn Thâm cịn
có các bài chuyên khảo: “Cải cách thủ tục
hành chính và trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước trong quan hệ với nhân dân” ¬ đăng
trong Tạp chí Xây dựng lực lượng Cơng an
nhân dân, số 11-1996; “Thủ tục hành chính
“một cửa”… cái được và cái chưa được” đăng
trong Tạp chí Xây dựng lực lượng Cơng an
nhân dân, số Xn 2 ¬1997; “Một số vấn đề
hiện nay của việc thực hiện thủ tục hành chính
theo cơ chế “một cửa liên thơng” ¬ đăng trong
Tạp chí Quản lý nhà nước tháng 11¬2010;
“Cần hiểu đúng về thủ tục hành chính” ¬
đăng trong cuốn “Một số vấn đề về Văn bản
quản lý nhà nước, lưu trữ ¬ lịch sử và quản lý
hành chính” (NXB Chính trị ¬ Hành chính, Hà
Nội 2011) v.v... Có thể nói GS.TSKH.NGND.
Nguyễn Văn Thâm là người có nhiều chun
khảo, cơng trình nghiên cứu về TTHC, đã làm
rõ khái niệm, nội hàm, bản chất TTHC và thực
hiện TTHC, cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thơng”
1. Cơng trình nghiên cứu của tác giả Lê Sĩ
Dược (2000): “Cải cách bộ máy hành chính

cấp Trung ương trong công cuộc đổi mới hiện
nay ở nước ta”. Cơng trình nghiên cứu chia
thành 3 phần:
Thứ nhất, làm rõ về bộ máy hành chính
cấp trung ương trong cơ cấu nhà nước, trong
đó quan niệm về quyền hành pháp trong hệ

thống quyền lực nhà nước, nghiên cứu đối
tượng chính phủ – chủ thể cơ bản thực hiện
quyền hành pháp, tiếp theo tập trung làm rõ
các thành phần quan trọng trong cơ cấu tổ
chức của Chính phủ, đặc biệt là Bộ.
Thứ hai, Nêu thực trạng tổ chức và hoạt
động của bộ máy hành chính cấp Trung ương
ở Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1945 đến
1992; từ đó nêu lên thực trạng tổ chức và
hoạt động của bộ máy hành chính cấp Trung
ương Việt Nam hiện nay, trong đó có sự phân
tích những mặc thành cơng và những hạn chế
nhất định trong cải cách bộ máy hành chính
Trung ương ở Việt Nam.
Phần thứ ba, tác giả đưa ra phương
hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ
máy hành chính cấp Trung ương ở nước ta
hiện nay, trong đó làm rõ sự cần thiết phải đổi
mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành
chính; đưa ra những quan điểm và một số
kiến nghị đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ
máy hành chính cấp trung ương. Cơng trình
nghiên cứu này có đảm bảo tính lịch sử và lơ

gíc có ý nghĩa rất lớn trong q trình cải cách
bộ máy hành chính Trung ương. Tuy nhiên
cơng trình này khơng chỉ nghiên cứu riêng đối
với bộ máy hành chính trung ương mà có nội
dung tiếp cận cả hệ thống của bộ máy nhà
nước, cho nên chưa thể hiện đầy đủ và sâu
sắc khi tham khảo trong khi tiến hành cải cách
bộ máy hành chính nhà nước.
2. Đặng Xuân Phương (2011): “Hoàn thiện
tổ chức và hoạt động của Bộ, cơ quan ngang
bộ trong q trình cải cách hành chính ở Việt
Nam”. Cơng trình đã tập trung nghiên cứu các
nội dung quan trọng trong cải cách bộ máy
hành chính nhà nước Trung ương. Cuốn sách
đã nghiên cứu cơ sở lý luận về khái niệm, tính
chất, vai trị, chức năng nhiệm vụ của bộ, cơ
quan ngang bộ, đồng thời đã nêu lên cơ cấu
tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và hình
thức tổ chức hoạt động, cơ chế làm việc của
bộ, cơ quan ngang bộ. Cuốn sách đã nêu
TẠP CHÍ KHOA HỌC 73
QUẢN LÝ VÀ CÔNG NGHỆ


