HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA XÂY DỰNG ĐẢNG
----------------------
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐẢNG
VỀ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
Tên đề tài:
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN
TỘC KHMER Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GVHD: TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan
Người thực hiện: Lê Thị Diễm Trinh
Lớp: Nghiên cứu sinh K27.1
MSV: 27A2020004
HÀ NỘI THÁNG 11/2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
Lý do chọn đề tài
1
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT 3
TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
3
- Cán bộ
3
- Đội ngũ cán bộ
4
- Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
4
1.2. Khái quát vùng Đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer 6
ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội và người Khmer ở vùng Đồng 6
bằng sông Cửu Long
1.2.2. Những yếu tố tác động đến người Khmer ở vùng Đồng bằng7
sơng Cửu Long
+ Tín ngưỡng, tơn giáo
7
+ Phong tục tập quán
10
+ Văn hóa dân gian, giáo dục và lễ hội
12
1.2.3. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ người Khmer ở vùng Đồng
13
bằng sông Cửu Long
Chương 2: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ 15
NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG, THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP
2.1. Thành tựu đạt được trong việc xây dựng và phát triển đội 15
ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long
Nguyên nhân
19
2.2. Hạn chế trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ 20
người dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Nguyên nhân
22
2.3. Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ 24
người dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
KẾT LUẬN
28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan An. (1985). Nghiên cứu về người Khmer ở đồng bằng sơng Cửu
Long. Tạp chí Dân tộc học, số 3.
2. Đặng Quốc Bảo (1995), Quản lý giáo dục, một số khái niệm luận đề.
Trường cán bộ quản lý giáo dục Hà Nội.
3. Chỉ thị 68-CT/TW, ngày 18-4-1991, của Ban Bí thư về cơng tác ở vùng
đồng bào dân tộc Khmer.
4. Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20-10-2015 của Ban Bí thư về tăng cường và
đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Chỉ thị số 19-CT/TW, ngày 10/1/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công
tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới.
6. Quyết định số 402/QÐ/TTg, ngày 14-3-2016, phê duyệt Ðề án phát triển
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới
7. Giáo trình Triết học Mac - Lênin. “Hai nguyên lý của phép biện chứng
duy vật”. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2017.
8. Lê Hương (1969). Người Việt gốc Miên. Nhà xuất bản Sài Gòn, tr.84, 86-87.
9. Quốc hội (2008), Luật số 22/2008/QH12, Luật cán bộ công chức. Hà Nội.
10. Kết luận số 28-KL/TW, ngày 14-8-2012 của Bộ Chính trị về phương
hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc
phịng vùng đồng bằng sơng Cửu Long đến năm 2020.
11. Hồ Chí Minh (2011), tồn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr.309.
12. Nguyễn Xuân Nghĩa. (1979). Tín ngưỡng thờ Arak và Neak Ta. Tạp chí
Dân tộc học, số 3.
13. Nguyễn Xuân Nghĩa. (1984). Đạo Phật tiểu thừa Khmer ở vùng nông
thôn đồng bằng sơng Cửu Long. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4. Hà Nội.
14. Thạc Nhân. (1966). Tìm hiểu văn hóa và xã hội người Việt gốc Miên.
Văn hóa Nguyệt san, bộ mới số 1.
15. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở người Khmer các tỉnh Tây Nam bộ, tạp
chí xây dựng Đảng số 7/2014.
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta. Sinh thời, Người
luôn đặc biệt quan tâm chăm lo đến sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
nói chung, trong đó có cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng. Người ln khẳng
định: "cán bộ là gốc của công việc", "công việc thành công hoặc thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém". Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vai trò của cán bộ
người dân tộc thiểu số càng quan trọng. Bác đã dạy” vì lợi ích mười năm thì phải
trồng cây, vì lợi ích tram năm thì phải trồng người”. Con người là yếu tố quan
trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, không ngừng kiểm tra, củng cố công tác cán bộ là việc tất yếu Đảng và
Nhà nước cần thực hiện. Đặc biệt là những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số như
đồng bằng sông Cửu Long với dân tộc khmer, đội ngũ cán bộ người Khmer chiếm
khá đông so với các dân tộc khác.
Đồng bằng sông Cửu Long - miền Tây Nam Bộ gồm 13 tỉnh, thành phố,
nằm ở hạ lưu sơng Mê Kơng, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu héc-ta, có
biên giới giáp Cam-pu-chia, dài 340km. Tồn vùng có trên 27 thành phần dân tộc
cùng sinh sống, đông nhất là dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, dân số khoảng 17
triệu người; trong đó, dân tộc Khmer có khoảng 1,3 triệu người, chiếm trên 7% dân
số. Đồng bào Khmer Tây Nam Bộ có truyền thống yêu nước, đồn kết, gắn bó
cùng các dân tộc anh em trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, góp phần quan
trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và thực hiện công cuộc đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nơi đây có những đặc thù về dân tộc, tơn
giáo, có gần 1,3 triệu người Khmer sinh sống, chiếm gần 7% số dân tồn vùng.
Trong đó, đơng nhất là Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang... Đồng bào
Khmer ở Nam Bộ đang kế thừa một di sản văn hóa vơ giá, với nhiều loại hình nghệ
thuật độc đáo, như hát múa rô băm, nghệ thuật kịch hát dù kê, nghệ thuật điêu
khắc, trang trí, hội họa, âm nhạc, văn học dân gian…
Những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phịng vùng Đồng bằng sơng Cửu Long và
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của vùng cịn chậm, đời sống nhân dân cịn nhiều khó
khăn; hệ thống chính trị cơ sở chưa thật sự vững mạnh; nhiều vấn đề xã hội bức
xúc chưa được giải quyết. Lợi dụng những khó khăn đó, các thế lực thù địch, các
hội nhóm, tổ chức phản động trong người Khmer lưu vong, nhất là tổ chức phản
động lưu vong “Liên đồn Khmer Krơm” (KKF) đã và đang tiến hành nhiều thủ
đoạn hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc Khmer để chống phá đối với nước ta, với
nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc.
