BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LỤA
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN Ở
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. BÙI VĂN DŨNG
2
NGHỆ AN - 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hồn thành, tơi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tập thể
các Thầy giáo, Cơ giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị, Phịng Đào tạo Sau Đại
học, Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tơi trong q trình
học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới PGS.TS. Bùi Văn Dũng,
người đã định hướng đề tài và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Thường trực Thị ủy, Ban Tổ chức Thị ủy, các cơ
quan ban ngành ở thị xã Kiến Tường; Thường trực Đảng ủy các xã, phường ở thị
xã Kiến Tường, Tỉnh Long An, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã tận tâm giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tơi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của q Thầy cơ, các ban ngành
và đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu của luận văn thêm hoàn thiện, được triển
khai hiệu quả trong thực tế.
Cuối cùng, tôi xin gửi đến các Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học, các bạn
đồng nghiệp lời chúc sức khỏe tốt đẹp và lời cảm ơn sâu sắc nhất.
Người thực hiện
Nguyễn Thị Lụa
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC
:
Cán bộ công chức
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
HTCT
:
Hệ thống chính trị
Nxb
:
Nhà xuất bản
TCCSĐ
:
Tổ chức cơ sở Đảng
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT................................................................................ii
MỤC LỤC................................................................................................................... iii
Trang............................................................................................................................ iii
...................................................................................................................................... iii
A. MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................
3. Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................
6. Những đóng góp mới của luận văn..........................................................
7. Kết cấu của luận văn................................................................................
B. NỘI DUNG...............................................................................................................7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI
ỦY BAN NHÂN DÂN..................................................................................................7
Chương 2 THỰC TRẠNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY
BAN NHÂN DÂN Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN..............................31
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA
ĐẢNG BỘ CƠ SỞ ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN CÙNG CẤP Ở THỊ XÃ KIẾN
TƯỜNG, TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY................................................69
C. KẾT LUẬN...........................................................................................................106
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................108
CÁC PHỤ LỤC KÈM THEO....................................................................................113
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điều 4, Hiến pháp năm 2013 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và
xã hội” [53, tr.9]. Đảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề có tầm
quan trọng, có ý nghĩa sống cịn đối với cơng cuộc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Nhà nước có vai trị cực kỳ quan
trọng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng
đều phải thông qua Nhà nước để triển khai đến dân thực hiện. Ngược lại, Nhà
nước muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì phải thực hiện đúng đắn đường
lối, chủ trương do Đảng đề ra. Nhà nước làm tốt, làm đúng theo chủ trương của
Đảng thì sẽ được nhân dân đồng tình, hưởng ứng tích cực tạo nên sức mạnh to lớn
để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu ngược lại, Nhà nước không làm tốt vai trị
trung gian của mình thì sẽ làm giảm lịng tin của nhân dân đối với Đảng, uy tín
của Đảng sẽ bị mất đi, đó là nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Thị xã Kiến Tường là thị xã biên giới, nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Long
An, khu vực trung tâm vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh; được thành lập vào
tháng 5/2013. Đảng bộ thị xã Kiến Tường gồm 25 Đảng bộ, chi bộ trực thuộc,
trong đó có 8 Đảng bộ xã, phường (cơ sở) . Ủy ban nhân dân các xã, phường ở
thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trực tiếp chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở;
là cầu nối trực tiếp giữa Đảng với nhân dân; hằng ngày tiếp xúc và làm việc với
nhân dân; có nhiệm vụ cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành những
kế hoạch, chương trình cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế địa phương nhằm
mục đích phát triển địa phương. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân cũng là đơn vị nắm
bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, tổ chức và vận động nhân
dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
2
nước làm cho nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực.
Chính vì vậy, những năm qua cùng với việc nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, các Đảng bộ các xã, phường ở thị xã
Kiến Tường luôn chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ủy ban
nhân dân, xem đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để thực hiện thắng lợi các chủ
trương, nghị quyết của Đảng. Nhờ đó, Ủy ban nhân dân các xã, phường ln
được quan tâm củng cố, kiện toàn và hoạt động ngày càng đồng bộ, hiệu quả;
tạo được niềm tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Tuy nhiên, do mới
thành lập nên đa số cán bộ chủ chốt ở các xã, phường đều mới, trẻ nên nhận thức
về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp có phần
hạn chế, chưa phân định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước
nên có lúc có nơi dẫn đến việc bao biện, lấn sân, làm thay hoặc buông lơi sự
lãnh đạo của Đảng.
