Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa: Luật
TIỂU LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Đề tài số 4: Thực trạng về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Họ tên người viết: Phạm Thúy Hằng;
Mã sinh viên:11201342;
Lớp: KTCT Mác-Lênin(220)_25.
Hà Nội-2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I.
1.
a.
b.
II.
1.
2.
a.
b.
3.
a.
b.
Cơ sở lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế
Khái niệm và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Khái niệm và sự cần thiết khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Thực trạng về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển ở Việt Nam
a. Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế
b. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt
Nam
Phương hướng nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
Một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt
Nam.
TỔNG KẾT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Mở đầu
Mở cửa hội nhập kinh tế có sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của mọi quốc gia,
dân tộc. Nó đã trở thành một xu thế thời đại, diễn ra mạnh mẽ trên nhiều phương
diện với sự xuất hiện của nhiều khối kinh tế, mậu dịch trên thế giới. Các quốc gia
giải quyết những vấn đề toàn cầu, tận dụng được những thành tựu của cách mạng
công nghiệp, biến nó thành động lực của sự phát triển đó là do cơ hội tạo ra từ hội
nhập kinh tế quốc tế.
Với những nước đang và kém phát triển trên thế giới thì hội nhập kinh tế quốc tế là
phương thức phát triển phổ biến. Bởi nó chính là con đường cho các nước đang và
kém phát triển có thể tận dụng được thời cơ phát triển rút ngắn, thu hẹp khoảng cách
với các nước tiên tiến, khắc phục nguy cơ tụt hậu. Và Việt Nam - là một trong những
nước đang phát triển trên thế giới, với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lạc
hậu, bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề phải nhận thức được tầm quan trọng, ảnh
hưởng to lớn tất yếu mà hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cho chúng ta trong quá
trình phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế theo xu thế chung thế giới. Đó khơng chỉ là một mục tiêu, nhiệm vụ
mang tính tức thời mà là vấn đề mang tính sống cịn đối với nền kinh tế Việt Nam
hiện nay cũng như sau này. Bởi nếu như một nước mà đi ngược với xu hướng chung
của thời đại chắc chắn sẽ trở nên lạc hậu và bị cơ lập, sớm hay muộn thì nước đó
cũng sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế.
Vì vậy, việc tìm hiểu và nhận thức về hội nhập kinh tế rất quan trọng, hết sức cần
thiết đối với sự phát triển của Việt Nam chúng ta, góp phần xây dựng đất nước,
khẳng định vị trí của mình với các nước trên thế giới. Do đó, em chọn đề tài: Thực
trạng về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
NỘI DUNG
I.
Cơ sở lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế
1. Khái niệm và nội dung hội nhập kinh tế quốc tế.
a. Khái niệm và sự cần thiết khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế.
- Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện
gắn kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi
ích đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung
- Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ nhất, do xu thế khách quan trong bối cảnh tồn cầu hóa kinh tế.
Tồn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng
giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế…trên
quy mơ tồn cầu. Tồn cầu hóa diễn ra trên nhiều phương diện: kinh tế, chính
trị, văn hóa, … nhưng tồn cầu hóa kinh tế là nổi trội nhất, vừa là trung tâm
vừa là động lực thúc đẩy tồn cầu hóa những lĩnh vực khác. Tồn cầu hóa
kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi
biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế
trong sự vận động phát triển hướng tới 1 nền kinh tế thế giới thống nhất.
Tồn cầu hóa đi liền với khu vực hóa. Trong điều kiện tồn cầu hóa kinh
tế, khu vực hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan:
Tồn cầu hóa đã lơi cuốn tất cả các nước vào hệ thống phân công lao động
quốc tế, các mối liên hệ quốc tế vào sản xuất và trao đổi ngày càng gia tăng,
khiến cho nền kinh tế các nước trở thành 1 bộ phận hữu cơ và khơng thể tách
rời nền kinh tế tồn cầu. Các nước sẽ không thể tự đảm bảo được các điều
kiện cần thiết cho sản xuất trong nước khi khơng có hội nhập kinh tế quốc tế.