Cán bộ người Khmer có quan hệ dịng họ, hàng xóm láng giềng, gắn bó với
làng xã về chính trị, kinh tế, văn hóa, tình cảm và sinh hoạt trong đời sống, am hiểu
phong tục, tập qn cộng đồng. Vì vậy, những nơi đơng đồng bào Khmer nếu có
cán bộ là người Khmer thì việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước có nhiều thuận lợi và cịn góp phần tích cực tăng cường
đồn kết tồn dân, góp phần bảo đảm an ninh, phát triển bền vững.
Với những lí do trên tôi chọn đề tài xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
người dân tộc Khmer ở vùng Đồng Bằng sơng Cửu Long làm tiểu luận của mình.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
NGƯỜI DÂN TỘC KHMER Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài .
1.1.1. Cán bộ:
Ở Việt Nam từ “cán bộ” được nghe một cách quen thuộc, phổ biến. Hiểu
theo nghĩa thơng thường của người dân thì “cán bộ” được hiểu là người làm việc ở
cơ quan Đảng, Nhà nước. Có cách hiểu khác “cán bộ” là những người mang trọng
trách, cơng vụ và có những quyền hạn nhất định. Tại những trụ sở hành chính
chính cơng, “cán bộ” là danh từ chung được những người dân đến giải quyết công
việc chỉ về những người đang thụ lý hoặc giải quyết một vụ việc cho người dân. Ở
các trại giạm tù nhân sử dụng từ “cán bộ” để chỉ các “quản giáo” phụ trách, quản lý
mình.
Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những
người làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang.
Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương từ
cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự.
Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc , Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu khái niệm cán bộ:
“cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho
Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”[11]
Luật cán bộ, công chức (số 22/2008/QH12) của Quốc Hội nước Cộng hịa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, kỳ họp thứ 4 thơng qua ngày 13-11-2008 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2010 quy định: “cán bộ là công dân Việt Nam,
được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ
quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [9]
Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm
dùng để chỉ những người có chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm làm việc
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang
nhân dân từ Trung ương đến địa phương, thuộc biên chế Nhà nước và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước; giữ vai trị và cương vị nịng cốt trong cơ quan (có thể là
người lãnh đạo, người quản lý), có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát
triển của cơ quan.
1.1.2. Đội ngũ cán bộ:
Theo từ điển tiếng Việt xuất bản 2009, từ “đội ngũ” được hiểu như sau: “đội
ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp” [113, tr.446]. Ví
dụ như: đội ngũ cán bộ, đội ngũ những người làm nghề y, đội ngũ nhà giáo, đội
ngũ những người cây viết trẻ.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau,
cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động
theo một nguyên tắc.[2]
Các khái niệm về đội ngũ tuy có khác nhau, nhưng đều thống nhất “đội ngũ”
là một tập thể người gắn bó với nhau theo cùng lý tưởng, có cùng một mục đích
chung, làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về mặt lợi ích tinh thần và vật
chất cụ thể.Tuy nhiên, dù dùng thuật ngữ nào thì người lãnh đạo, quản lý đều phải
xây dựng gắn kết các thành viên trong đơn vị để tạo ra đội ngũ. Trong đó, mỗi cá
nhân là thành viên của đội ngũ có năng lực, ưu, khuyết điểm và tính cách, sắc thái
riêng gắn kết lại tạo thành một khối thống nhất có chung mục đích, lý tưởng.
Theo đó có thể hiểu đội ngũ ngũ cán bộ là tập hợp số đông những cán bộ có
tổ chức, có kỷ luật, có mối liên hệ chặt chẽ nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ mà cấp
trên giao phó.
1.2.3.
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ
- Xây dựng đội ngũ cán bộ là hoạt động cụ thể nhằm định hướng cho chiến
lược lâu dài và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, tác động đồng bộ lên
một tập thể cán bộ thông qua các khâu của công tác cán bộ từ tuyển dụng, đánh
giá, sử dụng (đào tạo, bổ nhiệm, cất nhắc, luân chuyển) cán bộ, v.v.. Hay nói cách
khác, xây dựng đội ngũ cán bộ tức là quá trình hoạch định chủ trương, phương
hướng cụ thể thông qua công tác cán bộ để đi tới tổ chức thực thi, tạo ra một tập
thể cán bộ.
Mục đích xây dựng đội ngũ cán bộ: có đầy đủ phẩm chất đạo đức và tài năng
theo yêu cầu của tư tưởng Hồ Chí Minh; thực thi nhiệm vụ cách mạng, hồn thành
nhiệm vụ được giao, giải quyết có hiệu quả những vấn đề của yêu cầu thực tiễn đặt
ra, tận tụy phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc… Nói khái quát, xây dựng đội ngũ
cán bộ là để có đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng,
thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng.
Nội dung xây dựng: tập trung xây dựng tư tưởng, chính trị, lập trường, quan
điểm; xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực thực tiễn; tư duy khoa học,
v.v.. Nói tóm lại, là vừa có đức, vừa có tài; vừa hồng, vừa chuyên. Phương thức
xây dựng: xây dựng bộ quy chuẩn để áp dụng thực thi trên tất cả các khâu từ tuyển
dụng, đánh giá, huấn luyện, bố trí cán bộ.