Trước yêu cầu thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế trên
địa bàn tỉnh Long An và mục tiêu, nhiệm vụ ở thị xã Kiến Tường, nhằm tiếp tục
phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về sự lãnh đạo
của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở thị xã, vấn đề rất cần
thiết và cấp bách đặt ra là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tìm ra
những giải pháp để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban
nhân dân cùng cấp. Vì thế, tơi chọn nghiên cứu vấn đề “Sự lãnh đạo của Đảng
bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An” để làm đề
tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với UBND các cấp là một vấn đề quan trọng có
tính cấp bách, thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và cán
bộ khoa học của Đảng và Nhà nước, như: cơng trình “Nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền”, của tác giả Lê
Hữu Nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2014. Nội dung của cơng trình
3
khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là tất yếu khách quan, là
tiền đề và điều kiện để Nhà nước giữ vững tính chất xã hội chủ nghĩa (XHCN),
bản chất của dân, do dân và vì dân. Trong những năm đổi mới, Đảng ln củng
cố, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước. Nội dung chủ yếu sự lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước là Đảng đề ra đường lối, chủ trương để xây dựng, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường
lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước và tổ chức
thực hiện chính sách, pháp luật; tăng cường quản lý cán bộ, Đảng viên trong bộ
máy Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh; tăng
cường kiểm tra tổ chức Đảng và Đảng viên trong cơ quan Nhà nước, các tổ chức
sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp Nhà nước
trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước…[43].
Tác giả Nguyễn Trọng Phúc trong bài “Nhà nước pháp quyền và vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 7/2014,
khẳng định: Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền càng phải tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo thể chế hóa, cụ thể hóa Cương
lĩnh, đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước. Quyết định tổ
chức bộ máy Nhà nước và bố trí, phân cơng cán bộ. Kiểm tra hoạt động của Nhà
nước và lãnh đạo nhân dân, hệ thống chính trị tham gia xây dựng, quản lý, giám
sát hoạt động của Nhà nước và cán bộ, công chức…[47].
Tác giả Hà Thị Khiết trong bài “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để
nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững
mạnh”, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 3/2014 đã nhấn mạnh rằng: xây dựng
Đảng không chỉ là công việc của Đảng mà cịn là cơng việc của nhân dân. Nhân
dân ln góp ý tham gia xây dựng để giúp Đảng xây dựng đường lối [34].
Tác giả Nguyễn Thế Trung có bài viết “Về lòng dân, ý Đảng trong giai
đoạn hiện nay”, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5/2015 đã khẳng định: Đảng ta
4
từ nhân dân mà ra, ý Đảng bắt nguồn từ lịng dân và chính lịng dân đã kết thành
ý Đảng. Đảng lãnh đạo nhân dân thì nhân dân cũng có quyền nói lên ý kiến của
mình. Ý Đảng khơng thể khác với lòng dân…[54].
Tác giả Văn Thị Thanh Mai trong bài “Tăng cường mối quan hệ mật thiết
giữa Đảng với nhân dân, nguồn sức mạnh nội lực của Đảng”, đăng trên Tạp chí
Cộng sản số 4/2014, cho rằng: lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh
không phải ngẫu nhiên Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, và cách mạng Việt
Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó chính là Đảng vừa là người lãnh
đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân…[38].
Các Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị “Sự lãnh đạo của Đảng đối với
Hội đồng nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn hiện nay”,
của Nguyễn Hoàng Giang Trường Đại học Vinh (2015) Thạc sĩ chuyên ngành
Chính trị học [31]; “Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân ở
huyện Gị Cơng Đơng, tỉnh Tiền Giang”, của Phạm Hồng Phúc, Trường Đại học
Vinh (2016) Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học cũng đã luận giải về sự lãnh
đạo của Đảng đối với HĐND, UBND trên các địa bàn cụ thể [48].
Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị “Vai trị Bí thư Đảng ủy trong hệ
thống chính trị cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An giai đoạn hiện nay”,
của Lê Hồng Hạnh, Trường Đại học Vinh (2015) Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị
học đã luận giải về một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác tổ chức cán
bộ Đảng ở cấp cơ sở hiện nay [32].
Như vậy, các đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học nêu
trên phần lớn đi vào nghiên cứu những vấn đề lớn, những vấn đề chung về sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có cơng trình
khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân
dân cùng cấp ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Do đó, chúng tơi chọn vấn đề
này vừa có tính cấp bách về lý luận vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.
5
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, phân tich thực tiễn, đề xuất
những quan điểm và giải pháp, mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm góp
phần nâng cao chất lượng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân
dân ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện ba nhiệm vụ:
- Thứ nhất, góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng
bộ cơ sở đối với UBND cùng cấp.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở
đối với UBND cùng cấp ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trong thời gian qua.
- Thứ ba, đưa ra quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò
lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND cùng cấp ở thị xã Kiến Tường, tỉnh
Long An giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là chỉ nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng
bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi chủ yếu tập trung nghiên cứu ở 8 Đảng bộ xã, phường thuộc địa
bàn thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An từ ngày thành lập đến năm 2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí và các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng, về đổi mới nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, lý luận về sự lãnh đạo của
Đảng bộ cơ sở đối với UBND để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
6
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp lịch sử - lôgic.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh.
- Phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa.
- Phương pháp thống kê…
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Về lý luận: Đề tài luận giải những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của
Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân; phân tích đóng góp những kinh nghiệm
về sự lãnh đạo của các Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân cùng cấp ở thị xã
Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài
liệu nghiên cứu tham khảo cho các Đảng bộ cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh
Long An và nhất là các Đảng bộ xã, phường trong quá trình lãnh đạo chính
quyền. Ngồi ra, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ
nghiên cứu và giảng dạy mơn xây dựng Đảng ở Trường Chính trị tỉnh Long An,
các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, cũng như các sinh viên và học
viên cao học chuyên ngành Chính trị học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
7
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
ĐỐI VỚI ỦY BAN NHÂN DÂN
1.1. Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân
1.1.1. Đảng bộ cơ sở trong hệ thống chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mục đích của
Đảng là xây dựng đất nước độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn
minh. Để thực hiện mục đích đó, Đảng phải được tổ chức theo một hệ thống
chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Đại hội Đảng lần thứ III
(9/1960) quyết định hệ thống tổ chức Đảng gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành
phố trực thuộc Trung ương), huyện (thị xã, khu) và cơ sở Đảng, hệ thống đó
được duy trì cho đến nay.
Theo tinh thần đó, tổ chức cơ sở Đảng được thành lập tương ứng với cấp
hành chính Nhà nước ở cơ sở (xã, phường, thị trấn); cơ quan, đơn vị sự nghiệp
hoặc đơn vị cơ sở trong công an nhân dân và quân đội nhân dân, tổ chức kinh tế
(các loại hình hợp tác xã, các doanh nghiệp). Ở các cơ sở trên, nếu có từ ba
Đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở Đảng. Nếu tổ chức Đảng có dưới
ba mươi đảng viên, lập Chi bộ cơ sở có các tổ chức Đảng trực thuộc. Nếu tổ
chức Đảng có trên 30 đảng viên, lập Đảng bộ có các tổ chức Đảng trực thuộc.
Như vậy, Đảng bộ cơ sở là tổ chức cơ sở Đảng có trên 30 đảng viên, chịu sự chỉ
đạo, điều hành trực tiếp của Đảng bộ trực thuộc [28, tr.36].
* Vị trí, vai trị, chức năng của Đảng bộ cơ sở
- Vị trí, vai trị của Đảng bộ cơ sở
Đảng bộ cơ sở vừa là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của
8
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời cũng là nơi góp phần
phát triển hồn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Là một thành
viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở, song Đảng bộ cơ sở có vị trí, vai trị đồn
kết, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân. Trong
mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của Đảng bộ cơ sở là những “sợi
dây chuyền” nối liền Đảng với dân.
Vị trí hạt nhân chính trị của Đảng bộ cơ sở thể hiện vai trị đồn kết và
lãnh đạo tồn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời cơ sở Đảng
còn là nơi giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng thực hiện có hiệu quả Cương
lĩnh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần xây
dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đảng bộ cơ sở cơ sở là trung tâm quy tụ, tập hợp được mọi lực lượng ở cơ
sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo sức mạnh tổng hợp thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của cơ sở.
Đảng bộ cơ sở sẽ khơng làm trịn vai trị hạt nhân chính trị của mình nếu
khơng qn triệt đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm Điều lệ Đảng,
không làm tốt công tác xây dựng Đảng, quản lý Đảng viên, nội bộ mất đồn kết,
xa rời quần chúng, bị lơi cuốn vào những việc làm tự phát, coi thường kỷ cương,
pháp luật; chất lượng sinh hoạt Đảng và chất lượng Đảng viên yếu kém, sa sút.
- Chức năng của Đảng bộ cơ sở
Đảng bộ cơ sở có 02 chức năng quan trọng:
Một là, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nước ở cơ sở.
Đảng bộ cơ sở có chức năng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ và hoạt động ở
9
cơ sở theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; lãnh đạo sản xuất, kinh doanh, cơng tác chun mơn, nghiệp vụ, quốc
phịng, an ninh, văn hóa - xã hội… đạt hiệu quả ngày càng cao, không ngừng cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; hoàn thành nghĩa vụ đối với
Nhà nước.
Mọi chủ trương, giải pháp đề ra về quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ, Đảng bộ cơ sở phải luôn luôn bảo đảm phương hướng chính trị,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải tạo được sự phát triển
kinh tế, văn hóa - xã hội…, tích cực xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của
người lao động, chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng, ức hiếp quần chúng, kịp
thời giải quyết những nguyện vọng, lợi ích chính đáng, thiết thực, hợp pháp của
nhân dân.
