32
SỰ PHỐI HỢP GIỮA TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÂM LÝ – GIÁO DỤC VÀ
GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT, TRƢỜNG CĐSP HÕA BÌNH VỚI GIA ĐÌNH TRẺ
TRONG CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ KHUYẾT TẬT
Nguyễn Thị Huyền
Đơn vị: Trung tâm NCTLGD&GDĐB
Tóm tắt
Can thiệp sớm (CTS) là một quá trình tác động vào cuộc sống của trẻ và gia đình trẻ
bị khuyết tật nhằm làm thay đổi xu hướng và hệ quả của khuyết tật hay sự chậm phát triển
ở trẻ trước tuổi học Tiểu học. CTS có ý nghĩa quan trọng đối với trẻ, cha mẹ trẻ, gia đình
và cả xã hội. Tuy nhiên, q trình CTS trẻ khuyết tật địi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của rất
nhiều yếu tố, lực lượng giáo dục. Và đương nhiên q trình ấy sẽ khó thành cơng nếu như
thiếu đi sự tham gia tích cực của gia đình trẻ. Trên thực tế sự phối hợp giữa Trung tâm
nghiên cứu Tâm lý- giáo dục và Giáo dục đặc biệt (Trung tâm) và gia đình trẻ cịn gặp
nhiều vướng mắc và khó khăn nên q trình CTS trẻ chưa đạt được hiệu quả như mong
đợi. Bài viết này đã đưa ra một số biện pháp giúp cho sự phối hợp ấy diễn ra có hiệu quả
hơn, giúp Trung tâm thực hiện tốt hơn vai trị của mình trong q trình phối hợp với gia
đình trẻ. Qua đó góp phần thực hiện có hiệu quả các kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ
khuyết tật.
Từ khóa: Trẻ khuyết tật, can thiệp sớm, phối hợp giữa Trung tâm và gia đình
I. Đặt vấn đề
Trong đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015 xác định: “Việc
chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phải được thực hiện với sự hợp tác, gắn kết chặt chẽ giữa
gia đình, nhà trường và xã hội”. Đặc biệt là trong q trình CTS cho trẻ khuyết tật địi hỏi
giáo viên và Trung tâm không chỉ tiếp xúc, hợp tác và làm việc trực tiếp với trẻ và cha mẹ
trẻ mà còn cộng tác với cả một hệ thống các thành viên khác trong gia đình trẻ. Gia đình là
một nhân tố rất quan trọng, là môi trường gần nhất của trẻ, mọi thành viên trong gia đình
đều tiếp xúc với trẻ hàng ngày, kích thích sự phát triển về mọi mặt ở trẻ, đặc biệt là ngôn
ngữ và kĩ năng nhận biết về môi trường xung quanh... Các thành viên trong gia đình chính
là người đầu tiên có thể tạo cơ hội giúp trẻ hình thành các mối quan hệ xã hội, là hình mẫu
về cách ứng xử và cách tổ chức cuộc sống trong gia đình. Điều này sẽ khuyến khích, ni
dưỡng, phát triển tính cách tích cực ở trẻ. Do vậy, q trình CTS sẽ khơng hiệu quả nếu
như khơng có sự tham gia tích cực của gia đình trẻ. Tuy nhiên, trong thực tế sự gắn kết
giữa gia đình và nhà trường/ trung tâm can thiệp vẫn còn rời rạc, chưa liên tục, thống nhất
dẫn đến hiệu quả can thiệp chưa cao.
Xuất phát từ lý do trên, với tư cách là giáo viên đang trực tiếp tiến hành CTS cho trẻ
khuyết tật tại Trung tâm, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
phối hợp giữa trung tâm nghiên cứu Tâm lý – giáo dục và Giáo dục đặc biệt, trường CĐSP
Hòa Bình với gia đình trẻ trong quá trình CTS cho trẻ khuyết tật.
II. Phƣơng pháp nghiên cứu
33
1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
- Tìm hiểu từ các nguồn tài liệu khác nhau về can thiệp sớm, trẻ khuyết tật, phối hợp
giữa gia đình và nhà trường...
- Tơi đã sử dụng các phương pháp phân tích – tổng hợp những tài liệu lí luận có liên
quan đến nội dung nghiên cứu vấn đề: Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật, sự phối hợp giữa
các lực lượng giáo dục.