- Phát triển: Thuật ngữ phát triển theo triết học là: “quá trình vận động tiến
lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hồn thiện
hơn của một sự vật. Q trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để
đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình
thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường
xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức
(cấp độ) cao hơn”.[7]
Những đặc trưng cơ bản của phát triển được biểu hiện như: Sự phát triển của
tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ, tác động qua lại và quy định lẫn
nhau; phát triển là quá trình vận động không ngừng; phát triển từ những thay đổi
về số lượng được chuyển hoá thành những thay đổi về chất lượng; phát triển thông
qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập; phát triển có thể diễn ra bằng cách chuyển
hoá, xoáy ốc và nhảy vọt.
Từ khái niệm phát triển đó ta có thể hiểu phát triển đội ngũ cán bộ là một sự
vận động, biến đổi về số lượng, cơ cấu cũng như chất lượng vủa “hồng” vừa
“chuyên” của đội ngũ cán bộ quản lý theo chiều hướng đi lên phù hợp với tình hình
thực tế đúng quan điểm, đường lối chủ trương của đảng, nhà nước đề ra.
1.2. Khái quát vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đội ngũ cán bộ người
Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, xã hội
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tổng diện tích các tỉnh là 40.547,2 km²,
dân số tồn vùng đồng bằng sơng Cửu Long là 17.367.169 người (chiếm 13% diện
tích cả nước). Tính đến thời điểm năm 2021, Đồng bằng sông Cửu Long chia làm
13 tỉnh thành, gồm 1 thành phố Cần Thơ (trực thuộc trung ương) và 12 tỉnh: Long
An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Có vị trí nằm liền kề vùng
Đơng Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía
Đơng Nam là Biển Đơng. Người dân miền Nam thường gọi Vùng đồng bằng sông
Cửu Long là Miền Tây hay tam giác châu sông Mê Kông, Vùng đồng bằng sông
Mê Kông, Vùng đồng bằng Nam Bộ, Vùng Tây Nam Bộ, hoặc Cửu Long. Đây là
vùng cực nam của nước ta, một trong hai phần của Miền Nam Việt Nam (Nam Bộ)
có khí hậu cận xích đạo nên thuận lợi phát triển ngành nơng nghiệp (mưa nhiều,
nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực. Không chỉ sở
hữu vị trí địa lý thuận lợi, mà khu vực đồng bằng Sơng Cửu Long cịn có điều kiện
tự nhiên vơ cùng đặc trưng.
- Khí hậu thuộc loại cận xích đạo nóng ẩm quanh năm, mưa nhiều. Nhiệt độ
trung bình năm là 24 – 27 độ C, với biên độ nhiệt 2- 3 độ C/năm. Nhiệt độ giữa
ngày và đêm thấp. Chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng
10 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Là nơi thường xuyên
hứng chịu những thiên tai, bão lũ từ thiên nhiên nên đời sống sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân thường gặp nhiều khó khăn. Điều kiện khí hậu đặc biệt thích hợp cho
việc trồng trọt nơng nghiệp, thâm canh, tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp tại
vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đất đai phong phú: đất mặn, đất phèn (2,5 triệu ha), đất phù sa ngọt (1,2
triệu ha) có nhiều ở ven và giữa 2 con sơng Tiền và sơng Hậu. Đất có độ phì nhiêu
cao thích hợp trong trồng lúa, rau quả và các loại cây công nghiệp ngắn ngày; đất
phèn: độc tố khá cao, tính chất cơ lý yếu và dễ nứt nẻ. Ngày nay, người ta đang
nghiên cứu các biện pháp cải tạo đất phèn; đất xám: có độ phì nhiêu thấp, nhẹ và
tơi xốp. Loại đất này có nhiều ở biên giới Campuchia và bậc thềm phù sa cổ ở
Đồng Tháp Mười. Diện tích tự nhiên chiếm 12,2% tổng diện tích cả nước
(39,734km2). Rừng chủ yếu là rừng ngập mặn chiếm diện tích tương đối lớn. Có
thể thấy, đất đai tại vùng đồng bằng sông Cửu Long rất thích hợp để trồng các loại
cây như dừa, mía, cây ăn quả…
- Nguồn tài nguyên thủy hải sản phong phú và dồi dào cùng nguồn dầu khí
lớn có trên vùng biển giúp vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển lĩnh vực khai
thác, chế biến. Khoáng sản nổi tiếng là đá vơi, cát sỏi, than bùn…. Nói chung nơi
đây có trữ lượng khống sản khơng đáng kể.
Với điều kiện tự nhiên như vậy, đồng bằng sông Cửu Long rất thuận lợi để
phát triển nông nghiệp đặc biệt là cây lúa nước, hệ thống kênh rạch chằng chịt, có
nhiều vùng nước mặn nước lợ cửa sông, ven biển rộng lớn đem lại nguồn lợi lớn
về thuỷ sản, đánh bắt thủy sản, phát triển giao thông đường thuỷ và nuôi trồng thuỷ
sản nước ngọt. Tuy nhiên bên mặt thuận lợi vẫn cịn tồn đọng nhiều hạn chế khó
khăn như: diện tích đất phèn, đất mặn lớn nên cần được cải tạo, thiếu nước ngọt
trong mùa khô; vào mùa mưa lũ kéo dài với diện rộng và thời gian dài.