Nó đã tạo ra cơ hội để các quốc gia giải quyết những vấn đề toàn cầu đã và
đang xuất hiện ngày càng nhiều, tận dụng được nhiều cách mạng cơng nghiệp,
biến nó thành động lực cho sự phát triển.
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của
các nước, nhất là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay.
Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để tiếp cận, sử dụng được các nguồn lực
bên ngồi như tài chính, khoa học công nghệ, kinh nghiệm của các nước cho
phát triển của những nước đang và kém phát triển. Chỉ có phát triển kinh tế
mở và hội nhập quốc tế, các nước đang và kém phát triển mới có thể tiếp cận
được những năng lực từ những nước tư bản giàu có nhất, những công ty xuyên
quốc gia đang nắm trong tay những nguồn lực vật chất và phương tiện hùng
mạnh nhất cho sự phát triển của mình.
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường có thể giúp cho các nước đang và
kém phát triển có thể tận dụng thời cơ phát triển rút ngắn, thu hẹp khoảng cách
với các nước tiên tiến, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng rõ rệt.
Việc mở cửa thị trường, thu hút vốn không chỉ thúc đẩy cơng nghiệp hóa
mà cịn tác động tích cực đến kinh tế vĩ mơ. Nó làm tăng tích lũy, cải thiện
thâm hụt ngân sách, tạo niềm tin cho các chương trình hỗ trợ quốc tế trong cải
cách kinh tế và mở cửa. Không những thế, hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo ra
nhiều cơ hội việc làm mới và nâng cao mức thu nhập tương đối của các tầng
lớp dân cư.
Mặc dù vậy, các nước đang và kém phát triển phải phải đối mặt với khơng
ít rủi ro, thách thức vì chủ nghĩa tư bản hiện đại với ưu thế về vốn và công
nghệ, đang ráo riết thực hiện ý đồ chiến lược biến q trình tồn cầu hóa thành
q trình tự do hóa kinh tế và áp đặt chính trị theo tư bản chủ nghĩa. Vì thế,
các nước đang và kém phát triển cần phải có chiến lược hợp lý, tìm kiếm các
đối sách phù hợp để thích ứng với q trình tồn cầu hóa đa bình diện và đầy
nghịch lí.
b. Nội dung hội nhập của kinh tế quốc tế
Thứ nhất, Chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hội nhập thành công.
Mặc dù hội nhập là tất yếu nhưng đối với Việt Nam, hội nhập không phải
bằng mọi giá. Quá trình hội nhập phải được cân nhắc với lộ trình và cách thức
tối ưu. Quá trình này địi hỏi phải có sự chuẩn bị các điều kiện trong nội bộ
kinh tế cũng như các mối quan hệ quốc tế thích hợp.
Thứ hai, thực hiện đa dạng các hình thức, các mức độ hội nhập kinh tế quốc
tế.
Xét về mức độ, hội nhập kinh tế quốc tế có thể diến ra theo nhiều mức độ.
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được coi là nơng, sâu tùy vào mức độ tham
gia của 1 nước vào các quan hệ kinh tế đối ngoại, các tổ chức kinh tế quốc tế
hoặc khu vực. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được chia thành các mức độ
cơ bản từ thấp đến cao: Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), Khu vực mậu
dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (CU), Thị trường chung (hay thị
trường duy nhất), Liên minh kinh tế - tiền tệ…
Xét về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế
đối ngoại của 1 nước gồm nhiều hình thức: Ngoại thương, đầu tư quốc tế, dịch
vụ thu ngoại tệ, …
II.