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, đấu tranh giai cấp vẫn tồn tại với nội
dung và biểu hiện mới. Vì thế, khơng có lĩnh vực hoạt động nào trong xã hội
khơng mang tính chính trị. Đảng bộ cơ sở phải rất nhạy cảm, nắm vững những
vấn đề chính trị chung của đất nước cũng như của địa phương, cơ sở mình.
Bng lỏng lãnh đạo chính trị, tư tưởng sẽ dễ rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế,
hoặc chun mơn thuần t. Vì vậy, chúng ta phải thường xuyên suy nghĩ, tìm
mọi cách thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chủ động
đề phòng và khắc phục mọi biểu hiện chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng bộ cơ sở thực hiện chức năng là hạt nhân chính trị đối với chính
quyền, đồn thể, các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các mặt
công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở. Do chức năng, nhiệm vụ của xã,
phường, doanh nghiệp… khác nhau nên sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng cơ sở
cũng khác nhau. Tuy vậy, bất cứ ở đâu, Đảng bộ cơ sở trong hoạt động lãnh đạo
của mình cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
10
Đảng bộ cơ sở là nơi gần dân, sát dân nhất, trực tiếp lắng nghe, tiếp thu ý
kiến và giải quyết những vấn đề quần chúng đặt ra hàng ngày hoặc báo cáo kịp
thời lên cấp trên; tiến hành vận động nhân dân và làm công tác phát triển Đảng
viên. Đảng bộ cơ sở có mạnh thì nền tảng của Đảng mới vững chắc.
Hai là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, phát triển sản
xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả công tác của cơ sở; chăm lo cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân; động viên quần chúng nhân dân hoàn
thành đầy đủ nghĩa vụ của cơ sở, đơn vị đối với Nhà nước, cụ thể:
Để thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở đơn vị mình
phụ trách, Đảng bộ cơ sở phải đoàn kết và lãnh đạo các tổ chức và quần chúng
trong đơn vị chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước; thực hiện những nhiệm vụ của Đảng bộ cơ sở và giải
quyết những vấn đề do thực tiễn đơn vị đặt ra, làm cho đơn vị khơng ngừng đổi
mới và phát triển, góp phần xây dựng cơ sở ngày càng giữ vị trí, vai trị là hạt
nhân lãnh đạo chính trị ở đơn vị. Xem nhẹ chức năng của Đảng bộ cơ sở là hạ
thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong đơn vị được giao phụ trách.
* Nhiệm vụ của Đảng bộ cơ sở
Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) quy định 05 nhiệm
vụ của Đảng bộ cơ sở (chung cho các tổ chức cơ sở Đảng) như sau:
- Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề
ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ cơ sở và lãnh đạo thực hiện có
hiệu quả.
- Xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng
sinh hoạt Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường
đồn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý
cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình
11
độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phịng, an ninh và các đồn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững
mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và
bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám
sát tổ chức Đảng và Đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng [28; tr.123].
Đảng ủy cơ sở nếu được cấp ủy cấp trên trực tiếp ủy quyền thì được quyết
định kết nạp và khai thừ đảng viên.
Năm nhiệm vụ trên là năm nội dung cơ bản, chung nhất để thực hiện chức
năng lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở. Năm nhiệm vụ có vị trí và u cầu riêng,
không thể coi nhẹ nhiệm vụ nào. Bất kỳ Đảng bộ cơ sở nào cũng đều phải thực
hiện đầy đủ và thường xuyên các nhiệm vụ đó. Trong điều kiện Đảng ta là Đảng
cầm quyền, ngoài những nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách, xây
dựng Đảng thì nhiệm vụ về lãnh đạo xây dựng chính quyền và các đồn thể
chính trị trong hệ thống chính trị, lãnh đạo các tổ chức kinh tế, hành chính, văn
hố, xã hội và thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân, lãnh đạo quần chúng
tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền là những nhiệm vụ có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ kiểm tra của Đảng bộ cơ sở cũng cần chú trọng
đúng mức vì “kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng”.
Thực hiện những chức năng, nhiệm vụ trên trong tình hình hiện nay cần
kiểm tra để phát hiện, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hoạt động cụ
thể cho phù hợp với các loại hình Đảng bộ cơ sở, đúng Điều lệ Đảng và các quy
định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành, đúng pháp luật của Nhà nước.
12
Các Đảng bộ cơ sở phải bảo đảm sinh hoạt thường lệ hàng tháng, nâng cao chất
lượng sinh hoạt, thực hiện tốt việc phân công và kiểm tra công tác của đảng
viên. Đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp phải
thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, Đảng ủy nơi cư trú theo quy định của
Bộ Chính trị và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Đổi mới
công tác phân tích chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên hàng năm, để công tác
đánh giá chất lượng tổ chức Đảng, đảng viên hàng năm đi vào nề nếp và đánh
giá đúng thực chất.