Dân số ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đông (chỉ sau đồng bằng Sông
Hồng) và đa dạng, gồm nhiều dân tộc khác nhau như: dân tộc Kinh, Khmer, Chăm,
Hoa…chiếm đa số là người Kinh. Khu vực này trước đây từng là một phần của Đế
quốc Khmer, do đó là vùng tập trung người Khmer nhiều nhất bên ngoài nước
Campuchia. Người Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Kiên
Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Long,…Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long
tăng chậm trong những năm gần đây, chủ yếu do di cư đi nơi khác. Dân số vùng
tăng 471.600 người từ năm 2005 đến 2011, trong khi đó 166.400 người di cư chỉ
trong năm 2011. Tương tự như vùng duyên hải miền Trung, đây là một trong
những nơi tăng dân số chậm nhất nước. Tỷ lệ tăng dân số trong khoảng 0,3% đến
0,5% từ năm 2008 đến 2011, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số vùng Đông Nam Bộ lân
cận là 2%. Tỷ lệ tăng dân số cơ học trong vùng là âm trong những năm này. Tỷ lệ
sinh của vùng cũng khá thấp, ở mức 1,8 trẻ em trên mỗi người phụ nữ vào năm
2010 và 2011, giảm từ 2,0 năm 2005.
Đồng bào Khmer Nam Bộ đồng tộc, đồng tôn và cùng ngôn ngữ với người
Khmer ở Campuchia. Trong quá trình phát triển lịch sử, họ trở thành dân tộc của
hai quốc gia riêng biệt. Người Khmer Nam Bộ là dân tộc thiểu số trong cộng đồng
dân tộc Việt Nam. Là dân tộc tại chỗ, người Khmer gắn chặt với sự phát triển của
vùng đất Nam Bộ; đồng thời nhạy cảm với diễn biến tình hình của Campuchia. Đa
số dân tộc Khmer sống bằng nghề nông, địa bàn cư trú chủ yếu là vùng nông thôn.
Dân tộc Khmer có nền văn hố, ngơn ngữ phát triển lâu đời, được bảo tồn,
khai thác và phát huy trong cuộc sống. Hầu hết đồng bào Khmer theo đạo Phật,
phái Nam Tông, gồm hai hệ phái Mahanikai và Thomajud. Ở Nam Bộ có khoảng
450 chùa và gần 10.000 vị sư đang tu học. Phật giáo Nam Tông Khmer, Dân tộc và
tôn giáo gắn chặt với nhau. Triết lý, văn hoá Phật giáo thấm sâu trong đời sống tinh
thần của dân tộc Khmer. Dấu tích của Bà La Mơn giáo và tín ngưỡng dân gian còn
thể hiện khá rõ trong phong tục tập quán của dân tộc Khmer. Suốt quá trình phát
triển lâu dài, các dân tộc trên địa bàn đã cùng nhau chia sẻ những khó khăn, thách
thức và góp phần quan trọng tạo nên những thành tích chung. Từ khi có sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tinh thần tương trợ, đoàn kết giúp đỡ nhau càng
được phát huy. Nó trở thành một truyền thống quý báu, tạo nên sức mạnh trong sự
nghiệp Cách mạng.
1.2.2. Những yếu tố tác động đến người Khmer ở vùng Đồng bằng sông
Cửu Long
- Về Tín ngưỡng, tơn giáo
Đối với đồng bào Khmer, họ luôn quan niệm rằng “vạn vật hữu linh”. Chính
vì thế, thần mưa, thần sơng, thần rừng,… luôn ngự trị trong tâm thức của người
Khmer đồng bằng sơng Cửu Long.
Tín ngưỡng thờ Arak và Neak-ta rất phổ biến. Trước đây, mỗi dòng họ của
người Khmer có một Arak hoặc nhiều Arak. Arak được thờ bởi nhiều dịng họ
(Arak chua bua: của dịng họ). Arak khơng chỉ là thần bảo hộ dòng họ mà theo
quan niệm của người Khmer đồng bằng sơng Cửu Long, Arak cịn là thần bảo hộ
nhà cửa (Arak pteh), thần bảo hộ gia đình (Arak phta), thần bảo hộ đất đai nơi cư
trú (Arak phum)…Arak đi khắp nơi trong phum không cố định chỗ ở như Neak Tà.
Neak Tà là vị thần bảo hộ của một khu vực đất đai của đồng bào Khmer. Tuy
nhiên, nguồn gốc của hình thái tín ngưỡng này về nét dị biệt của nó theo địa
phương vẫn chưa được thống nhất. Thực chất, thuật ngữ “tà” dùng để chỉ một
người đàn ơng lớn tuổi. Ơng Tà của đồng bào Khmer được ẩn dưới nhiều hình
thức: Neak Tà trơng coi phum sóc, Neak Tà canh giữ chùa, Neak Tà canh giữ đất
đai. Ngồi ra cịn có những ơng Tà “quan sát” ngã 3 ngã 4 sông. Thông thường,
ông Tà hay “ẩn thân” dưới dạng những hòn đá.
Phật giáo đóng vai trị quan trọng và có vị trí cao nhất trong mọi lĩnh vực
của đời sống người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Đa số, họ là Phật tử của
Phật giáo Nam tơng. Nói cách khác, người Khmer vừa là thành viên của phum sóc
(Kon sóc) đồng thời họ cũng là “con Phật” ngay từ lúc họ mới ra đời. Hầu hết, sóc
của đồng bào Khmer đều có chùa (mỗi sóc có ít nhất một ngơi chùa Phật giáo).
Tuổi thọ của nhiều ngôi chùa lên đến hàng trăm năm tuổi. Ngôi chùa của người
Khmer được xây dựng ở vị trí trung tâm của sóc, vừa rộng rãi vừa cao ráo với dáng
vẻ sừng sững, nguy nga và tráng lệ. Đó là một quần thể kiến trúc và tiêu biểu cho
nghệ thuật văn hóa truyền thống của người Khmer [12]
Ngơi chùa chính là trung tâm sinh hoạt tơn giáo của mỗi sóc Khmer. Đây là
nơi tu hành của các vị sư sãi, đồng thời còn là nơi những người dân trong sóc đến
để nghe các vị sư giảng về kinh Phật. Ngồi ra, bà con trong bổn sóc đến chùa để
xin những lời khuyên của các vị sư sãi khi họ bắt đầu một công việc mới cũng như
những vấn đề xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Đồng bào Khmer tự nguyện đến
chùa để làm cơng quả góp phần xây dựng và tu tạo ngôi chùa. Chùa Khmer còn là
nơi tổ chức những lễ hội lớn trong năm của người Khmer như: lễ mừng năm mới
Chol Chnam Thmei, lễ cúng ông bà tổ tiên (Đôn ta) và những nghi lễ Phật giáo.