2. Các phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Các phương pháp khác
III. Các nội dung nghiên cứu
1. Một số khái niệm
1.1. Ngƣời khuyết tật
Khái niệm
Khái niệm “người khuyết tật” được giải thích và định nghĩa dựa vào những lý giải
mang tính cá nhân, thái độ của xã hội, sự hiểu biết về y học, những khía cạnh về văn hóa,
định kiến của con người. Chúng ta thường không nhận thức rõ ràng sự hiểu biết của chúng
ta về khuyết tật nhưng lại có những giả định về những gì hình thành nền tảng hiểu biết và
hành động của chúng ta về những người khuyết tật.
Dưới đây là ba quan điểm về người khuyết tật (NKT) phổ biến và có tính ảnh hưởng
nhất:
- Quan điểm từ thiện về khuyết tật: nhìn nhận người khuyết tật như là nạn nhân của
sự suy giảm chức năng của chính họ. Khuyết tật là một sự thiếu hụt. Phụ thuộc vào tình
trạng khuyết tật mà người khuyết tậ khơng đi lại được, khơng nhìn, khơng học hay khơng
làm việc được. Họ khơng có khả năng để tự phục vụ mình và cuộc sống độc lập.
- Quan điểm y học về khuyết tật: nhìn nhận NKT như những người có vấn đề về thể
chất hay tinh thần cần phải điều trị. Điều này đẩy NKT vào vai trò bị động của người bệnh.
- Quan điểm xã hội học: xem khuyết tật là rào cản về môi trường, giao tiếp, xã hội và
thái độ con người. những rào cản này ngăn NKT tham gia vào xã hội. Quan điểm này chú
ý vào thực tế là NKT bị phân biệt đối xử trong xã hội thông qua sự sợ hãi, định kiến,
những điều luật không tồn tại. Quan điểm xã hội học xem sự khiếm khuyết là một nét đặc
trưng của con người, là một phần tự nhiên trong kinh nghiệm của con người và không nên
giảm bớt quyền cá nhân con người được sống độc lập, có sự lựa chọn, theo đuổi nghề
nghiệp có ý nghĩa và hịa mình vào xã hội.
Trong Luật Người khuyết tật, thì: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động,
sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”
Tại điều 3 Luật NKT cũng quy định rõ các dạng tật bao gồm:
+ Khuyết tật vận động
34
+ Khuyết tật nghe, nói
+ Khuyết tật nhìn
+ Khuyết tật thần kinh, tâm thần
+ Khuyết tật trí tuệ
+ Khuyết tật khác.
NKT được chia theo các mức độ sau:
+ NKT đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện được việc
phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.
+ NKT nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể thực hiện một số việc phục vụ
nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày.
+ NKT nhẹ là NKT không thuộc trường hợp quy định ở hai mức độ trên.
Trong thực tế giáo dục Việt Nam hiện nay, trẻ khuyết tật thường được chia theo các
nhóm sau: Khiếm thị, Khiếm thính, Khuyết tật trí tuệ, Khuyết tật ngôn ngữ, Khuyết tật vận
động, Khuyết tật khác (tự kỷ, khuyết tật học tập…), Đa tật.
1.2. Can thiệp sớm
CTS là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia đình trẻ khuyết tật
trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và
chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thường.
CTS cịn là việc trợ giúp dành cho tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc đã bị khuyết tật.
Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chuẩn đoán trước khi sinh cho đến khi trẻ
đến tuổi đi học tiểu học. CTS liên quan đến cả đứa trẻ, cha mẹ, gia đình và một mạng lưới
rộng lớn.
CTS có ý nghĩa trực tiếp đến đứa trẻ, cha mẹ, gia đình và cả xã hội. Cụ thể:
+ Ý nghĩa đối với trẻ: ngăn ngừa những yếu tố nguy hiểm, những nguyên nhân dẫn
đến chậm phát triển hay rối loạn chức năng ở trẻ. Điều này có thể đạt được bằng cách giúp
trẻ có được sự kích thích và tác động qua lại đúng đắn với mơi trường xung quanh ở giai
đoạn đầu của sự phát triển ở trẻ. CTS sẽ làm giảm các ảnh hưởng của những khuyết tật lâu
dài, cũng có thể phịng ngừa được những hành vi khơng cần thiết gây ra bởi chính khuyết
tật.