* Cơ cấu tổ chức của Đảng bộ cơ sở
Cơ cấu tổ chức của Đảng bộ cơ sở được quy định cụ thể tại Điều lệ Đảng.
Tuy nhiên, trong thực tế, tùy vào những đặc điểm đặc thù về số lượng Đảng
viên, công tác, địa bàn mà mỗi Đảng bộ cơ sở có cơ cấu tổ chức phù hợp.
Xét trong mối quan hệ tổ chức - bộ máy của Đảng, Đảng bộ ở hệ thống
chính trị cơ sở cũng đều có các cơ quan lãnh đạo: Đại hội (cơ quan lãnh đạo cao
nhất ở mỗi cấp) và Ban Chấp hành (gọi tắt là Cấp ủy) do Đại hội từng cấp bầu
ra. Cấp ủy Đảng là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở mỗi cấp giữa hai kỳ Đại hội, do
Đại hội cùng cấp bầu ra. Đây là một bộ phận hữu cơ của Đảng bộ cơ sở nhưng là
bộ phận hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng bộ cơ sở, là người đại biểu cho trí
tuệ, năng lực và phẩm chất đạo đức của Đảng bộ cơ sở.
Chức năng chung của cấp ủy Đảng là đội tiên phong chính trị của giai cấp
cơng nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Trong đó, chức năng chủ
yếu là lãnh đạo và kiểm tra. Phương pháp lãnh đạo của cấp ủy Đảng chủ yếu là
phương pháp dân chủ, giáo dục thuyết phục, nêu gương và thông qua công tác tư
tưởng và tổ chức của Đảng.
Trách nhiệm và quyền hạn của tập thể cấp ủy Đảng bao gồm những nội
dung chủ yếu như: Quyết định các chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng
để cụ thể hoá đường lối tổ chức chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng cấp
13
trên; quyết định các chủ trương, biện pháp lớn về tổ chức và cán bộ, về bố trí, đề
bạt và thi hành kỷ luật đối với cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý; thường xuyên
chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, công tác vận động nhân dân, công tác xây
dựng chính quyền, định kỳ nghe báo cáo và chỉ đạo các cấp ủy Đảng trực thuộc,
các Đảng đoàn, các ban của Đảng thực hiện chức trách, nhiệm vụ; xây dựng và
điều hành bộ máy của cấp ủy Đảng bảo đảm sự lãnh đạo các mặt hoạt động của
cấp ủy; chuẩn bị Đại hội, thường xuyên báo cáo với cấp trên và thơng báo cho
cấp dưới tình hình chung và công việc của cấp ủy, bảo đảm việc thông tin tình
hình trong và ngồi nước cho từng cấp ủy trực thuộc một cách thường xuyên
theo quy định của Điều lệ Đảng [1, tr.6].
1.1.2. Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị cơ sở
Trong hệ thống chính trị cơ sở, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND
cùng cấp, là cơ quan hành chính ở địa phương, có nhiệm vụ thực hiện quản lý
Nhà nước một cách toàn diện trên địa bàn xã, tổ chức thực hiện nghị quyết và
quyết định của HĐND cùng cấp.
* Cơ cấu tổ chức của UBND xã
Ủy ban nhân dân xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân
sự, Ủy viên phụ trách cơng an.
Ủy ban nhân dân xã loại I có khơng q hai Phó Chủ tịch; xã loại II và
loại III có một Phó Chủ tịch.
* Cơ chế hoạt động của UBND cấp xã
Hoạt động của UBND cấp xã dựa trên nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách, kết hợp với chế độ thủ trưởng. Chủ tịch UBND là người chịu
trách nhiệm chính trong việc lãnh đạo và điều hành hoạt động của UBND.
Các vấn đề UBND xã phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số là:
- Chương trình làm việc của UBND;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; dự toán ngân sách xã, quyết toán
14
ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của xã trình HĐND xã quyết định;
- Kế hoạch đầu tư, xây dựng các cơng trình trọng điểm ở xã trình HĐND
xã quyết định;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của HĐND xã về kinh tế - xã hội,
thông qua báo cáo của UBND xã trước khi trình trình HĐND xã;
- Đề án thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính ở xã.
UBND xã họp ít nhất mỗi tháng một lần. Các quyết định của UBND xã
phải được ít nhất quá nửa thành viên UBND xã tán thành. Hình thức ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của UBND xã là quyết định và chỉ thị. Chủ tịch
UBND xã thay mặt ký xác nhận.
Chủ tịch UBND xã là người lãnh đạo, điều hành công việc của UBND,
chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn luật định, cùng
với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND xã và
cơ quan Nhà nước cấp trên.