Trong chùa cịn có trường học dạy chữ Khmer cho con em người dân Khmer trong
sóc. Chùa dạy chữ Pali cho các vị sư sãi để đọc kinh Phật. Có thể nói, chùa Khmer
vừa là trung tâm tơn giáo, trung tâm văn hóa, giáo dục và xã hội của mỗi sóc,
phum. Người Khmer đã bỏ nhiều cơng sức, vật chất để xây dựng ngơi chùa của sóc
khang trang và họ tự hào về ngơi chùa của mình. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp
được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngơi chùa Khmer
của Phật giáo Nam tơng (Thérévada), ngồi tượng Ðức Phật Thích Ca được thờ
duy nhất và chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong
phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư cịn lại của Bà la mơn giáo và tín
ngưỡng dân gian.
- Về phong tục tập quán
Sinh nở được xem là sự kiện quan trọng trong gia đình. Mỗi lần sinh là bắt
đầu cho vòng đời mới của một kiếp người. Chính vì thế, người Khmer cịn gọi sinh
đẻ là “đi biển” (chh’lon tonlê). Quan niệm xưa của người Khmer khi mang thai,
người phụ nữ không được phép đi ra khỏi nhà với nhiều lý do khác nhau. Phụ nữ
sinh con không được đến nhà ai trong giai đoạn ở cữ. Người Khmer cho rằng
người phụ nữ lúc này sức khỏe yếu sau lần “vượt cạn” và cơ thể không sạch sẽ
(dơ), không mang đến sự may mắn cho người khác. Đứa trẻ sau khi sinh được 1
tháng, làm lễ cắt tóc “trả ơn mụ” và làm lễ đặt tên cho bé. Trong thời gian nuôi
con, nếu đứa trẻ bị bệnh gia đình thường cúng Arak “cầu xin hết bệnh”[13]
Khi đứa trẻ được 12 tuổi, nếu là con trai cho vào chùa đi tu để được học chữ
và kinh Phật. Quan niệm của người Khmer, con trai đi tu là để báo hiếu cho cha
mẹ. Đối với con gái, gia đình người Khmer phải nhờ nhà sư làm lễ “Trận đạm”
(Tchen t’an) trước 11 tuổi hay còn gọi là lễ “phá tân” cho các cô gái. Sau khi kết
thúc lễ, cha mẹ cô gái phải “xin chuộc” nếu không cô gái ấy sẽ thuộc về nhà sư mãi
mãi và không được lấy người nào khác [8]
Khi đã trưởng thành, người con gái Khmer phải chấp hành nghiêm túc tập
tục “vào bóng mát”. Các cơ gái tự giam mình trong buồng tối 6 tháng để tránh mặt
trời và mọi người xung quanh. Trước cửa buồng, cha mẹ cô gái “đánh dấu” cấm
không cho ai vào. Trong thời gian này, các cô gái chăm chỉ học may vá, thêu
thùa… Trước khi kết thúc giai đoạn này, gia đình cơ gái nhờ Acha làm lễ tạ. Trong
buổi lễ, có nghi thức “tìm chồng tương lai”. Vị Acha đổ 1 thúng gạo xuống chiếu
và vùi vào đó một số vật “tượng trưng” cho người chồng tương lai cho cô gái. Đêm
đến, cô gái gối đầu trên đống gạo ngủ. Sáng dậy, cơ gái lấy tay thọc vào đống gạo
tìm bất kỳ vật gì (khơng có sự lựa chọn). Vật bắt được tượng trưng cho “bản chất”
của người chồng cô gái sau này (bói tương lai). Ví như cơ gái bắt phải cái vỏ chai
về sau chồng của cô gái sẽ là người nát rượu [8]
Đối với đồng bào Khmer, xưa nay luôn cho rằng cưới xin là nét sinh hoạt
truyền thống thuộc lĩnh vực văn hóa dân gian gắn liền với phong tục tập quán của
cộng đồng. Đám cưới của người Khmer với nhiều nghi thức bắt nguồn từ truyền
thuyết, truyện cổ tích. Mùa cưới bắt đầu khi đã thu hoạch xong mùa màng và trước
Tết Chol Chnam Thmei. Việc cưới xin là vấn đề quan trọng của cả đời người.
Người Khmer cho rằng, mùa màng trúng, thất (được mùa hay mất mùa) có năm
nhưng cưới hỏi “sai 1 li đi 1 dặm”. Chính vì thế, muốn dựng vợ gả chồng cho con
cái phải “xem kỹ” phẩm hạnh, đạo đức của chàng rễ, nàng dâu và cả gia đình của
họ. Hơn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Hôn nhân
thường trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới thường được tổ chức ở bên
nhà gái. Sau khi cưới, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua vài
năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng nhưng vẫn cư trú bên ngoại. Trai gái Khmer khi
đến tuổi trưởng thành được tự do u đương. Gia đình có con trưởng thành, họ tự
tìm hiểu yêu nhau hoặc do mai mối. Nếu được cha mẹ đồng ý thì tiến hành làm lễ
cưới. Theo quan niệm của người Khmer, đó là ngày gối đôi. Dân gian thường gọi
là ngày “Pi-pea” hay “Apea Piea”. Ngày nay, cộng đồng người Khmer ở các tỉnh
Đồng bằng Sơng Cửu Long vẫn cịn giữ được phong tục lễ cưới giàu bản sắc văn
hoá dân tộc.
Tang ma của người Khmer có phần khác so với cộng đồng cùng sinh sống.
Họ không để tang người chết. Người Khmer đồng bằng sông Cửu Long quan niệm
rằng, cái chết chưa phải là chấm dứt cuộc sống mà vẫn “sống” ở một thế giới khác.
Chính vì thế, người thân trong gia đình chuẩn bị tiễn đưa người chết với nhiều nghi
thức phức tạp và con cháu thường xuyên “làm phước”, mang nhiều lễ vật cúng cho
chùa và sư sãi. Đồng bào Khmer tin rằng, những lễ vật ấy sẽ theo khói nhang và
tiếng kệ lời kinh đến được với cha mẹ cũng như ông bà của họ ở thế giới bên kia.
Tùy theo con cháu “trên này” làm phước ít hay nhiều thì cuộc sống “bên kia” của
họ sung sướng hay chật vật.
Đối với người Khmer, tục hỏa thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ
trong tháp "Pì chét đẩy" xây cạnh ngơi chính điện trong chùa. Tuy nhiên, những
người chết bất đắc kỳ tử như chết đuối, chết dịch bệnh hoặc ít tuổi (trẻ con) đem
chơn nơi xa với hòm vỏ như tập tục người Việt [14]. Theo phong tục của người
Khmer, xem ngày thiêu xác phải cẩn thận (nhất là ngày thứ 3 trong tuần thì khơng
được lập giàn hỏa). Nếu lập ngày đó, con cháu về sau làm ăn không tốt. Trường
hợp đang tiến hành lễ hỏa táng, nếu trời mưa người Khmer cũng tin rằng đó là
điềm khơng lành sẽ mang đến những bất hạnh cho gia chủ và con cháu.
- Về văn hóa dân gian, giáo dục và lễ hội
Văn hóa dân gian, người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ
như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngơn, truyện cười. Bên cạnh đó, họ cịn
có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có
nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðơng Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa
tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hố Khmer. Trong các ngơi chùa
Khmer của Phật giáo Nam Tơng Khmer Nam bộ, ngồi tượng Ðức Phật Thích Ca
được tơn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ
thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư cịn lại của Bà la mơn
giáo và tín ngưỡng dân gian. Đối với đồng bào Khmer, những ngày lễ quan trọng
trong năm cũng chính là những dịp tổ chức các hình thức sinh hoạt dân gian. Ca
hát có vần điệu giống như ca dao Việt Nam, thường có hai nhịp mau và chậm. Lối
hát được người Khmer ưa thích là hát “azay” cùng với cây đàn cán dài có 2 dây.
Điệu múa lâm thơn đặc biệt được đồng bào Khmer yêu thích. Dàn nhạc ngũ âm là
nhạc khí đặc trưng của người Khmer đồng bằng sơng Cửu Long.
Vấn đề giáo dục của người Khmer có những nét đặc biệt, đồng bào có một
hệ thống văn tự rất sớm. Đa phần, hệ thống giáo dục do các nhà sư trong chùa đảm
nhiệm. Người Khmer rất coi trọng việc học tập, nhất là học tiếng dân tộc, kinh Phật
theo tiếng Pali [1]
Lễ hội và phong tục tập quán của người Khmer ở đồng bằng sơng Cửu Long
thường hịa quyện vào nhau. Trong từng lễ (bund) có nhiều nghi thức (pithi). Ở
mỗi nghi thức cụ thể đều có sự đan xen giữa yếu tố tơn giáo và tín ngưỡng dân
gian. Các lễ hội của người Khmer gắn với sinh hoạt thường ngày. Người Khmer
khơng có sự phân biệt “rạch rịi” giữa phong tục tập quán với lễ hội, các yếu tố lễ
và hội quyện vào nhau cho chúng ta thấy sự phong phú của lễ hội dân tộc. Lễ hội
của đồng bào Khmer gắn liền với đạo đức, lối sống và ước nguyện của con người
trong cuộc sống. Đồng bào thực hiện những nghi lễ mong sao cho quan hệ giữa
con người và thiên nhiên tốt hơn.
1.2.3. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở vùng Đồng
bằng sông Cửu Long
Đội ngũ cán bộ người Khmer có quan hệ dịng họ, hàng xóm láng giềng, gắn
bó với làng xã về chính trị, kinh tế, văn hóa, tình cảm và sinh hoạt trong đời sống,
am hiểu phong tục, tập quán cộng đồng. Được học tập, rèn luyện, thử thách trong
thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu chấp hành chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có ý thức tổ chức, kỷ
luật, gắn bó mật thiết với Nhân dân, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của Nhân
dân.
Nhiều cán bộ Khmer có sự cầu tiến, khắc phục khó khăn trong cơng tác và
học tập; nhiều đồng chí được sắp xếp, bố trí giữ chức vụ quan trọng, chủ chốt trong
cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị.
Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán
bộ người Khmer ở đồng bằng sơng Cửu Long đã có nhiều chuyển biến quan trọng.
Tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số tham gia các cơ quan hệ thống chính trị ngày
càng nhiều. Trình độ các mặt của cán bộ được nâng lên qua các lớp đào tạo, bồi
dưỡng, tập huấn, từ trình độ học vấn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước đến
chun mơn nghiệp vụ. Có nhiều con em đồng bào các dân tộc Khmer được vào
học hệ thống dân tộc nội trú, cử tuyển vào các trường cao đẳng, đại học, trung học
chuyên nghiệp nhằm tạo nguồn cán bộ trong tương lai. Trình độ, năng lực của đội
ngũ cán bộ ở các địa phương và các xã, phường, thị trấn trong vùng đồng bào
Khmer tuy được nâng lên, nhưng chất lượng chưa đồng đều; một số xã, phường,
thị trấn có đơng đồng bào Khmer nhưng chưa bố trí được cán bộ chủ chốt là người
Khmer theo yêu cầu cơ cấu. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số cấp ủy
cơ sở trong vùng đồng bào Khmer đôi lúc chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng nắm
tình hình, vận dụng chủ trương của cấp trên vào điều kiện thực tế địa phương cịn
yếu; tính tiền phong, gương mẫu của một số ít cán bộ, đảng viên chưa cao.
Chương 2:
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC
KHMER Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
THỰC TRẠNG - GIẢI PHÁP
2.1. Thành tựu đạt được trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ người dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trên cơ sở 02 Chỉ thị của Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 68-CT/TW, ngày
18-4-1991, về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer và Chỉ thị số 19-CT/TW,
ngày 10-1-2018, về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong
tình hình mới. Ban Bí thư đều yêu cầu các địa phương thực hiện tốt công tác cán
bộ trong hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc Khmer. “Có thể nói, Chỉ thị 68CT/TW, Chỉ thị số 19-CT/TW và các quy định của Trung ương đã được các địa
phương vùng Tây Nam bộ cụ thể hóa và triển khai thực hiện khá phù hợp với điều
kiện của từng địa phương. Qua đó, cơng tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số, nhất là cán bộ người Khmer ở vùng Đồng bằng sơng Cửu
Long đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ”. Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 402/QÐ/TTg, ngày 14-3-2016, phê duyệt Ðề án phát triển
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới.
Theo thống kê từ Vụ Ðịa phương III, Ủy ban Dân tộc, năm 2019, trên địa bàn 8
tỉnh (An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh,
Vĩnh Long) và TP Cần Thơ
Số lượng, chất lượng đảng viên và cán bộ, công chức, viên chức dân tộc
thiểu số ở các địa phương có đơng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong vùng
Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng nâng lên, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.
- Số lượng đảng viên dân tộc thiểu số là người Khmer được nâng lên: có gần
24.600 đảng viên trên 17.500 cán bộ, cơng chức, viên chức người dân tộc thiểu số.
Hiện nay, có 20 cán bộ đảng viên người dân tộc thiểu số tham gia ban chấp hành
tỉnh ủy; trong đó có 01 đảng viên người Khmer là Ủy viên Ban chấp hành Trung
ương Ðảng khóa XIII, 05 đồng chí tham gia ban thường vụ tỉnh ủy. Trong đó, 01
đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng, 01 đồng chí là Phó Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh.
Trên địa bàn 9 tỉnh, thành phố nêu trên có 10 đại biểu là người dân tộc thiểu số
trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV; có 44 đại biểu người dân tộc thiểu số trúng
cử HÐND cấp tỉnh. [15]
- Tổng số cán bộ, công chức người Khmer đang công tác tại các cơ quan
đảng, đồn thể cấp xã của vùng Đồng bằng sơng Cửu Long có 772 người. Trình độ
của đội ngũ này từng bước được nâng lên nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng chung. Về
trình độ chun mơn, trong tổng số 772 người có 90 người trình độ đại học
(11,7%), cao đẳng 21 người (2,7%), trung cấp 285 người (36,8%), vẫn còn 360 cán
bộ, công chức cấp xã người Khmer chưa qua đào tạo (49,9%). Về trình độ lý luận
chính trị, cao cấp có 29 người (3,8%), trung cấp 346 người (44,8%) là dân tộc
Khmer. Có hơn 50% số cán bộ, cơng chức cấp xã vẫn chưa được đào tạo hoặc ở
trình độ sơ cấp. Về tin học, số cán bộ, công chức người Khmer đã qua đào tạo là
232 (30%). Số cán bộ, cơng chức có trình độ ngoại ngữ chiếm tỷ lệ thấp hơn, chỉ
có 95 người (12,3%), số cịn lại chưa được đào tạo.
- Trong quy hoạch cán bộ cơ sở, số cán bộ người Khmer được đưa vào quy
hoạch nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước. Là một trong những tỉnh có đơng
đồng bào Khmer nhất (chiếm 30,7% dân số), Tỉnh ủy Sóc Trăng ban hành Kế
hoạch số 07-KH/BTCTU về quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản
lý người dân tộc Khmer đến năm 2015 và Kế hoạch số 10-KH/BTCTU về củng cố,
nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở nơi có đơng đồng bào dân
tộc, tôn giáo. Tỉnh ủy Hậu Giang đã xây dựng quy hoạch BCH Đảng bộ 3 cấp
nhiệm kỳ 2015-2020, trong đó quy hoạch BCH đảng bộ xã, phường, thị trấn, có
2.449 đồng chí được quy hoạch, đạt hệ số 1,6 lần so với số lượng cấp ủy đương
nhiệm (người Khmer có 13, chiếm 0,5%).[15]
- Việc quán triệt, triển khai thực hiện các chủ trương, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cấp ủy đảng ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở về
học vấn, chun mơn, lý luận chính trị, trong đó có người Khmer, điển hình như:
+ Trà Vinh có Nghị quyết số 03 NQ/TU về phát triển tồn diện vùng đồng
bào dân tộc Khmer giai đoạn 2011-2015. Kế thừa và phát huy những kết quả đạt
được trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 03 NQ/TU, ngày 7-6-2016, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh có Kế hoạch số 18-KH/TU về tạo nguồn cán bộ nữ,
cán bộ dân tộc giữ chức danh lãnh đạo quản lý các cấp trong tỉnh nhiệm kỳ 20202025 và những năm tiếp theo. Với quyết tâm chính trị cao, tinh thần trách nhiệm
của từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong triển khai thực hiện, đến nay, tỉnh Trà
Vinh đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trong phát triển đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số. Giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 140 cán bộ, cơng chức, viên chức
là người dân tộc Khmer, chiếm 17,7% trong tổng cán bộ, công chức, viên chức của
tỉnh được cử đi đào tạo đại học, sau đại học; 3.330 cán bộ, công chức, viên chức
người dân tộc Khmer, chiếm 13,15% trong tổng số cán bộ công chức, viên chức
của tỉnh được cử đi bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước. Tỉnh cũng triển khai
chính sách thu hút, trọng dụng, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức người dân tộc thiểu số. Theo đó, tỉnh tiếp nhận 62 sinh viên người dân
tộc Khmer có trình độ đại học công tác ở xã, phường, thị trấn và hợp tác xã nông
nghiệp. Tỉnh cũng thu hút được 26 ứng viên là người dân tộc thiểu số tham gia
thực hiện đề án Thu hút bác sĩ về công tác trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn
2013-2020”
+ Sóc Trăng: với Kế hoạch số 07-KH/BTCTU về quy hoạch, đào tạo và sử
dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc Khmer đến năm 2015 và Kế hoạch số
10-KH/BTCTU về củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ
sở nơi có đơng đồng bào dân tộc, tơn giáoTừ năm 2015 đến tháng 9-2020, tồn tỉnh
đã kết nạp được 11.895 đảng viên, trong đó có 2.248 đảng viên người Khmer.
Hàng năm, tỷ lệ tổ chức đảng và đảng viên trong vùng có đơng đồng bào Khmer
được xếp loại chất lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 85%. Công tác
quy hoạch tạo nguồn, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ người Khmer có nhiều chuyển
biến về nội dung và phương pháp, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ người Khmer
trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Tồn tỉnh
có khoảng 4.983 cán bộ, cơng chức, viên chức người Khmer, chiếm tỷ lệ 18,62%
so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh; có hơn 405 cán bộ, cơng
chức, viên chức người Khmer giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp; hiện có 1 đại
biểu Quốc hội khóa XIV, 454 đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, 5
đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, 35 đồng chí cấp ủy cấp huyện và
tương đương, 307 đồng chí cấp ủy viên cấp cơ sở và có 159/775 bí thư chi bộ đồng
thời là trưởng ban nhân dân ấp, khóm là người Khmer. Riêng đối với 52 xã,
phường, thị trấn có đơng đồng bào Khmer, có 179/781 đồng chí cấp ủy viên là
người Khmer, tỷ lệ 22,92%, trong đó có 59 đồng chí cán bộ chủ chốt.
+ Tỉnh ủy Hậu Giang có Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 11-8-2011 về việc huy
động đảng viên ở xã, phường, thị trấn chưa tốt nghiệp THPT đi học, trong đó có
cán bộ, đảng viên người Khmer. Tuy nhiên, việc đào tạo mới chú trọng về lý luận
chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ mà chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng lãnh đạo,
quản lý, điều hành, nhất là xử lý những tình huống ở cơ sở. Việc luân chuyển cán
bộ thường từ dưới lên. Luân chuyển từ trên xuống còn hạn chế. Chưa chú ý luân
chuyển cán bộ cơ sở người Khmer ở địa phương này sang công tác tại các địa
phương khác nhằm khắc phục tình trạng nơi có đơng đồng bào Khmer lại khơng có
cán bộ người Khmer. Bố trí, sử dụng cán bộ người Khmer vào các vị trí chủ chốt
cấp cơ sở mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa tương xứng với yêu cầu.
+ Tỉnh Cà Mau, Chương trình số 20-CTr/TU ngày 17-3-2008 của Tỉnh ủy về
tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18-4-1991 của Ban Bí thư về cơng
tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, Kế hoạch số 24-KH/TU ngày 18-6-2009 về
xây dựng hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc Khmer. Theo đó, những cán bộ
cơ sở người Khmer khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được hỗ trợ một phần kinh
phí... có 25 xã có đơng đồng bào Khmer sinh sống nhưng hiện chỉ có 1 chủ tịch
UBND xã và 4 phó chủ tịch UBND xã là người Khmer. Nhìn chung, việc thực hiện
chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở người Khmer không có gì khác so với cán
bộ cấp cơ sở chung.
Mặc dù các cấp ủy đã thực hiện nhiều biện pháp nhưng kết quả vẫn chưa đáp
ứng yêu cầu đề ra. Theo thống kê của Vụ Địa phương III, Ban Tổ chức Trung
ương, tính đến tháng 6-2011, tính riêng các cơ quan đảng, đồn thể cả vùng Tây
Nam Bộ có 207 (5,4%) cán bộ cấp xã qua bầu cử là người Khmer. Đối với một số
tỉnh có đơng đồng bào Khmer sinh sống, tỷ lệ cao hơn, chẳng hạn ở Trà Vinh cán
bộ là người Khmer chiếm khoảng hơn 10% tổng số cán bộ cơ sở. Hậu Giang có 18
cán bộ người Khmer đang công tác tại các cơ quan đảng, mặt trận, đoàn thể cấp xã
trên tổng số 1.241 người, chiếm 1,45%; trong khi số người Khmer trên tổng số dân
là 3,47%. Tỉnh Cà Mau có 17 cán bộ, cơng chức cấp xã là người Khmer trên tổng