Thực trạng về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển của Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gia tăng sự liên hệ giữa nền kinh tế Việt
Nam và nền kinh tế thế giới. Vì vậy, Q trình hội nhập vừa tạo nhiều tác
động tích cực đối với quá trình phát triển của Việt Nam, đồng thời, nó cũng
đưa đến nhiều thách thức địi hỏi phải vượt qua mới có thể thu được những lợi
ích to lớn từ quá trình hội nhập kinh tế thế giới đem lại.
a. Tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ là tất yếu mà còn đem lại những lợi ích to
lớn trong phát triển của các nước và những lợi ích khác nhau cho cả người
tiêu dùng và người sản xuất. Cụ thể:
+ Hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là mở rộng thị trường để thúc đẩy thương
mại phát triển, tạo điều kiện sản xuất trong nước, tận dụng lợi thế kinh tế của
nước ta trong phân công lao động quốc tế, phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng
kinh tế nhanh, bền vững và chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang chiều sâu và
hiệu quả cao.
+ Tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, hiện
đại và hiệu quả hơn, qua đó hình thành các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn để nâng
cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và các
doanh nghiệp trong nước; góp phần cải thiện mơi trường đầu tư kinh doanh,
tăng khả năng thu hút khoa học công nghệ hiện đại và đầu tư bên ngoài từ nền
kinh tế.
+ Giúp nâng cao trình độ nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học công nghệ
quốc gia nhờ đẩy mạnh hợp tác giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học
với các nước nâng cao khả năng hấp thụ khoa học công nghệ hiện đại và tiếp
thu công nghệ mới thơng qua đầu tư trực tiếp nước ngồi và chuyển giao công
nghệ.
+ Tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận được thị quốc tế,
nguồn tín dụng, các đối tác quốc tế để thay đổi công nghệ sản xuất, tiếp cận
và phương thức quản trị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế trong quá
trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Tạo cơ hội cải thiện tiêu dùng trong nước, người dân được thụ hưởng các
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đa dạng chủng loại, mẫu mã và chất lượng với
giá cạnh tranh; tiếp cận, giao lưu với thế giới bên ngồi nhiều hơn, từ đó mà
dù trong hay ngồi nước đều có cơ hội tìm kiếm việc.
+ Tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt về tình hình,
xu thế phát triển trên thế giới, nhờ đó mà xây dựng, điều chỉnh chiến lược hợp
lý, chính sách phù hợp với đất nước để phát triển trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế.
+ Là tiền đề cho hội nhập về văn hóa, tạo điều kiện tiếp thu những giá trị tinh
hoa của thế giới, bổ sung những giá trị và tiến bộ văn hóa, văn minh của thế
giới nhằm làm giàu thêm văn hóa thúc đẩy tiến bộ xã hội.
+ Tác động mạnh mẽ đến hội nhập chính trị, tạo điều kiện cải cách toàn diện
hướng tới xây dựng 1 nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một xã hội mở,
văn minh, dân chủ.
+ Tạo điều kiện cho các nhà nước tìm một vị trí thích hợp trong trật trật tự
quốc tế, nâng cao vai trị, uy tín, vị thế quốc tế trong các tổ chức chính trị,
kinh tế tồn cầu của nước ta.
+ Giúp đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì hịa bình, ổn định ở khu vực và
quốc tế để tập trung cho sự phát triển kinh tế - xã hội; mở ra khả năng phối
hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan
tâm chung như: biến đổi khí hậu, mơi trường, phịng chống tội phạm, bn
lậu quốc tế.
b. Tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế.
Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đưa lại những lợi ích mà nó cũng
đặt ra nhiều rủi ro, bất lợi và thách thức, đó là:
+ Làm gia tăng sự cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành
kinh tế nước ta gặp khó khăn trong phát triển, thậm chí là phá sản, gây nhiều
hậu quả bất lợi về mặt kinh tế - xã hội.
+ Làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên
ngoài, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động khơn lường
về chính trị, kinh tế và thị trường quốc tế.
+ Có thể dẫn đến phân phối khơng cơng bằng lợi ích rủi ro cho các nước và
các nhóm khác nhau trong xã hội. Điều đó có nguy cơ làm tăng khoảng cách
giàu – nghèo và bất bình đẳng xã hội.
2.
a.