Chủ tịch UBND phân công cơng tác cho các Phó Chủ tịch UBND và các
thành viên khác của UBND. Những cán bộ, công chức này chịu trách nhiệm
trước Chủ tịch về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
- Cá nhân Chủ tịch UBND xã có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
+ Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành
viên Ủy ban nhân dân xã.
+ Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc
thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc
phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an tồn xã hội, đấu tranh, phịng, chống tội
phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham
nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo
hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp
15
khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo
quy định của pháp luật.
+ Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện
làm việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định của pháp luật;
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo
quy định của pháp luật.
+ Ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
+ Chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy,
nổ; áp dụng các biện pháp để giải quyết các cơng việc đột xuất, khẩn cấp trong
phịng, chống thiên tai, dịch bệnh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã
theo quy định của pháp luật.
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên
phân cấp, ủy quyền [24, tr.4].
* Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã
UBND xã là cơ quan Nhà nước ở địa phương, giữ vai trò quản lý xã hội,
triển khai đưa các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch của Đảng đi vào cuộc sống.
Trong hệ thống chính trị ở cơ sở thì bộ máy chính quyền là lớn nhất. Quyền lực
của chính quyền vừa xuất phát từ nhân dân sở tại, vừa xuất phát từ Nhà nước.
Chính quyền cơ sở vừa đại diện cho quyền lực của nhân dân trong địa hạt, được
nhân dân bầu ra, thực hiện ý chí chung của nhân dân địa phương; đồng thời cũng
thay mặt quyền lực của Nhà nước tại địa phương. Quyền lực của chính quyền cơ
sở biểu hiện ở quyền đưa ra những quy định, quyết định; quyền cưỡng chế thực
hiện những quy định, quyết định đó; quyền xét xử những vi phạm các quy định,
quyết định và pháp luật nói chung theo phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy
định cho chính quyền cơ sở.
UBND tổ chức hoặc tham gia tổ chức những hoạt động chủ yếu của người
16
dân; là người phối hợp, hỗ trợ không thể thiếu được đối với các hoạt động của tổ
chức Đảng và đồn thể trong phạm vi của đơn vị hành chính. Có thể nói, các
cơng việc xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền đều được tổ chức
Đảng, các đoàn thể quan tâm. Ngược lại, hầu hết các hoạt động của tổ chức
Đảng, các đoàn thể đều cần đến sự phối hợp, giúp đỡ (bằng tài chính, phương
tiện vật chất...) của UBND.
1.1.3. Mối quan hệ giữa Đảng bộ và Ủy ban nhân dân trong hệ thống
chính trị cơ sở
Mối quan hệ giữa Đảng bộ và Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính trị cơ
sở ở tầm vĩ mơ chính là mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Ở rất nhiều quốc
gia trên thế giới, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là một mối quan hệ tất yếu.
Tuy nhiên, tùy tình hình cụ thể ở từng quốc gia mà mối quan hệ này có những
dạng cụ thể khác nhau. Nhìn chung, ở các quốc gia trên thế giới, Đảng là tổ chức
đưa ra đường lối còn Nhà nước là tổ chức chuyên thực thi các đường lối này.
Ở hệ thống chính trị cơ sở, mối quan hệ giữa Đảng bộ cơ sở và UBND là
mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Đây là hai thực thể độc lập, nhưng có mối
quan hệ mật thiết với nhau theo hai hướng.
Thứ nhất, mối quan hệ giữa hai thực thể này là mối quan hệ giữa lực
lượng chính trị và bộ máy cơng quyền. Lực lượng chính trị là một nhóm người
trong dân cư và nó đại diện cho những người đó. Đảng Cộng sản Việt Nam đại
diện cho hàng triệu Đảng viên của Đảng. Nhà nước là cơ quan cơng quyền đại
diện cho tồn dân. Đây là lực lượng thực hiện các nhiệm vụ cơng ích. Cụ thể
hơn, Nhà nước là đơn vị cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cơng nhằm tạo ra một
mơi trường sống tốt đẹp cho người dân. Do Đảng đại diện cho người dân trong
một quốc gia, nên Đảng phải có trách nhiệm lãnh đạo bộ máy Nhà nước thực
hiện nhiệm vụ cơng ích được giao. Nhà nước là cơng cụ quản lý đại diện cho
công dân nhưng chịu sự chi phối của Đảng cầm quyền. Chi phối bằng chủ
17
trương, quyết sách, định hướng, hành động đưa chúng vào đời sống qua luật
pháp, điều hành hoặc phán quyết của tòa án.
Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước mà đại diện là UBND cấp
xã không đơn thuần là sự tác động một chiều. UBND trên cơ sở sự lãnh đạo,
định hướng của Đảng sẽ tự đề ra giải pháp, chiến lược cụ thể để có thể hồn
thành tốt các nhiệm vụ đề ra. Đảng định hướng lãnh đạo nhưng khơng độc đốn,
chun quyền, khơng làm thay nhiệm vụ của UBND.