thực tiễn về tổ chức và hoạt động của bộ, cơ
quan ngang bộ, những bất cập, hạn chế về
tổ chức và hoạt động của bộ, cơ quan ngang
bộ ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm cải
cách hành chính của một số nước trên thế
giới, đa đưa ra một số phương hướng và giải

pháp cho việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của Bộ, cơ quan ngang bộ ở Việt Nam trong
cải cách hành chính, một vấn đề quan trọng
của tiến trình đổi mới, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế của đất nước.
3. PGS. TS. Nguyễn Đăng Thành (Chủ
biên), PGS. TS. Lưu Kiếm Thanh, TS. Nguyễn
Hoàng Quy, TS. Nguyễn Thị Thu Vân, Ths.
Dương Dạch Long, Ths. Đoàn Văn Dũng,
trong cuốn sách “Đo lường và đánh giá hiệu
quả quản lý hành chính nhà nước những thành
tựu trên thế giới và ứng dụng ở Việt Nam”, đã
tập trung nghiên cứu sâu và khá rộng vấn đề
lý luận, thực tiễn của việc đánh giá hiệu quả
quản lý hành chính nhà nước và cũng có đề
cập đến TTHC tại các mục“Thực tiễn đánh giá
hiệu quả quản lý hành chính nhà nước trên
thế giới và ở Việt Nam” và việc “Ứng dụng các
thành tựu trên thế giới về đánh giá hiệu quả
quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam”.
Các tác giả của cuốn sách vừa nói đã gợi mở
về việc đánh giá quản lý hành chính nhà nước

thơng qua chỉ số năng lực cạnh tranh (CPI),
đánh giá hiệu quả thông qua chỉ số về cảm
nhận của người dân về quản lý hành chính
(PAPI), đánh giá hiệu quả kinh tế ¬ xã hội theo
phương pháp đánh giá tác động pháp luật
(RIA), và vấn đề cải cách thể chế và thực hiện
hiện đại hóa hành chính

3.Kết luận
Có thể khẳng định rằng, CCHC trong thời
gian qua đã đạt được kết quả toàn diện trên cả
6 nội dung: cải cách thể chế; cải cách thủ tục
hành chính (TTHC); cải cách tổ chức bộ máy
hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên
chức (CBCCVC); cải cách tài chính cơng; hiện
đại hóa hành chính. Thể chế của nền hành
chính được cải cách và dần được hoàn thiện
cơ bản phù hợp với yêu cầu chủ trương quan
trọng của Đảng và cơ chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế.
Đối với ngành Công Thương, việc thực
hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực của ngành về kiến thức cải cách hành
chính cũng là một trong các nội dung và yêu
cầu đề ra để thực hiện thành cơng mục tiêu
cải cách hành chính của ngành.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Tài liệu Bồi dưỡng công chức chuyên trách cải cách hành chính năm 2013 (Vụ Cải cách
hành chính – Bộ Nội vụ).
[2]. Quản lý cơng (Nhà xuất bản chính trị hành chính – Hà Nội 2013).
[3]. Tài liệu bồi dưỡng các chức danh lãnh đạo của tỉnh Bắc Giang (Bộ Nội vụ - UNDP năm
2016).
[4]. Tài liệu bồi dưỡng cơng chức lãnh đạo, quản lý, cải cách hành chính tỉnh Hà Tĩnh (Bộ Nội
vụ - UNDP năm 2016).
[5]. Kỹ năng phối hợp trong hoạt động quản lý hành chính (Học viện Hành chính Quốc gia,

DANIDA-NAPA, Hà Nội, 2006)
[6]. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020.
74 TẠP CHÍ KHOA HỌC

QUẢN LÝ VÀ CƠNG NGHỆ



×