-
-
+ Các nước đang phát triển như nước ta phải đối mặt với nguy cơ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi trong quá trình mở cửa hội nhập kinh tế
quốc tế, do thiên hướng tập trung vào các ngành sử dụng nhiều tài nguyên,
nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăng thấp. Vì vậy, mà có một vị trí
bất lợi và thua thiệt trong chuỗi giá trị tồn cầu, dễ trở thành bãi thải cơng
nghiệp và công nghiệp thấp, bị cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy
hoại môi trường ở mức độ cao.
+ Có thể tạo ra những thách thức đối với quyền lực Nhà nước, chủ quyền
quốc gia và phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đối với việc duy trì an ninh và ổn
định trật tự an toàn xã hội.
+ Gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống Việt Nam bị xói
mịn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngồi.
+ Có thể làm tăng nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, buôn
lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp trong quá trình
mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Làm tăng nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, bn lậu, tội
phạm xun quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp, …
Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa có khả năng tạo ra những cơ
hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, vừa có thể dẫn đến những nguy cơ to
lớn, nhiều sự thử thách mà hậu quả chúng đem lại rất khó lường. Nếu chúng
ta khơng có biện pháp ứng phó tốt thì sự thua thiệt về kinh tế là rất lớn, trái
lại, nếu ta tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn, thử thách sẽ hạn chế được
thua thiệt, dành được lợi ích nhiều hơn cho đất nước. Trong hội nhập kinh tế
quốc tế thì đó chính là vấn đề cần phải đặc biệt coi trọng.
Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Từng bước chúng ta được cơ cấu lại gắn kết đổi mới với mơ hình tăng trưởng,
hệ thống cấu kết hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung
ứng cho cho phát triển kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Môi trường đầu tư
kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế được nâng lên, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.
Quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2020 đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng
trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ 4 ASEAN.
Việt Nam đã có 12 FTA đã ký và đang thực thi, 2 Hiệp định đã ký kết, 3 FTA
đang đàm phán và 1 FTA đã kết thúc đàm phán bảo đảm cho kết nối thương
mại tự do, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam. Trong 12 FTA
đã ký kết thì đã có 7 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN và 5 FTA
ký kết với tư cách là một bên độc lập. Việt Nam chúng ta đã có mối quan hệ
tích cực với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế: IMF, WB. Đồng thời tham
gia với các tổ chức kinh tế, ký kết các hiệp định kinh tế đa phương: ASEAN,
WTO, APEC, AFTA, ….
- Hoạt động thương mại quốc tế Việt Nam đã được phát triển mạnh mẽ. Việt
Nam chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và 70 vùng
lãnh thổ trên khắp thế giới. Chúng ta đã ký kết hơn 90 Hiệp định thương mại
song phương và nhiều Hiệp định về văn hóa hợp tác song phương với các
nước, tổ chức quốc tế, xuất khẩu hàng hóa đến hơn 230 thị trường các nước
và vùng lãnh thổ. Nếu năm 1986, tổng kim ngạch xuất khẩu mới đạt 789 triệu
USD, thì năm 2013 đã tăng đạt 132,2 tỷ và năm 2018 đạt 475 tỷ USD, trong
đó xuất khẩu đạt 239 tỷ USD, tăng 11,2% so với 2017. Hàng hóa Việt Nam
đã tiếp tục khai thác trên các thị trường truyền thống và và mở rộng tìm kiếm,
phát triển thêm nhiều thị trường mới.
Đặc biệt, xuất khẩu sang thị trường các nước có hiệp định thương thương
mại tự do (FTA) với Việt Nam đều có tốc độ tăng cao so với năm 2017. Cán
cân thương mại của Việt Nam năm 2018 đạt thặng dư 6,8 tỷ USD, cao gấp 3,2
lần mức thặng dự năm 2017 (trong đó xuất khẩu đạt 243,48 tỷ USD, nhập
khẩu đạt 236,69 tỷ USD, tăng 11,1%). Năm 2020, mặc dù covid diễn ra phức
tạp, tuy nhiên thị trường xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt được những kết quả
tốt; đặc biệt, xuất siêu liên tục từ 2016-2020 và năm 2020 đạt hơn 19,1 tỷ.
Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu. Từ chỗ thường
xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng Xuất nhập khẩu, thậm
chí là xuất siêu. Tính đến hiện nay, Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại
với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã
được 79 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có
chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất
lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...
- Nền kinh tế tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. GDP
bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm
2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Sau khi gia nhập WTO,
Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tăng trưởng GDP
đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó).
Thế nhưng, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ những biến động của kinh tế thế
giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 - 2013 giảm xuống còn 5,6%.
Tuy vậy, chúng ta đã vượt qua biến động kinh tế đó thì đến năm 2014 đạt
5,98%, năm 2015 đạt 6,68%; 2016 đạt 6,1%, năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm
2018 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người
đạt 2.540 USD.
Đặc biệt, năm 2020 vừa qua, Covid diễn ra vô cùng phức tạp trên thế giới
thì Việt Nam nằm trong số những nước hiếm hoi vẫn giữa được mức tăng
trưởng 2,91%; được coi là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành cơng nhất
thế giới và phục hồi kinh tế nhanh hình chữ V, với mức tăng trưởng dự báo từ
hơn 6% đến 11,2% trong năm 2021.
- Sau hơn 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam đạt
được nhiều kết quả ấn tượng. Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư), tính chung trong 12 tháng năm 2015, tổng vốn đăng ký cấp
mới và tăng thêm là 22,757 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2014.
Năm 2018 tăng lên gần 35,5 tỷ USD, thu hút được 1918 dự án cấp phép mới.
FDI tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2019 đạt kỷ lục về giá trị vốn đầu tư đăng
ký so với cùng kỳ trong vòng 3 năm trở lại đây, đạt 16,74 tỷ USD. Năm 2020
do tác động của dịch covid thì các dự án đầu tư nước ngoài bị giảm đi. Tuy
nhiên mức độ giảm đã được cải thiện (giảm 2% so với 2019). Nhiều doanh
nghiệp đầu tư nước ngồi đang dần hồi phục, duy trì tốt các hoạt động kinh
doanh. Điểm nhấn trong năm 2020 là vốn đầu tư điều chỉnh tăng 10,6% so với
cùng ký 2019. FDI đã góp một vai trị rất quan trọng trong thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Nó đã tạo ra trên một nửa giá trị sản xuất cơng nghiệp như
dầu khí, cơng nghệ thơng tin, …góp phần thúc đẩy q trình cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
b. Hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam cịn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Cụ thể:
- Trình độ năng lực điều hành, quản lý kinh tế của doanh nghiệp trong nước cịn
yếu kém. Chính sách, pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế còn thiếu và chưa
đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp
luật của Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế chưa nghiêm. Điều đó tác động
tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước.
- Hiệu quả đầu tư chưa cao như mong muốn, chậm đổi mới chính sách liên quan
đên FDI. Việc thu hút FDI tăng về số lượng, nhưng về chất lượng chưa đảm
bảo, công nghệ chưa tốt trong những lĩnh vực Việt Nam cần đổi mới mơ hình
tăng trưởng.
- Sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam còn
yếu so với các nước khác, kể cả các nước trong khu vực. Các ngành kinh tế,
các doanh nghiệp mang tính mũi nhọn, có khả năng vươn ra chiếm lĩnh thị
trường khu vực và thế giới chưa nhiều, 1 số sản phẩm đã bắt đầu gặp khó khăn
trong cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng kim ngạch có xu hướng giảm.