Thứ hai, mặc dù độc lập với nhau về mặt tổ chức, hai thực thể này có thể
có sự đan xen nhau về mặt nhân sự. Có nghĩa là một cá nhân nhất định có thể
vừa là Đảng viên vừa giữ chức vụ nào đó trong Nhà nước. Sự đan xen này mang
lại ba ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc quản lý đất nước. Lợi ích đầu tiên là
tận dụng được tài năng của quốc gia. Nhân tài hàng đầu quốc gia về mặt chính
trị đồng thời cũng có khả năng quản lý đất nước cực kỳ tốt. Do đó, nếu khơng có
sự đan xen này, tức nếu đã là Đảng viên thì khơng được giữ chức vụ trong bộ
máy Nhà nước, thì sẽ làm hạn chế cơ hội phát triển của người tài. Đồng thời,
hoặc là Đảng, hoặc là Nhà nước đã bị mất đi một nhân sự tốt. Ngồi ra, sự đan
xen này cịn mang lại lợi ích thứ hai, đó là sự chuyển tải tinh thần chính trị qua
điều hành xã hội. Mặc dù hệ thống Nhà nước làm việc của công quyền nhưng
phải quán triệt tinh thần chính trị của Đảng cầm quyền. Sự quán triệt này sẽ giúp
cho cả hệ thống chính trị và hệ thống Nhà nước đồng thuận với nhau, tạo sức
mạnh đoàn kết trong việc lãnh đạo đất nước. Thông qua những người này Đảng
cầm quyền Nhà nước và định hướng đối với xã hội. Cuối cùng, sự đan xen nhân
sự này cịn có tác dụng giám sát hành vi của cá nhân. Một cá nhân sẽ bị giám sát
bởi hai thực thể, điều này khiến cho cá nhân khó có hành vi vi phạm hơn. Ví dụ,
một cá nhân khi vi phạm kỷ luật Đảng nhưng chưa có hành vi vi phạm khi cơng
tác bên hệ thống Nhà nước thì họ cũng sẽ bắt đầu bị giám sát chặt chẽ hơn. Biểu
hiện ra bên ngoài của hai mối quan hệ này là chất lượng của công quyền phản
18
ánh năng lực chính trị của Đảng cầm quyền. Một bộ máy cơng quyền yếu kém,
năng lực khơng hồn thành được nhiệm vụ, tham nhũng, mắc lỗi tác phong trong
điều hành (hách dịch, chây lười, cẩu thả) thì Đảng cầm quyền khơng thể “vơ
can” được. Tất nhiên đó là trách nhiệm chính trị của Đảng (uy tín với xã hội, cơ
hội và niềm tin trong nhân dân…). Bộ máy công quyền đưa xã hội phát triển,
tình hình ổn định thì vị thế chính trị của Đảng được củng cố [22, tr.45].
1.2. Nội dung, phương thức, yếu tố chi phối sự lãnh đạo của Đảng bộ
cơ sở đối với Ủy ban nhân dân
1.2.1. Quan niệm về lãnh đạo và sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với
Ủy ban nhân dân
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền Nhà nước ở các cấp,
từ Trung ương đến cơ sở, có ngun tắc, tính chất, nội hàm chung, nhưng hình
thức thể hiện và nội dung cơng việc có sự khác nhau. Đương nhiên càng xuống
thấp cơ sở, việc lựa chọn, quy định rạch rịi việc gì thuộc lãnh đạo của Đảng,
việc gì thuộc quyền quản lý của Nhà nước là hết sức khó khăn. Ở đây, Đảng,
Nhà nước, đồn thể nhân dân gắn quyện với nhau thành một khối thống nhất, thể
hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Để hiểu được sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với chính quyền địa
phương, trước hết chúng ta cần đưa ra so sánh vấn đề này với sự lãnh đạo của
Đảng đối với chính quyền cấp Trung ương. Ở cả hai cấp, sự lãnh đạo của Đảng
bộ đối với UBND là sự lãnh đạo toàn diện về mọi mặt. Tuy nhiên, khi so sánh sự
lãnh đạo ở hai cấp với nhau chúng ta sẽ thấy được một số nét đặc trưng riêng.