+ Ý nghĩa đối với cha mẹ: CTS là phương cách hiệu quả giúp cha mẹ cư xử đúng đắn
với đứa trẻ khuyết tật của họ. CTS giúp cha mẹ khơng phải căng thẳng về vấn đề tình cảm
của mình, do đó góp phần quan trọng vào q trình chấp nhận. CTS làm cho giảm bớt hay
loại trừ sự bất lực của nhiều cha mẹ trong việc xử lý các vấn đề của trẻ, cải thiện mối quan
hệ cha mẹ và đứa con, mối quan hệ tình cảm được cân bằng hơn và tránh được một số
cơng việc chăm sóc trẻ khơng cần thiết.
+ Ý nghĩa đối với gia đình: CTS có thể tránh cho anh/chị/em trong gia đình khỏi rơi
vào thế bất lợi dẫn đến kết quả là chính sự phát triển của chúng lại bị cản trở và một số vấn
đề hành vi có thể nảy sinh. CTS có thể đảm bảo rằng các thành viên trong gia đình biết
cách tự điều chỉnh cho phù hợp với hồn cảnh xử sự khi có đứa trẻ khuyết tật trong nhà.
Như vậy, CTS làm giảm gánh nặng cho gia đình.
35
+ Ý nghĩa đối với xã hội: CTS làm cho xã hội nhận biết được có nhiều đứa trẻ- một
thành viên của cộng đồng xã hội, có quyền nhận được sự giúp đỡ. CTS mở rộng cơ hội hòa
nhập cho trẻ khuyết tật, chúng có thể khơng phải nhờ cậy quá nhiều vào quỹ phúc lợi xã
hội.
2. Thực trạng phối hợp giữa Trung tâm nghiên cứu tâm lý – giáo dục và giáo dục đặc
biệt với gia đình trong CTS cho trẻ khuyết tật
2.1. Những thuận lợi
Quá trình CTS cho trẻ tại Trung tâm luôn nhận được sự quan tâm sát sao của Ban
Giám Hiệu, của lãnh đạo các phòng ban đặc biệt là lãnh đạo Trung tâm và sự ủng hộ, đồng
thuận của lãnh đạo, giáo viên cơ sở thực hành, cũng như của cộng đồng xã hội.
Đội ngũ giáo viên của Trung tâm 100% có trình độ thạc sĩ các chuyên ngành như Tâm
lý, Giáo dục và Giáo dục đặc biệt. Họ đều là những người yêu thương trẻ, gần gũi, thân
thiện, có kỹ năng tương tác với trẻ và kỹ năng giao tiếp, trao đổi cùng phụ huynh...Họ đều
là những giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình và khơng ngừng học tập nâng cao trình độ
chun mơn.
Đa số cha mẹ trẻ là những người có hiểu biết về q trình chăm sóc và giáo dục trẻ
khuyết tật tại nhà, họ cũng chủ động trao đổi cùng với giáo viên can thiệp của Trung tâm
để thực hiện các bài tập trong kế hoạch can thiệp cho con. Họ cũng thấu hiểu và chấp nhận
đồng hành lâu dài cùng con.
Trẻ can thiệp tại Trung tâm đều tham gia học tập tại cơ sở thực hành mầm non Hoa
Sen hoặc có địa chỉ cư trú gần Trung tâm nên việc gặp gỡ, trao đổi giữa giáo viên và phụ
huynh cũng thuận lợi hơn.
Đồng thời cha mẹ trẻ cũng sử dụng nhiều hình thức trao đổi trực tuyến (qua facebook,
zalo, mail...) nên việc trao đổi được diễn ra thường xuyên, liên tục qua từng buổi can thiệp,
thậm chí có hình ảnh, video dễ dàng quan sát...
2.2. Những khó khăn
Nhiều phụ huynh tập trung nhiều cho việc làm kinh tế nên dành rất ít thời gian cho
con: như gia đình bé P.S (36 tháng) bố mẹ đi làm ăn xa giao việc chăm sóc, giáo dục con
cho ơng bà; gia đình bé Q.K (32 tháng): bố mẹ đi làm thêm đến 21h... nên thời gian dành
cho các con cịn ít và đương nhiên việc trao đổi cùng giáo viên không được thường xuyên
và liên tục.