Sản xuất cịn mang tính tự phát, chưa bám sát nhu cầu thị trường. Nhiều sản
phẩm làm ra chất lượng thấp, giá thành cao nên giá trị gia tăng thấp, khả năng
tiêu thụ sản phẩm khó khăn, thậm chí có nhiều sản phẩm cung vượt q cầu,
hàng tồn kho lớn. Năng lực cạnh tranh hàng hoá, dịch vụ của nước ta nói
chung cịn thấp do trang thiết bị cơng nghệ của nhiều doanh nghiệp cịn yếu
kém, lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 30 năm, cộng thêm những yếu kém về
quản lý, môi trường đầu tư kinh doanh (thủ tục hành chính chưa thơng thống,
chính phủ đầu tư quá cao so với các nước trong khu vực), hạn chế về cung cấp
thông tin xúc tiến thương mại. Khơng chỉ vậy, mà nguồn nhân lực chất lượng
cịn yếu vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, công nghệ, khoa học sáng
tạo.
- Một bộ phận đầu mối về hội nhập kinh tế quốc tế tại một số bộ, ban, ngành và
địa phương còn chưa chú trọng đến khâu phối hợp và tham vấn với các chương
trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc triển khai công
tác hội nhập kinh tế quốc tế chưa đạt được kết quả như mong muốn.
- Việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã có những
chuyển biến tích cực nhưng vẫn cịn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, đơi khi lúng
túng trong việc xác định hướng đi. Các thị trường bất động sản, lao động, khoa
học – công nghệ tuy đã hình thành và phát triển nhưng vẫn cần sự cải thiện.
- Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: cân đối vĩ mô và các
cân đối lớn của nền kinh tế chưa vững chắc; môi trường đầu tư kinh doanh và
năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính cịn nhiều vướng
mắc; tình hình sản xuất, kinh doanh cịn nhiều khó khăn; Số lượng doanh
nghiệp giải thể, ngừng hoạt động lớn; năng lực tài chính, quản trị của phần
lớn doanh nghiệp trong nước còn hạn chế…
3. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
ở Việt Nam.
a. Phương hướng nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
- Nhận thức sâu sắc về thời cơ và thách thức do hội nhập kinh tế quốc tế mang
lại. Bởi nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế có tầm quan trọng ảnh hưởng
to lớn đến những vấn đề cốt lõi của hội nhập. Nhận thức về hội nhập kinh tế
quốc tế cần phỉ rõ cả mặt tích cực lẫn tiêu cực vì tác động của nó là đa chiều,
đa phương diện. Nhận thức này là cơ sở đề ra đối sách thích hợp nhằm tận
dụng ưu thế và khắc chế tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế phù
hợp với thực tiễn.
- Xây dựng chiến lược và lộ trình hội nhập kinh tế phù hợp.
Trước hết cần đánh giá đúng bối cảnh quốc tế, xu hướng vận động kinh tế,
chính trị thế giới; tác động của tồn cầu hóa, của cách mạng cơng nghiệp đối
với các nước và cụ thể hóa đối với Việt Nam. Cần đánh giá được vai trò của
tổ chức kinh tế quốc tế, các công ty xuyên quốc gia và vai trò của các nước
lớn cũng như điều chỉnh chính sách của họ trong vai trị chủ đạo, dẫn dắt các
xu hướng liên kết kinh tế quốc tế. Đánh giá được những điều kiện khách quan
và chủ quan có ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế quốc tế nước ta. Cần làm rõ
vị trí của Việt Nam để xác định khả năng và điều kiện để Việt Nam hội nhập.
Cần nghiên cứu những kinh nghiệm của các nước để đúc kết những bài học
thành công và thất bại của họ để tránh đi vào những sai lầm. Xây dựng phương
hướng, mục tiêu, giải pháp hội nhập kinh tế quốc tế phải đề cao tính hiệu quả,
phù hợp với thực tiễn về năng lực kinh tế, khả năng cạnh tranh, tiềm lực khoa
học cơng nghệ, lao động theo hướng tích cực, chủ động. Chiến lược gắn liền
với tiến trình hội nhập tồn diện đồng thời có tính mở, điều chỉnh linh hoạt để
ứng phó kịp thời đối với biến đổi thế giới, các tác động phát sinh. Chiến lược
cần xác định rõ lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách hợp lí.
- Tích cực, chủ động tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế và thực hiện đầy
đủ cam kết của Việt Nam trong các liên kết kinh tế quốc tế và khu vực. Bởi
nó tạo sự tin cậy, tôn trọng của cộng đồng quốc tế đồng thời giúp chúng ta
nâng cao tầm hội nhập quốc tế trên các tầng nấc tạo cơ chế liên kết theo hướng
đẩy mạnh chủ động đóng góp, tiếp cận đa ngành, đa phương, đề cao nội hàm
phát triển để đảm bảo các lợi ích cần thiết trong hội nhập kinh tế.
- Hoàn thiện thể chế kinh tế về luật pháp. Trên thế giới hiện nay hầu hết các
nước đều phát triển theo mơ hình kinh tế thị trường tuy có sự khác biệt nhất
-
b.
-
-
định. Việc phát triển theo mơ hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” của nước ta mặc dù có sự khác biệt với các nước về định hướng chính
trị của sự phát triển nhưng nó khơng hề cản trở sự hội nhập. Những vấn đề
hiện nay đó là cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, cơ chế, chính sách chưa
đồng bộ, chính sách điều chỉnh kinh tế trong nước chưa phù hợp, môi trường
cạnh tranh nhiều hạn chế.
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế. Hiệu quả hội nhập kinh
tế quốc tế phụ thuộc vào rất nhiều năng lực cạnh tranh quốc tế.
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam. Xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị độc lập tự
chủ mà còn đòi hỏi của thực tiễn, nhằm đảm bảo độc lập tự chủ vững chắc về
chính trị, bảo đảm phát triển bền vững và có hiệu quả cao cho nền kinh tế, cho
việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Và Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung
năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 được thông
qua đại hội XI của Đảng đều nhấn mạnh, đường lối xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ đi đôi với tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được thực
hiện xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
Một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế ở
Việt Nam.
Với những tác động đa chiều của hội nhập kinh tế quốc tế, xuất phát từ thực
tiễn đất nước, một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả của mở cửa hội nhập
kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay:
Cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục
đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW
của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và
nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình
hành động, kế hoạch cơng tác hội nhập của Chính phủ.
Nhà nước cần rà sốt, hồn thiện hệ thống pháp luật, nhất là luật liên quan đến
hội nhập kinh tế: thương mại, đất đai, thuế, tài chính, … Hoàn thiện pháp luật
về tương trợ tư pháp phù hợp với luật pháp quốc tế đồng thời phòng ngừa,
giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế, xử lý hiệu quả các tranh chấp
bảo đảm lợi ích của người lao động và doanh nghiệp.
- Cần thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, định vị đất
nước ở vị trí cao hơn chuỗi giá trị toàn cầu và thu hẹp khoảng cách phát triển
với các nước. Điều quan trọng đối với Việt Nam chúng ta hiện nay tìm kiếm
động lực mới cho sự phát triển gắn với cuộc Cách mạng công nghệ 4.0 và lợi
thế của đất nước như công nghệ thông tin, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị
thông minh các ngành dịch vụ được phát triển với cuộc cách mạng công nghệ
4.0, y tế, du lịch chất lượng cao. Đồng thời, kết nối những doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong nước với các tập đồn đa quốc giá thơng qua trao đổi thông tin,
cải tiến kỹ năng và chuyển giao cơng nghệ.
+ Chúng ta cần phải có những chiến lược mới, định hướng mới trong việc thu
hút vốn FDI để khu vực này đóng vai trị quan trọng hơn trong việc chuyển
giao, nắm bắt công nghệ, tăng năng suất lao động cho nền kinh tế.
+ Đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển sang tăng trưởng chủ yếu theo
chiều sâu.
+ Quy định chặt chẽ và mạnh dạn trong đổi mới cơng nghệ. Đi liền với q
trình du nhập cơng nghệ, cần tăng nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu và
triển khai, nhằm từng bước nghiên cứu phát triển, tiến tới tự chủ dần về công
nghệ.
- Đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng
lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về
thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển
đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của người dân và doanh nghiệp.
- Nhà nước tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp vượt
qua những thách thức của thời kỳ hội nhập. Nhà nước cần chủ động, tích cực
tham gia đầu tư và triển khai các dự án xây dựng nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với nhu cầu của các doanh nghiệp; tổ
chức các khóa đào tạo, trao đổi kinh nghiệm về kỹ năng hội nhập, quản trị
theo cách toàn cầu, đề cao năng lực sáng tạo, đặc biệt là kiến thức về quy định,
luật kinh tế, thương mại quốc tế … phát triển hoàn thiện cơ sở hạ tầng sản
xuất, giao thông, thông tin, dịch vụ … giúp giảm chi phí sản xuất, tạo điều
kiện thuận lợi cho thu hút vốn, công nghệ tiên tiến, thúc đẩy tăng năng suất
lao động của các doanh nghiệp.
- Đẩy mạnh hơn nữa về cơng tác nghiên cứu, phân tích, dự báo chiến lược xu
hướng thế giới, cục diện và tác động của tình hình thế giới đối với Việt Nam.
- Tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trị của địa phương, của doanh
nghiệp trong cơng tác hội nhập kinh tế quốc tế. Dư địa phát triển lớn nhất nằm
ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, mỗi
người dân. Địa phương, doanh nghiệp là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải
được thụ hưởng thành quả của hội nhập. Doanh nghiệp, người dân phải chủ
động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp
luật về hội nhập, khơng để tình trạng vi phạm quy định pháp luật tiếp diễn,
ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
- Tăng cường phối hợp các bộ ngành, cơ quan liên quan xử lý những vấn đề
còn tồn tại để sớm tiến tới ký và phê chuẩn FTA Việt Nam – EU; phối hợp,
thúc đẩy việc hoàn thành thủ tục phê chuẩn Hiệp định đối tác tồn diện và tiến
bộ xun Thái Bình Dương (CPTPP) và các hiệp định đã ký kết khác nhằm
sớm đưa các hiệp định đi vào thực thi mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và
người dân. Xây dựng phương án hợp lý để hoàn thiện việc đàm phán và ký
kết FTA đang triển khai, chủ động nghiên cứu, đánh giá khả năng tham gia
FTA với các đối tác mới nhằm tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho hàng
hóa và dịch vụ Việt Nam để nhằm mục tiêu mở rộng thị trường cho hàng hóa
Việt Nam.
- Chính phủ cần tiếp tục thực hiện các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và cải
thiện môi trường sản xuất, kinh doanh để thu hút đầu tư trong và ngoài nước
tham gia sản xuất hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho thị trường trong nước và
đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường khu vực và thế giới.
TỔNG KẾT
Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế mang sức ảnh hưởng, tầm quan trọng to lớn đối
với sự phát triển của Việt Nam. Từ xuất phát điểm là một đất nước nghèo, lạc hậu,
bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề thì hội nhập kinh tế quốc tế chính là con đường
để rút ngắn khoảng cách với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, phát huy
những lợi thế và tìm cách khắc phục hạn chế thông qua việc học hỏi kinh nghiệm
của các nước.
Sau khi tìm hiểu về thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam ta biết được về
những kết quả mà nhà nước ta đã đạt được sau khi hội nhập kinh tế quốc tế, những
mặt hạn chế về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Nhìn chung nước ta
đã vượt qua mn vàn khó khăn, thách thức, đạt nhiều thành tựu về phát triển và đối
ngoại, được bạn bè quốc tế ca ngợi, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, nước ta vẫn cịn những hạn chế, khó khăn trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đưa ra những phương hướng
chung và một số biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế,
thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành công để góp phần xây dựng đất nước, phát
triển thành cơng, vững mạnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin (chương trình khơng chun);
2. Vũ Văn Hiền (2018), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Hội đồng
Lý luận Trung ương;
3. Thanh Giang (2019), Hội nghị tăng cường hội nhập quốc tế chủ động, sáng
tạo, hiệu quả vì phát triển nhanh và bền vững, Báo Nhân dân điện tử;
4. Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế;
5. Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến
năm 2030.