Thứ nhất, khác với sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương và các cơ
cấu lãnh đạo cấp Trung ương của Đảng đối với bộ máy Nhà nước, trước hết, sự
lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với UBND là sự cụ thể hóa sự lãnh đạo của
Đảng đối với một cấp chính quyền ở địa phương. Chính quyền cơ sở là cấp
chính quyền cao nhất ở địa phương nên sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở là sự
19
lãnh đạo tổng hợp, bao trùm nhất đối với địa phương. Sự lãnh đạo này bao trùm
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phịng - an ninh và trật tự an toàn xã
hội trên địa bàn. Đảng lãnh đạo Nhà nước trước hết là bằng đường lối, chính
sách, chủ trương. Ở cấp Trung ương, Đảng trực tiếp quyết định đường lối, ban
hành chính sách. Cịn ở địa phương thì tổ chức Đảng chỉ quyết định nhiệm vụ
chính trị của địa phương và thảo luận, đóng góp ý kiến để Trung ương quyết
định, ban hành đường lối, chính sách phù hợp với địa phương. Xác định nhiệm
vụ của địa phương không được trái với đường lối, chủ trương do Trung ương
Đảng ban hành, không được trái với pháp luật, nghị định, quy định của Nhà
nước. Đồng thời địa phương cụ thể hóa đường lối đó và lãnh đạo tổ chức thực
hiện đường lối đó thơng qua tổ chức Đảng và Đảng viên, thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra, giám sát.
Thứ hai, sự khác nhau nằm ở mức độ, phạm vi, tính chất của các quyết
định và ở sự giới hạn quyền lực. Đối với Trung ương, các quyết định của Trung
ương Đảng được tổ chức Đảng và cán bộ Đảng trong các cơ quan Nhà nước chịu
trách nhiệm thể chế hóa thành luật, chính sách, quy định. Đối với địa phương,
Đảng bộ cơ sở lãnh đạo việc cụ thể hóa nghị quyết của cấp Trung ương, tổ chức
thi hành pháp luật và phối hợp với cơ quan quản lý ngành dọc chịu trách nhiệm
trước Trung ương về sự lớn mạnh hay yếu kém của cơ quan Nhà nước. Điểm giới
hạn ở chỗ, Đảng bộ cơ sở khơng thể có những quyết định riêng và đặt yêu cầu tổ
chức Đảng hoặc cá nhân Đảng viên trong cơ quan Nhà nước thi hành những quyết
sách đó nếu nó vượt quá thẩm quyền và trái với các quy định hiện hành của cơ
quan Nhà nước. Trong trường hợp này, Đảng bộ cơ sở chỉ có thể tự mình hoặc
u cầu cơ quan Nhà nước thuộc quyền kiến nghị với cấp có thẩm quyền.
Thứ ba, sự khác nhau thể hiện chính quyền khơng tự đề ra kế hoạch,
chương trình để thực hiện mà thường là cụ thể để tổ chức thực hiện đường lối,
chính sách của cấp ủy cơ sở. Đối với các nhiệm vụ như tư pháp, an ninh-quốc
20
phịng, vừa lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng bộ địa phương đề ra,
vừa thực hiện các chủ trương, chính sách được cụ thể hóa qua các kế hoạch,
chương trình hành động của cấp huyện, tỉnh vừa thực hiện các chủ trương, chỉ
thị của ngành dọc. Riêng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cấp ủy địa phương
quyết định những vấn đề chung, còn kế hoạch cụ thể, các phương án phòng thủ
do ngành dọc quyết định. Đối với lĩnh vực tư pháp, cấp ủy địa phương lãnh đạo,
chỉ đạo về tư tưởng, ý chí đấu tranh chống tiêu cực, chống tội phạm, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an tồn xã khơng can thiệp vào việc xét xử, tuyên án.
Lẫn lộn chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà
nước là sai, nhưng tách biệt hoàn toàn hai chức năng lãnh đạo và quản lý, nhất là
ở cấp độ địa phương cũng là một sai lầm lớn. Nếu không phân biệt được thì dễ
dẫn đến bao biện, cấp ủy quyết định quá nhiều công việc thuộc chức năng thẩm
quyền của chính quyền, thành cơ quan hành chính, đánh mất sứ mệnh lãnh đạo,
vai trị “đầu não” của mình. Đồng thời, chính quyền Nhà nước sẽ thụ động, ỷ lại,
chờ đợi thực hiện các sứ mệnh của Đảng - không thực hiện được chức năng
quản lý, không phát huy được quyền làm chủ, tính năng sáng tạo của nhân dân.
Nếu tách biệt chức năng lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ở cấp địa
phương, đặc biệt là cấp cơ sở, thực chất là bỏ rơi lãnh đạo hoặc bng lỏng lãnh
đạo, hình thức, khơng hiệu quả. Điều đó, vừa khơng đảm bảo được sự lãnh đạo,
vị trí, vai trị của Đảng, vừa khơng phát huy thực sự vai trò của Nhà nước, của
nhân dân.
1.2.2. Nội dung lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở đối với Ủy ban nhân dân
Sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở vừa mang tính chất lãnh đạo, chỉ đạo,
vừa mang tính chất hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường
lối của Đảng trên thực tế. Để lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động của cả nước,
Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn và chỉ đạo hệ thống tổ chức
Đảng trong các cơ quan Nhà nước cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật.