Tải bản đầy đủ (.docx) (5 trang)

Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG XÁC LẬP QUAN HỆ PHÁP LUẬT, THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (54.51 KB, 5 trang )

Ý NGHĨA CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Soi chiếu vào lịch sử hình thành và phát triển pháp luật, cùng với các
nghiên cứu sẵn có về pháp luật nói chung, có thể nhận định pháp luật bao gồm
hệ thống pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, hệ thống
pháp luật là cơ cấu bên trong của pháp luật còn hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật là hình thức thể hiện ra bên ngồi của pháp luật và chúng đều được
cấu thành từ các phần tử nhỏ là các quy phạm pháp luật
Trong mọi nhà nước, mọi xã hội đều có những quy tắc, mệnh lệnh nhằm
điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ giữa người với người, thể
hiện ý chí chung của toàn xã hội được gọi là các quy phạm xã hội. Quy phạm xã
hội bao gồm: quy phạm chính trị, quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật, quy
phạm tập quán và quy phạm tôn giáo. Quy phạm pháp luật và quy phạm xã hội
mang những đặc điểm chung là đều bao gồm những quy tắc xử sự nhằm định
hướng hành vi của con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, quy
phạm pháp luật mang những đặc tính riêng biệt với các quy phạm xã hội khác
đó là:
- Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, cơ quan có thẩm
quyền ban hành hoặc thừa nhận;
- Quy phạm pháp luật mang tính chất bắt buộc chung, tính chuẩn
mực, tính chặt chẽ và có tính cưỡng chế;
- Quy phạm pháp luật được áp dụng rộng rãi, bao trùm tất cả các lĩnh
vực trong xã hội;
Một quy phạm pháp luật được cấu thành từ ba bộ phận chính là: bộ phận
giả định, bộ phận quy định và bộ phận chế tài. Nói một cách dễ hiểu, một quy
phạm pháp luật không chỉ đưa ra quy tắc, biện pháp xử sự mà còn bao gồm điều
kiện, hoàn cảnh chịu sự chi phối của những quy tắc này và hậu quả khi không
tuân thủ các quy định đã được đề ra.
Pháp luật được hình thành và phát triển với mục đích chung là thoả mãn


các nhu cầu của xã hội và đảm bảo việc quản lý các vấn đề trong đời sống xã


hội của nhà nước. Các quy phạm pháp luật là hạt nhân của pháp luật, vì vậy
chúng được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở của các mục đích đó. Trong
các vấn đề về xác lập quan hệ pháp luật, thực hiện pháp luật, truy cứu trách
nhiệm pháp lý, giáo dục pháp luật, quy phạm pháp luật nói chung và văn bản
quy phạm pháp luật nói riêng mang những ý nghĩa như sau:
1. Đối với vấn đề xác lập quan hệ pháp luật
Trước tiên, quan hệ pháp luật được hiểu là các quan hệ xã hội chịu sự
điều chỉnh của các quy phạm pháp luật. Quan hệ pháp luật mang tính ý chí;
quan hệ pháp luật xuất hiện dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật; chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ pháp lý; việc thực hiện
quan hệ pháp luật được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước.1
Chính vì quan hệ pháp luật xuất hiện dựa trên cơ sở các quy phạm pháp
luật, chính vì vậy, văn bản quy phạm pháp luật cũng mang ý nghĩa xác lập quan
hệ pháp luật. Quy phạm pháp luật đưa ra những tình huống, hồn cảnh, điều
kiện có thể phát sinh quan hệ pháp luật (xác định được tính hợp lệ của chủ thể
quan hệ pháp luật, khách thể của quan hệ pháp luật này là gì,...) đây chính là
nhiệm vụ của bộ phận giả định trong một quy phạm pháp luật; bộ phận quy định
trong một quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ
thể trong quan hệ pháp luật đó (các chủ thể được thực hiện quyền của mình
trong khn khổ pháp luật như thế nào, bắt buộc thực hiện hay khơng được làm
gì, chủ thể phải có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật ra sao). Như vậy,
có thể nói, một quan hệ pháp luật sẽ khơng được hình thành nếu khơng tồn tại
quy phạm pháp luật. Tương tự, do quy phạm pháp luật mang tính ý chí của Nhà
nước vậy nên trong một số trường hợp, quan hệ pháp luật có thể phát sinh, thay
đổi hoặc chấm dứt phải nằm trong phạm vi cho phép của Nhà nước.
Do văn bản quy phạm phạm luật hay các quy phạm pháp luật mang tính
1 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, trang 435-440


chất cưỡng chế và có tính chất bắt buộc chung nên các quan hệ pháp luật được

xác lập sẽ có tính đảm bảo cao hơn, ít rủi ro trong việc thực hiện hơn các quan
hệ xã hội khác. Một khi tham gia vào một quan hệ xã hội, các chủ thể đã đồng
thời cam kết thực hiện và phải chịu trách nhiệm đối với việc không tuân thủ
theo quy định của pháp luật điều chỉnh.
2. Đối với vấn đề thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật được hiểu là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp
luật, được tiến hành bởi nhiều chủ thể và nhiều hình thức khác nhau; là giai
đoạn quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật và là hình thức thực hiện các
chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.2
Căn cứ vào tính chất của từng hoạt động thực hiện pháp luật, thực hiện
pháp luật bao gồm bốn hình thức sau:
● Tuân thủ pháp luật: Các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực
hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
● Thi hành pháp luật: Các chủ thể pháp luật chủ động thực hiện
nghĩa vụ pháp lý của mình.
● Sử dụng pháp luật: Các chủ thể pháp luật thực hiện những hành vi
mà pháp luật cho phép theo ý chí của mình.
● Áp dụng pháp luật: Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền hoặc
nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những
quy định của pháp luật. Hình thức này ln có sự tham gia của Nhà
nước, trong một số trường hợp, theo quy định của pháp luật, cơ
quan tổ chức xã hội cũng có thể thực hiện hoạt động này.
Văn bản quy phạm pháp luật những quy phạm pháp luật mà chính các
quy phạm pháp luật này mang những nội dung khác nhau quy định những hình
thức khác nhau của hoạt động thực hiện pháp luật. Cụ thể, các quy phạm pháp
luật cấm đoán được áp dụng đối với hành động tuân thủ pháp luật; các quy
2 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, trang 465-468


phạm pháp luật bắt buộc được áp dụng trong hình thức thi hành pháp luật; hay

các quy phạm pháp luật quy định về quyền và tự do pháp lý được sử dụng trong
hình thức sử dụng pháp luật.3 Như vậy, các chủ thể pháp luật cần phải dựa vào
các quy phạm văn bản pháp luật để có thể hiểu rõ và đảm bảo hoạt động thực
hiện pháp luật của mình một cách đúng đắn và tương xứng với sự kiện pháp lý
xảy ra. Nếu như khơng có văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể pháp luật có thể
khơng hiểu, khó xác định hay nhầm lẫn trong hành vi của mình.
Bên cạnh đó, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện
bởi Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục nhất định
theo hình thức, tên gọi cụ thể, điều này có ý nghĩa tránh sự nhầm lẫn trong việc
xác định pháp luật hay thứ tự áp dụng pháp luật; đảm bảo tính chất pháp lý và
hiệu quả pháp lý của hoạt động thực hiện pháp luật.
3. Đối với vấn đề truy cứu trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi
phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi
phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh. Trong đó
chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp
cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật. 4
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình bao gồm các hoạt động
xem xét, kiểm tra, đánh giá các hành vi vi phạm pháp luật nhằm quyết định áp
dụng những biện pháp cưỡng chế quy định trong chế tài các quy phạm pháp
luật; phòng ngừa, cải tạo, giáo dục những chủ thể vi phạm pháp luật hay răn đe
các chủ thể pháp luật khác.
Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động chỉ có Nhà nước,
các cơ quan có thẩm quyền hay các chủ thể được trao quyền mới có thể tiến
hành và nó chỉ có thể tuân theo quy định của các quy phạm pháp luật chứ khơng
3 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, trang 468 - 469
4 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, trang 508


phải bất kỳ quy phạm xã hội nào khác bởi chỉ có quy phạm pháp luật mới mang

ý chí riêng biệt của nhà nước và có ràng buộc về mặt pháp lý. Những biện pháp
được áp dụng trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý chỉ có thể soi chiếu
vào bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật có liên quan đến hành vi vi
phạm.
Thêm vào đó, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành một cách chặt
chẽ và mang tính thủ tục cao chính vì thế nó có thể đảm bảo được sự chắc chắn
trong quá trình xác định và truy cứu trách nhiệm pháp lý, tránh oan sai, bỏ sót
hành vi vi phạm pháp luật.
4. Đối với vấn đề giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và
thường xun tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một
trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật,
tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.5
Một trong những mục đích chính của quy phạm pháp luật là nhằm định hướng,
điều chỉnh hành vi của con người trong đời sống xã hội, văn bản quy phạm pháp
luật mang ý nghĩa to lớn trong hoạt động giáo dục pháp luật khi nó có thể làm
thay đổi, xóa bỏ các hành vi xấu (hủ tục, tập tục lạc hậu) và hình thành các hành
vi phù hợp hơn. Với tính chất chặt chẽ, văn bản quy phạm pháp luật giúp nâng
cao ý thức pháp luật đặc biệt là từ hệ thống cán bộ nhà nước trước tiên rồi đến
nhân dân (bởi chính Nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền là người ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật đó). Hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật đồng thời có ý nghĩa trong việc sắp xếp, lên kế hoạch giảng dạy đối với
từng loại đối tượng khác nhau.

5 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, trang 431



×