Trung tâm chưa có chế độ phụ cấp cho giáo viên chủ nhiệm, Trung tâm cũng chưa có
kế hoạch cụ thể, định kỳ cho việc họp phụ huynh... nên đôi khi việc trao đổi tiến độ của trẻ
giữa giáo viên can thiệp và phụ huynh còn lúng túng, chưa liên tục.
3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Trung tâm và phụ huynh trong
CTS cho trẻ khuyết tật
3.1. Xây dựng mối quan hệ thân thiết, gần gũi với gia đình trẻ
CTS chỉ có thể thực hiện có hiệu quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên
trong gia đình và giữa gia đình với Trung tâm và các nhà chun mơn khác. Để sự phối
36
hợp được diễn ra thuận lợi, cần thiết phải xây dựng mối quan hệ tích cực với gia đình trẻ.
Chúng ta nên tôn trọng cách sống và khả năng của gia đình trẻ. Cố gắng xây dựng tốt mối
quan hệ tích cực với mọi thành viên khác trong gia đình, đặc biệt những thành viên có
trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ.
Trung tâm thường xuyên khuyến khích các thành viên trong gia đình trẻ tham gia vào
quá trình CTS, ngay từ giai đoạn chẩn đoán, đánh giá, lên kế hoạch giáo dục cá nhân và
thực hiện các hoạt động cụ thể. Hơn ai hết, họ là những người gần gũi hàng ngày với trẻ,
đặc biệt là cha mẹ trẻ. Họ là người hiểu trẻ nên có thể cung cấp nhiều thơng tin cần thiết về
trẻ. Chỉ khi có sự tham gia của gia đình, chúng ta mới có được chương trình can thiệp phù
hợp với khả năng, nhu cầu của trẻ và gia đình, điều này sẽ góp phần tăng thêm hiệu quả
của chương trình CTS.
3.2. Phát hiện và khuyến khích những điểm mạnh của các thành viên trong gia đình
Hiện nay đa số cha mẹ trẻ đã sớm chấp nhận đứa con khuyết tật của mình, họ can
đảm hơn để bắt đầu một hành trình hỗ trợ, tạo thuận lợi để cho con hòa nhập. Nhưng họ lại
lúng túng vì nghĩ rằng mình khơng biết chơi cùng con, mình khơng biết bắt đầu từ
đâu?...Vì thế, ngồi việc tìm kiếm những tiềm năng điểm mạnh của trẻ thì giáo viên cũng
cần lưu ý phát hiện những điểm mạnh của các thành viên trong gia đình trẻ. Cần tìm hiểu
xem mỗi thành viên có thể hỗ trợ trẻ những gì (dù là rất nhỏ), họ có khả năng gì đặc biệt
trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Qua đó khuyến khích họ phát huy và dành thời gian
hỗ trợ trẻ, giúp trẻ phát triển tốt hơn tại gia đình, trường học và xã hội.
3.3. Nội dung phối hợp giữa Trung tâm và gia đình tồn diện hơn
Phối hợp với gia đình trong việc xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp và hiệu quả.
Gia đình trẻ có thể tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình tổ chức CTS và xây
dựng KHGDCN với những mức độ và nội dung khác nhau. Họ có thể cùng các nhà chuyên
môn đánh giá, xây dựng kế hoạch can thiệp cho trẻ cũng như thực hiện kế hoạch này.
Trước khi lên được kế hoạch CTS cho trẻ thì GV cần có thời gian, cơng cụ đánh giá và sự
trợ giúp của các nhà chun mơn khác để có bản đánh giá chính xác về khó khăn trẻ gặp
phải. Mỗi trẻ là một cá thể có đặc điểm và nhu cầu, khó khăn riêng. Vì vậy, kế hoạch CTS
của trẻ A, kỹ thuật can thiệp trẻ A không thể áp dụng cho trẻ B, tùy tình trạng của mỗi trẻ
nhà chuyên môn nên linh hoạt trong cách tiếp cận và áp dụng đối với mỗi trẻ.
Giáo viên cần tư vấn kiến thức và hướng dẫn kĩ năng CTS trẻ khuyết tật cho gia đình.
Hầu hết các gia đình có con khuyết tật đều rất chán nản, thất vọng, họ lúng túng khơng biết
xử lí thế nào, làm sao để giúp trẻ? Nhiều cha mẹ trẻ đem con chạy chữa thậm chí cũng bái
khắp nơi, họ cho rằng chỉ có những chuyên gia mới cứu chữa được và họ muốn trăm sự
nhờ cả vào các chuyên gia. Tư vấn kiến thức về CTS trẻ khuyết tật cho gia đình có ý nghĩa
đặc biệt trong việc hỗ trợ tâm lí, tư vấn kiến thức, kĩ năng CTS trẻ cho gia đình trẻ, giúp họ
thực hiện và phát huy hết khả năng trong việc giúp trẻ phát triển và hợp tác tốt hơn với nhà
trường trong quá trình CTS.
Ở gia đình, cha mẹ trẻ có vai trị quan trọng trong việc giúp đỡ trẻ phát triển về mọi
mặt. Nhưng hầu hết các cha mẹ trẻ đều thiếu kiến thức về can thiệp trẻ khuyết tật. Vì vậy,
giáo viên CTS cần cung cấp cho họ những kiến thức, kĩ năng về CTS trẻ. Từ đó phát huy
37
vai trò của họ đối với sự phát triển của trẻ. Để có thể tư vấn cho gia đình trẻ một cách có
hiệu quả, giáo viên phải ln đặt ra mục tiêu phù hợp, lên kế hoạch làm việc với cha mẹ
trẻ trẻ đồng thời phải linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của trẻ.
Giáo viên tư vấn cho gia đình trẻ quan sát, theo dõi, giúp đỡ trẻ tại nhà như : Đánh
giá trẻ tại gia đình, lên kế hoạch giáo dục cá nhân, tư vấn và hướng dẫn gia đình trẻ thực
hiện theo kế hoạch. Mời các chuyên gia có kinh nghiệm bồi dưỡng kinh nghiệm về cách
thức can thiệp trẻ khuyết tật tại gia đình. Để thực hiện được điều này, bản thân giáo viên
hướng dẫn gia đình cần phải có chun mơn sâu và có kĩ năng hướng dẫn, tư vấn. Sẵn
sàng lắng nghe và chia sẻ với gia đình trẻ. Các cha mẹ trẻ của trẻ phải sẵn sàng học hỏi để
có kiến thức dạy trẻ tại gia đình.
3.4. Tăng cường giao tiếp trao đổi thơng tin giữa nhà trường và gia đình dưới nhiều hình
thức khác nhau
Giao tiếp được xem là nhân tố chủ chốt trong sự phối hợp giữa Trung tâm –gia đình
trẻ - giáo viên- chuyên gia. Thông qua giao tiếp để cung cấp thông tin cho nhau, cùng nhau
giải quyết các vấn đề xung quanh việc giáo dục trẻ. Nhờ có trao đổi, những vấn đề nảy
sinh như bất đồng về phương pháp, quan điểm có thể được tháo gỡ. . . Khi giao tiếp với gia
đình trẻ, Giáo viên khơng nên lấy tư cách “giảng dạy” cho các cha mẹ trẻ mà coi như các
“đối tác quan trọng” trong quá trình giáo dục trẻ.
Trong mối quan hệ hợp tác với gia đình trẻ, Trung tâm khơng chỉ là người chủ động
mà cịn cần khuyến khích gia đình trẻ chủ động liên hệ với Trung tâm, với giáo viên chủ
nhiệm. Sử dụng nhiều hình thức trao đổi giữa Trung tâm và gia đình trẻ như:
- Gọi điện: Nên sử dụng điện thoại như một phương tiện hữu hiệu để liên lạc với gia
đình trẻ. gia đình trẻ sẽ cảm thấy rằng Trung tâm quan tâm đến con mình, điều đó giúp họ
an tâm hơn;
- Gửi thông báo: Giao tiếp bằng văn bản cũng là một phương pháp hiệu quả. Khi
dùng phương pháp này, Trung tâm cũng cần tạo cơ hội cho gia đình trẻ được phản hồi
bằng văn bản hoặc bằng gọi điện.
- Đến thăm gia đình trẻ: Là một cách tìm hiểu thơng tin về cách ứng xử và hồn
cảnh gia đình của trẻ tốt nhất. Điều này sẽ mang lại cho Trung tâm một lượng thơng tin lớn
để có thể hiểu trẻ hơn.
- Tổ chức các cuộc hội thảo: Nhằm cung cấp thông tin về CTS cho số lượng lớn các
gia đình. Một số gia đình trẻ đi dự hội thảo chủ yếu để tìm kiếm thơng tin từ các chuyên
gia trong lĩnh vực CTS, trong khi một số khác chủ yếu mong muốn gặp và nói chuyện với
những cha mẹ khác hoặc nói chuyện với giáo viên và những người tham gia vào CTS cho
trẻ. Hội thảo nên được tổ chức vào một thời điểm thuận tiện một gia đình có được nhiều
người đến dự. Đây là biện pháp cực kì hữu ích để tăng cường sự hợp tác giữa Trung tâm
và gia đình trẻ. Khi tham gia các hoạt động cùng các nhà chun mơn, gia đình sẽ thực
hiện được đúng vai trị của mình trong việc giáo dục trẻ. Sự chung sức của gia đình và
Trung tâm, cụ thể là các nhà chuyên môn sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong CTS trẻ khuyết
tật..
38
- Sử dụng hiệu quả các kênh liên lạc điện tử như qua facebook, zalo, mail: Xã hội
ngày càng phát triển, việc sử dụng các thiết bị thông minh trở nên phổ biến hơn. Trao đổi
với phụ huynh qua các kênh thông tin này cũng dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng hơn. Có
thể cho giáo viên/phụ huynh thấy rõ quá trình thực hiện hoạt động của trẻ ở nhà, ở trung
tâm diễn ra như thế nào?...
Bên cạnh đó, Trung tâm và gia đình cần nhận thức đúng vai trị của mình trong quá
trình CTS cho trẻ; Trung tâm nên giao trách nhiệm và quyền lợi cụ thể hơn đến giáo viên
được phân cơng làm cơng tác can thiệp chính cho trẻ. Bản thân giáo viên can thiệp chính
cần tích cực chủ động, sát sao hơn nữa trong việc lên kế hoạch, theo dõi quá trình can
thiệp cho trẻ và trao đổi với gia đình trẻ….
4. Kết luận
Muốn CTS trẻ khuyết tật có hiệu quả nhất thiết phải coi trọng sự phối hợp giữa
Trung tâm và gia đình. Hơn nữa, đây cũng là cách thức để giáo viên có thể cộng tác tối đa
được với cha mẹ trẻ nhằm hỗ trợ, chia sẻ cho cơng tác chun mơn của mình. Phối hợp với
gia đình là một vấn đề hết sức quan trọng, có tính chất cấp bách, địi hỏi sự quan tâm đặc
biệt của các Trung tâm giáo dục. Nó đòi hỏi sự chuẩn bị kĩ càng về nhận thức và thái độ
của các lực lượng giáo dục. Với tư cách là người có trách nhiệm chính giáo viên và Trung
tâm cần phải được trang bị những kiến thức, kĩ năng cần thiết để có thể thúc đẩy sự tham
gia chủ động của gia đình trẻ trong quá trình CTS trẻ khuyết tật. Đồng thời, khi giao tiếp
với gia đình trẻ khuyết tật, Trung tâm cần thể hiện rõ thái độ tơn trọng, khơng kì thị và
định kiến, hỗ trợ, động viên và chia sẻ với họ một cách chân thành. Để có được mối quan
hệ hợp tác tốt với gia đình trẻ, Trung tâm cần tìm hiểu kĩ về gia đình trẻ và nhận ra các thế
mạnh của mỗi người về chun mơn và năng lực để có thể hợp tác, thu hút họ tham gia có
hiệu quả trong quá trình CTS trẻ khuyết tật.
5. Tài liệu tham khảo
1. Trần Thị Thiệp, Những vấn đề chung về giáo dục hòa nhập, tài liệu bồi dưỡng
NVSP về GDHN trẻ khuyết tật, Hà Nội, 2014.
2. Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Mục, Lê Văn Tạc, Giáo dục trẻ khuyết tật Việt
Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB giáo dục, 2006.
3. Hoàng Thị Nho, Can thiệp sớm và chuẩn bị cho trẻ khuyết tật học hòa nhập, tài liệu
bồi dưỡng NVSP về GDHN trẻ khuyết tật, Hà Nội, 2015.