TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
——
🕮
——
BÀI THẢO LUẬN
MÔN: KINH TẾ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Đề tài: So sánh môi trường đầu tư SingaporeViệt Nam và một số khuyến nghị
Giảng viên hướng dẫn
: Nguyễn Thị Thanh
Nhóm thực hiện
:2
Lớp HP
: 2162FECO2022
Hà Nội, 2021
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ThS. Nguyễn Thị
Thanh. Trong q trình học tập và tìm hiểu bộ mơn Kinh tế đầu tư quốc tế, chúng em đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn rất tận tình, nhiệt huyết của cơ. Cơ đã giúp
chúng em tích lũy thêm nhiều kiến thức để có cái nhìn sâu sắc và hồn thiện trong cuộc
sống. Từ những kiến thức mà cơ đã truyền tải đã trang bị cho chúng em những kiến thức
cơ bản, hữu ích phục cho việc học tập và nghiên cứu.
Có lẽ kiến thức là vơ hạn mà sự tiếp nhận kiến thức của bản thân mỗi người ln
tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, trong q trình hồn thành bài thảo luận, chắc
chắn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Bản thân chúng em rất mong nhận được những
góp ý đến từ cơ để bài thảo luận của chúng em được hồn thiện hơn.
Kính chúc cơ sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên con đường sự nghiệp giảng
dạy.
Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2021
MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
i
Danh mục các bảng
ii
Danh mục các hình
iii
Tóm tắt
1
1. Đặt vấn đề
2
2. Cơ sở lý thuyết
3
3
2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
2.1.1. Khái niệm
3
2.1.2. Đặc điểm
3
2.2. Môi trường đầu tư
4
2.2.1. Khái niệm
4
2.2.2. Sự cần thiết nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế
4
2.3. Các yếu tố môi trường đầu tư ảnh hưởng tới thu hút FDI
4
2.3.1. Mơi trường chính trị và thể chế
4
2.3.2. Mơi trường pháp lý
5
2.3.3. Môi trường kinh tế
6
2.3.2. Cơ sở hạ tầng
7
2.3.5. Khả năng tiếp cận nguồn lực
7
3. So sánh môi trường đầu tư của Singapore và Việt Nam
3.1. Tình hình thu hút FDI của Singapore và Việt Nam
3.2. So sánh môi trường đầu tư của Singapore và Việt Nam
8
8
13
3.2.1. Môi trường chính trị và thể chế
13
3.2.2. Mơi trường pháp lý
16
3.2.3. Mơi trường kinh tế
25
3.2.4. Cơ sở hạ tầng
29
3.2.5. Khả năng tiếp cận các nguồn lực
30
3.3. Đánh giá chung về môi trường đầu tư của Việt Nam trong tương quan so sánh
với Singapore
32
4. Đề xuất một số giải pháp cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam
1
35
4.1. Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng hiệu quả hơn
35
4.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách thủ tục hành chính
36
4.3. Ổn định mơi trường kinh tế vĩ mô.
37
4.4. Cải thiện cơ sở hạ tầng
37
4.5. Giải pháp về nguồn nhân lực
38
Danh mục tài liệu tham khảo
iv
2
Danh mục từ viết tắt
Từ viết
tắt
Nghĩa tiếng Anh
Nghĩa tiếng Việt
ASEAN
Association of South East Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam
Á
CPI
Corruption Perceptions Index
chỉ số nhận thức tham nhũng
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA
Free Trade Area
hiệp định thương mại tự do.
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
TI
Transparency International
Tổ chức Minh bạch Quốc tế
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
WEF
World Economic Forum
Diễn đàn Kinh tế thế giới
WIPO
World Intellectual Property
Organization
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
1
Danh mục các bảng
Bảng
Tên bảng
Trang
1
Bảng so sánh yếu tố Thành lập doanh nghiệp giữa Việt Nam và
Singapore
16
2
Bảng so sánh yếu tố Cấp giấy phép xây dựng giữa Việt Nam và
Singapore
17
3
Bảng so sánh Tuyển dụng và sa thải lao động giữa Việt Nam và
Singapore
18
4
Bảng so sánh về Quy định làm thêm giờ giữa Việt Nam và Singapore
20
5
Bảng so sánh về Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số giữa Việt Nam và
Singapore
21
6
Bảng so sánh về Hệ thống thuế và đóng thuế giữa Việt Nam và
Singapore
22
7
Bảng so sánh về Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số giữa Việt Nam và
Singapore
24
8
Bảng so sánh về Giải quyết tình trạng mất khả năng thanh tốn giữa
Việt Nam và Singapore
25
2
Danh mục các hình
Hình
Tên hình
Trang
3.1
Đầu tư trực tiếp nước ngồi, dòng vốn vào ròng (USD) của Singapore
và Việt Nam
8
3.2
Những lĩnh vực thu hút FDI nhiều nhất năm 2020 vào Việt Nam
9
3.3
Những lĩnh vực thu hút FDI nhiều nhất năm 2020 vào Singapore
10
3.4
Các quốc gia đầu tư vào Việt Nam năm 2020
11
3.5
Các quốc gia đầu tư vào Singapore năm 2020
12
3.6
Biểu đồ thể hiện chỉ số ổn định chính trị của Singapore và Việt Nam
14
3.7
Biểu đồ chỉ số tham nhũng của Singapore và Việt Nam giai đoạn
2012-2020
15
3.8
GDP của Singapore và Việt Nam (tỷ USD)
26
3.9
Tăng trưởng GDP của Việt Nam và Singapore (%)
26
3.10
GDP bình quân đầu người của Singapore và Việt Nam (USD)
27
3.11
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Việt Nam và
Singapore (%)
27
3.12
Lạm phát, giá tiêu dùng (% hàng năm) - Singapore, Việt Nam
28
3
SO SÁNH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ SINGAPORE-VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
KHUYẾN NGHỊ
Nhóm 2: Phạm Thị Huyền (K56EK2), Vũ Nam Khánh (K56EK1), Nguyễn Mai Nhật
Linh (K56EK2), Nguyễn Thị Thùy Linh (K55EK1), Nguyễn Thị Lý (K56EK2), Vũ Thị
Trà My (K56EK2), Đỗ Hải Nam (K56EK1).
Học phần: Kinh tế đầu tư quốc tế
Mã lớp học phần: 2162FECO2022
Tháng 11.2021
Tóm tắt
Từ những thơng tin thu thập được của các tổ chức như: World Bank, Doing
Business, The Global Economy, Transparency, Transparency International,... bài thảo
luận tập trung vào so sánh môi trường đầu tư của Singapore và Việt Nam. Kết quả cho
thấy môi trường Việt Nam tuy chưa thu hút đầu tư bằng mơi trường Singapore nhưng
lại có nhiều lợi thế hơn môi trường Singapore và hứa hẹn sẽ thu hút đầu tư trong những
năm gần đây như: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, nguồn nhân
lực dồi dào, thị trường rộng lớn, chi phí cạnh tranh, chính sách ưu đãi hấp dẫn, nền kinh
tế đang hội nhập ngày càng sâu rộng và vị trí địa lý thuận lợi...Tuy nhiên mơi trường
Việt Nam cũng có một số hạn chế nổi bật: tham nhũng, thủ tục phức tạp, cơ sở hạ tầng
hạn chế, chất lượng lao động cịn thấp,.. Từ việc so sánh mơi trường đầu tư giữa hai
nước nhóm đã trình bày một số giải pháp để cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam
nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư.
Từ khố: Mơi trường đầu tư, FDI, Singapore và Việt Nam
1
1.
Đặt vấn đề
Hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển nhanh chóng và đầu
tư nước ngoài đang trở thành xu thế quan trọng, các nước đang và kém phát triển có rất
nhiều cơ hội đầu tư để cải thiện và phát triển nền kinh tế nước nhà nhờ việc thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Không những bổ sung cho nguồn vốn đầu tư phát triển, góp phần
đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực
trong nước, mà cịn tiếp nhận được cơng nghệ, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị
trường,... Vấn đề thu hút đầu tư trong bối cảnh hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó mơi trường thu hút đầu tư đóng vai trị quyết định.
Trên phạm vi thế giới, nhiều nghiên cứu cho thấy, FDI có vai trị quan trọng đối
với nền kinh tế quốc gia đang phát triển. Trong đó, Việt Nam liên tục phát đạt được
bước phát triển tích cực, ln đứng trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển nhanh,
vị thế trên thị trường ngày càng cao; đời sống người dân được nâng lên, thứ tự năng lực
cạnh tranh quốc tế được cải thiện.
Riêng 6 tháng đầu năm 2020, Singapore đã thu hút được khoảng 14,3 tỷ SGD
(tương đương 11 tỷ USD), tổng vốn đầu tư FDI tính đến cuối tháng 12/2020, 58 tỷ USD,
giảm 37% so với năm ngoái. Xét với Việt Nam, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 8,65
tỷ USD trong 6 tháng đầu 2020, so với cả năm thu hút 29 tỷ USD vốn FDI.
Dịch Covid đang làm dòng vốn có sự dịch chuyển mạnh mẽ, dần trở thành thách
thức đối với các quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư. Để đón đầu xu hướng dịch chuyển,
các quốc gia đang đưa ra các biện pháp nhằm duy trì FDI.
Ngày 24/10, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố kết quả xếp hạng mơi trường kinh
doanh Doing Business 2020, theo đó Việt Nam tăng 1,2 điểm (từ 68,6 lên 69,8 điểm),
nhưng giảm 1 bậc xếp hạng chung (từ vị trí 69 xuống vị trí 70). Trong khi đó Singapore
vấn giữa cho mình vị trí Á qn với 86,2 điểm so với năm ngoái là 85,24.
Bảng xếp hạng Doing Business năm 2020 do WB công bố cho thấy:
Singapore xếp #4 trong thành lập doanh nghiệp, #5 trong cấp giấy phép xây dựng;
#7 về đóng thuế; #3 trong bảo vệ nhà đầu tư và #1 về thực thi hợp đồng.
Trong khi đó, Việt Nam xếp #115 trong thành lập doanh nghiệp; #25 trong xử lý
giấy phép xây dựng; #97 trong việc bảo vệ nhà đầu tư; #109 về đóng thuế và #68 trong
thực thi hợp đồng. Sự chênh lệch về thành tích, thứ hạng của 2 quốc gia bắt nguồn từ
một số vấn đề cần phải giải quyết: Một là tình trạng quy hoạch và hệ thống pháp lý nói
chung chưa được cải thiện hiệu quả, các luật sách chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau, quy
định chưa đầy đủ hoặc chưa được cụ thể hóa; Các chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh
mẽ đối với các nhà đầu tư phá vỡ cam kết. Hai là môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định
và khó dự đốn. Ba là các điều kiện để thúc đẩy kinh doanh trong các lĩnh vực phát triển
2
FDI còn chưa phát triển. Bốn là thủ tục hành chính, vấn đề thiếu minh bạch, tham nhũng
và vấn đề bảo vệ nhà đầu tư.
Nhóm chúng em chọn đề tài “So sánh môi trường đầu tư của Singapore - Việt Nam
và một số khuyến nghị” mong muốn thông qua đánh giá, so sánh môi trường đầu tư giữa
các quốc gia để hiểu rõ thêm về môi trường đầu tư của các quốc gia này. Việc so sánh
môi trường đầu tư giữa Việt Nam và Singapore để có cái nhìn khách quan, tồn diện
hơn về mơi trường tại Việt Nam, đồng thời qua đó đề ra giải pháp kịp thời nhằm cải
thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam.
2.
Cơ sở lý thuyết
2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
2.1.1. Khái niệm
FDI (Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hoặc tổ
chức nước này vào nước khác bằng cách thiết lập nhà xưởng sản xuất, cơ sở kinh doanh.
Mục đích nhằm đạt được các lợi ích lâu dài và nắm quyền quản lý cơ sở kinh doanh này.
2.1.2. Đặc điểm
FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế rất lớn. Vì vậy, mục đích
hàng đầu của FDI chính là mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Thu nhập mà chủ đầu tư
thu được mang tính chất là thu nhập kinh doanh chứ khơng phải lợi tức. Loại hình thu
nhập này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh.
Muốn thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển, các nước được đầu tư cần phải có
hành lang pháp lý rõ ràng. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp
định là cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Đồng thời, lợi nhuận và rủi ro
của các nhà đầu tư cũng tương ứng với tỷ lệ này. Chủ đầu tư có quyền tự quyết định đầu
tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Bên cạnh đó, họ còn
được tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư… Vì thế có thể đưa ra những
quyết định phù hợp nhất mang lại lợi nhuận cao. Nhà đầu tư phải góp đủ số vốn tối thiểu,
tùy theo quy định của mỗi quốc gia để được tham gia kiểm sốt hoặc kiểm sốt doanh
nghiệp nhận đầu tư.
Thơng thường, FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng mới hay mua lại một
phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động, bằng việc mua cổ phiếu để thông tin
xác nhận.
3
2.2. Môi trường đầu tư
2.2.1. Khái niệm
Theo NHTG (BCP TTG 2005), môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố địa phương
có tác động tới các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm
và mở rộng hoạt động.
Môi trường đầu tư là tổng hợp và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp tới quyết định đầu tư của các chủ thể.
Môi trường đầu tư quốc tế là tổng hòa các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư
ra nước ngoài của chủ đầu tư cũng như hoạt động của nhà đầu tư ở nước ngồi.
Một mơi trường đầu tư tốt là mơi trường vừa tạo lợi nhuận cho các cơng ty (tối
thiểu hố chi phí và rủi ro), vừa cải thiện kết quả cho toàn xã hội (thúc đẩy đổi mới, tăng
đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, tăng năng suất, tạo việc làm, giá hàng hóa dịch vụ giảm...).
2.2.2. Sự cần thiết nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế
Đối với doanh nghiệp, nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế là căn cứ quan trọng
để các nhà đầu tư quyết định có đầu tư hay không, đầu tư ở đâu, lĩnh vực gì, quy mơ dự
án ra sao...vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận.
Đối với chính phủ, nghiên cứu mơi trường đầu tư quốc tế để các chính phủ thấy
điểm mạnh, điểm yếu của quốc gia mình trong việc tạo lập mơi trường kinh doanh tốt.
Trên cơ sở đó đề ra các chính sách, biện pháp thích hợp nhằm cải thiện môi trường đầu
tư để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngồi, đặc biệt là FDI.
2.3. CácyếutốmơitrườngđầutưảnhhưởngtớithuhútFDI
2.3.1. Mơi trường chính trị và thể chế
Hệ thống chính trị (political system) là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực
chính trị được xã hội chính thức thừa nhận (từ điển bách khoa tồn thư Việt Nam). Hệ
thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm
các Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội được liên kết với nhau
trong một hệ thống cấu trúc, chức năng với các cơ chế vận hành và mối quan hệ giữa
chúng nhằm thực thi quyền lực chính trị. Hệ thống kinh tế, luật pháp được định hình
trên hệ thống chính trị.
Mức độ ổn định chính trị là độ bền vững và tính tồn vẹn của một chế độ chính
quyền hiện hành. Điều này được xác định dựa trên lượng bạo lực và khủng bố diễn ra
trong cả nước và bởi các công dân liên quan đến nhà nước. Một xã hội ổn định là một
xã hội trong đó người dân hài lòng với đảng cầm quyền và hệ thống điều hành và không
quan tâm đến ý tưởng cách mạng, hay chuyên quyền.
4
Ổn định chính trị địi hỏi cơng chúng phải được tương tác một cách tự do và cởi
mở với các nhà lập pháp một cách thường xuyên. Việc cho các cá nhân có tiếng nói về
cách thức điều hành quốc gia giúp tăng cường sự ổn định của khu vực.
Môi trường chính trị và thể chế được đánh giá qua chỉ số ổn định chính trị và chỉ
số cảm nhận tham nhũng (CPI).
Chỉ số ổn định chính trị là một chỉ số đánh giá các quốc gia về mức độ an toàn
quốc gia.
Chỉ số cảm nhận tham nhũng trong tiếng Anh là Corruption Perceptions Index,
viết tắt là CPI. Chỉ số cảm nhận tham nhũng là một chỉ số đánh giá các quốc gia về mức
độ tham nhũng mà chính phủ họ được cho là vậy. CPI được công bố hàng năm bởi Tổ
chức Minh bạch Quốc tế, một tổ chức ra đời trong nỗ lực ngăn chặn hối lộ và các hình
thức tham nhũng trên tồn thế giới.
Trong đó, các chỉ số dựa trên đánh giá của các chuyên gia và khảo sát doanh nhân,
một là sử dụng thang điểm giá trị từ 0 đến 100, giá trị càng cao thì càng tốt; hai là sử
dụng theo thứ hạng (rank) có giá trị từ 1 đến 190, giá trị rank càng thấp thì càng tệ.
2.3.2. Mơi trường pháp lý
Mơi trường pháp lý đề cập tới các quy định pháp luật mà các tổ chức doanh nghiệp
phải tuân theo trong quá trình hoạt động, từ khi thành lập cho tới khi đóng cửa doanh
nghiệp.
Một số yếu tố mơi trường pháp lý, theo báo cáo Doing Business của World Bank
thì nó được thể hiện qua 5 chỉ số gồm : (1) thành lập doanh nghiệp; (2) cấp giấy phép
xây dựng; (3)các quy định về lao động; (4) bảo vệ nhà đầu tư; (5) hệ thống thuế và đóng
thuế; (6) thực thi hợp đồng; (7) Mất khả năng thanh toán.
(1)
Thành lập doanh nghiệp: được thể hiện qua số lượng các thủ tục
(procedures), thời gian để làm thủ tục thành lập doanh doanh nghiệp (time),...
(2)
Cấp giấy phép xây dựng: được thể hiện qua số lượng thủ tục, thời gian cấp
phép, chi phí và mức độ kiểm sốt chất lượng,...
Trong đó, chỉ số kiểm sốt chất lượng là các chỉ số về chất lượng sản phẩm,, tỷ lệ
than phiền về chất lượng sản phẩm của khách hàng.
Việc chú trọng vào các chỉ số này làm cho doanh nghiệp nâng cao được chất lượng
sản phẩm đầu ra, giảm tỷ lệ than phiền về chất lượng của khách hàng, giúp kiểm sốt
được các thơng số q trình, đào tạo quy trình và các chỉ số kiểm sốt chất lượng cho
công nhân vận hành.
(3)
Các quy định về lao động: được thể hiện ở việc tuyển dụng, sai thải, một
số quy định làm thêm giờ, tiền lương.
5
(4)
Bảo vệ nhà đầu tư: thể hiện đo lường mức độ về cơng bố thơng tin mình
bạch, chính xác, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và mức độ dễ chấp nhận cổ đơng
nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Chỉ số sức mạnh bảo vệ nhà đầu tư (0 đến 10), theo các nguồn quốc tế được chính
thức cơng nhận do Ngân hàng Thế giới tổng hợp. Điểm mạnh của chỉ số bảo vệ nhà đầu
tư là trung bình của 3 chỉ số - chỉ số mức độ công bố thông tin, mức độ chỉ số trách
nhiệm của giám đốc và chỉ số mức độ dễ dàng của việc phù hợp với cổ đông. Chỉ số dao
động từ 0 (ít hoặc khơng bảo vệ nhà đầu tư) đến 10 (bảo vệ nhà đầu tư nhiều hơn).
Chỉ số công bố thông tin được hiểu là các chỉ số về đo lường mức độ công bố thông
tin trong các tài liệu cụ thể theo một danh sách các mục thông tin đã được lựa chọn. Các
loại thông tin được lựa chọn bao gồm thông tin bắt buộc hoặc thông tin tự nguyện hoặc
cả hai. Số lượng các khoản mục thơng tin có thể từ vài khoản mục đến vài trăm khoản
mục tùy vào từng nghiên cứu.
(5)
Hệ thống thuế và đóng thuế: được thể hiện qua số lượng khoản thuế phải
đóng mỗi năm, thời gian hồn thành nghĩa vụ và tỷ lệ đóng góp lợi nhuận,...
(6)
Thực thi hợp đồng: được thể hiện ở việc thời gian thực thi, chỉ số chất
lượng quy trình, mức độ áp dụng các thơng lệ nhằm thúc đẩy chất lượng và hiệu quả của
tòa án,..
(7)
Mất khả năng thanh toán: thể hiện qua tỷ lệ thu hồi, thời gian và chi phi
bất động sản, độ mạnh của chỉ số mất khả năng thanh tốn.
Trong đó, chỉ số giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán là chỉ số thể hiện
mức độ khả năng xử lý tình trạng mất khả năng thanh tốn của 1 doanh nghiệp. Mất khả
năng thanh tốn là một tình trạng khó khăn tài chính, hay là trạng thái tài chính mà ở đó
một người hoặc một chủ thể khơng cịn có thể thanh tốn các hóa đơn hoặc nghĩa vụ
khác. Sở Thuế vụ Mỹ (IRS) định nghĩa một chủ thể mất khả năng thanh toán khi tổng
nợ phải trả vượt quá tổng tài sản của chủ thể đó.
Chỉ số này giúp ta đánh giá, từ đó Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
giúp các đối tượng quan tâm biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa
ra các phương án quản trị hay đầu tư, cho vay thích hợp.
2.3.3. Mơi trường kinh tế
Mơi trường kinh tế có thể hiểu là trạng thái của các yếu tố kinh tế vĩ mô xác định
sự lành mạnh, thịnh vượng của nền kinh tế, có tác động đến các doanh nghiệp và các
ngành.
6
Môi trường kinh tế gồm các yếu tố như: hệ thống kinh tế; chu kỳ của nền kinh tế;
tăng trưởng của nền kinh tế, quy mô thị trường; thất nghiệp và tiền lương; lạm phát, chi
phí sản xuất và sinh hoạt; chính sách tài khóa và tiền tệ; cán cân thanh tốn.
Một số chỉ số phân tích mơi trường kinh tế: Tổng sản phẩm nội địa GDP; Tổng thu
nhập quốc gia GNI; Tính tốn các chỉ số trên đầu người; Tỷ lệ thay đổi các chỉ số; Sức
mua tương đương (Purchasing Power Parity - PPP); Chỉ số phát triển con người (Human
Development Index - HDI).
Trong đó, chỉ số tổng sản phẩm quốc nội GDP là chỉ số đo lường tổng giá trị thị
trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định. GDP phản ánh giá trị sản xuất thực hiện trong
một khoảng thời gian cụ thể. Khoảng thời gian này thường là một năm hoặc một quý.
GDP phản ánh lượng thu nhập hay chi tiêu trong thời kỳ đó.
Chỉ số tổng thu nhập quốc dân là chỉ số kinh tế xác định tổng thu nhập của một
quốc gia trong một thời gian, thường là một năm. Đây là chỉ tiêu đo thực lực của quốc
gia. Thu nhập quốc dân tương tự như Tổng sản lượng quốc gia – GNP, chỉ khác biệt ở
chỗ GNP không trừ đi thuế gián thu và khấu hao.
Chỉ số phát triển con người (HDI) là thước đo tổng hợp phản ánh sự phát triển của
con người trên các phương diện thu nhập (thể hiện qua tổng sản phẩm trong nước bình
quân đầu người), tri thức (thể hiện qua chỉ số học vấn) và sức khỏe (thể hiện qua tuổi
thọ bình qn tính từ lúc sinh).
2.3.2. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm cơ sở hạ tầng kinh tế và cơ sở hạ tầng xã
hội. Cơ sở hạ tầng kinh tế là một bộ phận thuộc những ngành phục vụ cho quá trình sản
xuất tạo ra sản phẩm hoặc tiếp tục q trình sản xuất trong lưu thơng hàng hóa. Nó sẽ
gồm hệ thống đường xá, giao thơng vận tải, thủy lại, cấp thoát nước, sân bay, bến cảng…
Cơ sở hạ tầng xã hội là những cơ sở vật chất kỹ thuật dùng để phục vụ cho các hoạt
động văn hóa, xã hội, đời sống và giáo dục. Đó có thể là các cơng trình cơng cộng, nhà
ở, bệnh viện, nhà hát…
Sự sẵn có của cơ sở hạ tầng tạo thuận lợi cho hoạt động của FDI. Cơ sở hạ tầng
cịn cho phép giảm chi phí, tăng khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
2.3.5. Khả năng tiếp cận nguồn lực
Các nguồn lực mà nhà đầu tư có thể tiếp cận: đất đai, vốn, lao động. Khả năng tiếp
cận các nguồn lực ảnh hưởng tới đầu tư như sau: tiếp cận đất đai khó khăn sẽ trở thành
rào cản lớn cho FDI đầu tư mới hoặc mở rộng; tiếp cận vốn ảnh hưởng tới khả năng đầu
7
tư và mở rộng của doanh nghiệp; nhà đầu tư ngày càng quan tâm tới nguồn lao động có
kỹ năng.
Tại nhiều quốc gia đang phát triển thì tiếp cận đất đai vẫn là rào cản lớn của các
doanh nghiệp; thị trường bất động sản chưa phát triển; đăng ký bất động sản vẫn cịn
nhiều thủ tục; giải phóng mặt bằng cịn nhiều khó khăn…Ngồi ra, một tỷ lệ khơng cao
các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng do Chi phí giao dịch cao
(khơng chính thức), thủ tục thế chấp và thủ tục vay vốn, tính minh bạch, thị trường tài
chính hạn chế…
3.
So sánh mơi trường đầu tư của Singapore và Việt Nam
3.1. Tình hình thu hút FDI của Singapore và Việt Nam
●
Đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI):
Hình 3.1: Đầu tư trực tiếp nước ngồi, dịng vốn vào ròng (USD) của Singapore và
Việt Nam
Nguồn: World Bank (2010,2011,2012,2013,2014,2015,2016,2017,2018,2019)
Việt Nam:
Theo số liệu của World Bank, giai đoạn từ năm 2011- 2014 dịng vốn FDI có sự
dao động liên tục và tăng nhẹ từ 7.43 tỷ USD năm 2011 lên 9.2 tỷ USD vào năm 2014.
Từ sau năm 2015 dịng vốn FDI vào Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ và liên tục, với
tổng vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2015 là 11.8 tỷ USD, thì đến năm 2019 con số này
tăng lên 16.12 tỷ USD. Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế tồn
cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên dịng vốn đầu tư nước ngồi vào Việt Nam có sự
sụt giảm. Với số vốn FDI 16.12 tỷ USD năm 2020, lần đầu tiên, Việt Nam lọt top 20
nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất thế giới. Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(KH&ĐT) cho thấy, 8 tháng đầu năm Việt Nam thu hút được 19,12 tỷ USD vốn FDI,
bằng 97,9% so với cùng kỳ năm 2020. Vốn FDI đăng ký cao hơn chủ yếu do vốn đăng
8
ký cấp mới đổ vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng. Mức tăng trên cho thấy
các nhà đầu tư nước ngồi tiếp tục duy trì lịng tin với nền kinh tế Việt Nam trong trung
và dài hạn.
Với lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư thông thống, mơi trường chính trị ổn
định, mơi trường kinh tế vĩ mô phát triển ổn định, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí
thấp, Việt Nam là một trong những quốc gia hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ
các lợi thế đó, dịng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng tăng lên,
đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song
phương và đa phương.
Singapore:
Trong những năm vừa qua, đặc biệt trong giai đoạn 2010-2020, dịng vốn FDI vào
Singapore tăng lên vượt bậc. Singapore ln là một trong những quốc gia thu hút FDI
lớn nhất khu vực Châu Á. Nhìn vào những con số thống kê của World Bank, dễ dàng
nhận thấy là trong khoảng thời gian 10 năm kể từ năm 2010 đến năm 2020, dòng vốn
FDI vào Singapore đã tăng một cách nhanh chóng từ 55.322 tỷ USD (năm 2010) lên
120.439 tỷ USD (năm 2019). Việc tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn FDI vào
Singapore chính là nhờ những chính sách thu hút đầu tư FDI hiệu quả mà chính phủ
nước này đã sử dụng trong những năm vừa qua. Năm 2020, Singapore là quốc gia tiếp
nhận dòng vốn FDI lớn thứ 5 trên thế giới, sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hà Lan và Hồng
Kơng. Các nhà đầu tư chính ở Singapore là Hoa Kỳ, Quần đảo Cayman, Quần đảo Virgin
thuộc Anh và Hà Lan. Ngoài ra, sự gia tăng về số lượng dự án của Singapore trong quý
3 năm 2020 có thể cho thấy sự phục hồi FDI sắp xảy ra trong khu vực, báo cáo cho biết.
Việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gần đây cũng có thể
giúp thúc đẩy tăng trưởng FDI.
Nhìn vào biểu đồ miền ta thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Singapore đều cao
hơn Việt Nam trong suốt giai đoạn năm 2010-2020. Tại năm 2019 đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Singapore cao gấp gần 8 lần so với Việt Nam, một khoảng cách tương đối lớn.
Điều này cũng dễ hiểu bởi chủ trương của Chính phủ Singapore là biến đất nước này trở
thành một trung tâm thương mại, tài chính của khu vực và thực trạng thu hút này là một
dấu hiệu vô cùng khả quan, là thành công của Singapore trong thực hiện chiến lược thu
hút FDI nhằm mục đích phát triển kinh tế theo định hướng của nước này. Không những
thế Singapore dẫn đầu trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt
Nam. Do đó, để thu hút nhiều hơn dịng vốn FDI các nền kinh tế của Việt Nam cần phải
thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng và chuyển đổi năng lượng, cũng như tăng cường tính
tự cường của các nền kinh tế, cùng với việc chú trọng lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.
●
Lĩnh vực vực thu hút FDI nhiều nhất:
Việt Nam:
9
Hình 3.2: Những lĩnh vực thu hút FDI nhiều nhất năm 2020 vào Việt Nam
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020)
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2020, các nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó cơng nghiệp chế biến, chế tạo dẫn
đầu với tổng vốn đầu tư đạt 13,6 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh
vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,1 tỷ USD, chiếm
18% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực hoạt động kinh doanh
bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn đăng ký gần 4,2 tỷ USD và trên 1,6 tỷ USD.
Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì năm 2021, cơ khí chế biến, chế tạo
chiếm chiếm 47,2% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 7 tháng 2021. Lĩnh vực cơ khí, chế
tạo chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu hút đầu tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Đáng chú ý, lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng
mạnh. Trong 7 tháng qua, cả nước có 1.006 dự án FDI mới được cấp giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư, trải rộng vào 18 ngành, lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực cơng nghiệp chế
biến, chế tạo dẫn đầu thu hút đầu tư với tổng vốn đầu tư đạt 7,9 tỷ USD, chiếm 47,2%
tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là các lĩnh vực sản xuất, phân phối điện; kinh doanh
bất động sản; bán buôn, bán lẻ; hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ…
Singapore:
Hình 3.3: Những lĩnh vực thu hút FDI nhiều nhất năm 2020 vào Singapore
10
Nguồn: Investment Map (2020)
Singapore có một nền kinh tế đa dạng, thu hút nhiều đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực
sản xuất (hóa dầu, điện tử, máy móc và thiết bị) và dịch vụ (dịch vụ tài chính, thương mại
bán buôn và bán lẻ và dịch vụ kinh doanh). Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Singapore trong
năm 2018 đạt tổng cộng 219 tỷ USD (Cục quản lý thương mại quốc tế Singapore), chủ
yếu vào các công ty phi ngân hàng, sản xuất (đặc biệt là máy tính và sản phẩm điện tử),
tài chính và bảo hiểm. Singapore vẫn là nước nhận FDI của Mỹ lớn nhất châu Á. Hiệp
hội cơng nghệ tài chính Singapore (SFA) và Cơng ty tư vấn quản lý Oliver Wyman cho
biết đầu tư vào công nghệ tài chính của Singapore đã tăng mạnh trở lại trong quý II, lên
278 triệu USD, gấp hơn 4 lần so với mức 68 triệu USD được ghi nhận trong quý I năm
2020 (Oliver Wyman).
Theo Investment Map, các hoạt động tài chính và bảo hiểm cho đến nay vẫn là lĩnh
vực tiếp nhận chính của đầu tư nước ngồi, chiếm 53,96% tổng nguồn vốn FDI, tiếp
theo là thương mại và sản xuất bán buôn, bán lẻ. Theo Giám sát Xu hướng Đầu tư Tồn
cầu mới nhất của UNCTAD được cơng bố vào ngày 27 tháng 10 năm 2020, FDI của
Singapore đã giảm 28% trong do sự sụt giảm mạnh trong các hoạt động mua bán và sáp
nhập xuyên biên giới và sự sụt giảm đáng kể trong các dự án đầu tư vào lĩnh vực xanh
đã công bố. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn đứng đầu trong việc tiếp nhận FDI trong khu
vực.
Vài năm trở lại đây, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) liên tục giữ vai
trò quan trọng dẫn dắt mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp cũng như toàn
nền kinh tế Việt Nam. Nhà nước Việt Nam, theo hướng giảm dần tỷ lệ hàng thô và tăng
tỷ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao trong CBCT, từ đó tác động lan tỏa và
dẫn dắt việc cơ cấu lại tồn ngành cơng nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham
gia sâu hơn vào chuỗi giá trị cơng nghiệp tồn cầu. Cịn Singapore tập trung vào thu hút
hoạt động tài chính và bảo hiểm.
●
Đối tác (quốc gia) đầu vào nhiều nhất:
Việt Nam:
11
Hình 3.4: Các quốc gia đầu tư vào Việt Nam năm 2020
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư (2020)
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có 112 quốc gia và vùng
lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong năm 2020. Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư
gần 9 tỷ USD, chiếm 31,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ hai với
tổng vốn đầu tư trên 3,9 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư. Trung Quốc đứng vị trí
thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,46 tỷ USD, chiếm 8,6% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo
là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kơng,…
Singapore:
Hình 3.5: Các quốc gia đầu tư vào Singapore năm 2020
Nguồn: Investment Map (2020)
Theo Investment map năm 2020, Mỹ dẫn đầu trong việc đầu tư vào Singapore với
tổng vốn đầu tư 33,602 tỷ USD, chiếm 37,2% tổng vốn đầu tư so với thế giới; Hồng
Kông, China đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 5,913 tỷ USD, chiếm 6,5% tổng vốn
12
đầu tư. Canada đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư 5,513 tỷ USD, chiếm 6,1% tổng
vốn đầu tư. Tiếp theo là Thụy Sĩ, Hà Lan, Ireland,…
Qua các dữ liệu trên có thể thấy: Cho đến nay Singapore vẫn là quốc gia thu hút
vốn đầu tư nổi bật hơn Việt Nam rất nhiều, đứng đầu Châu Á thu hút các tập đồn đa
quốc gia đặt văn phịng đại diện. Chính vì vậy đằng sau nhà đầu tư Singapore là các tập
đoàn đa quốc gia đến các thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, … Singapore từ lâu đã
có thế mạnh là trung tâm tài chính và thương mại quốc tế, logistic, nền kinh tế tri thức,
khoa học công nghệ, rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt cơ hội đầu tư-thương mại. Không
những thế hiện nay Singapore cũng là một quốc gia dẫn đầu trong việc đi đầu tư so với
khu vực Châu Á, quốc gia này đã tìm cách đa dạng hóa đầu tư ngồi các thị trường mục
tiêu truyền thống ở châu Á, cụ thể là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam trong những năm
gần đây. Ở Việt Nam, Singapore là một nhà đầu tư đứng đầu, tiềm năng nhất. Việt cũng
đã nỗ lực không ngừng trong việc cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh để giúp thị
trường Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn; vừa cải cách hành chính vừa đàm phán ký
kết các Hiệp thương thương mại tự do với các thị trường lớn. Trong Báo cáo Doing
Business 2020 Report của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam xếp thứ 70
trong số 190 nền kinh tế, nhờ sự cải thiện trong hầu hết lĩnh vực. Chính vì lý do đó nên
các nhà đầu tư nước ngồi, trong đó có các nhà đầu tư từ Singapore rất quan tâm đến thị
trường Việt Nam.
3.2. So sánh môi trường đầu tư của Singapore và Việt Nam
3.2.1. Mơi trường chính trị và thể chế
● Hệ thống chính trị:
Việt Nam: Nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa. Hệ thống
chính trị Việt Nam gồm có: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp cơng nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân lãnh đạo của tồn bộ
hệ thống chính trị.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước là trụ cột của hệ thống
chính trị Việt Nam. Nhà nước gồm các có các cơ quan trung ương như Quốc hội, Chính
phủ, Tịa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội gồm có Cơng đồn
Việt Nam, Đồn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
13
một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt
trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất
hành động giữa các thành viên.
Singapore: Nền chính trị của Singapore có hình thức cộng hịa dân chủ đại diện
theo nghị viện, theo đó Tổng thống Singapore là nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng
Singapore là người đứng đầu chính phủ, và của một hệ thống đa đảng. Quyền hành pháp
được thực hiện bởi nội các từ quốc hội và ở mức độ thấp hơn là Tổng thống. Nội các có
sự chỉ đạo và kiểm sốt chung của Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Có
ba nhánh riêng biệt của chính phủ: cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp tuân theo hệ
thống Westminster.
● Mức độ ổn định chính trị:
Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện chỉ số ổn định chính trị của Singapore và Việt Nam
Nguồn: The Global Economy (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015,2016, 2017, 2018,
2019, 2020)
Theo số dữ liệu của The Global Economy, Việt Nam có chỉ số ổn định chính trị có
nhiều biến động. Từ 2010-2012 có xu hướng tăng nhẹ sau đó lại giảm dần xuống mức 0.02 điểm . Từ 2014 - 2017 có sự thay đổi tích cực về chỉ số này từ -0.02 điểm lên 0.23
điểm tăng 0.25 điểm , điều đó thể hiện sự ổn định xã hội, sự quản lý chặt chẽ bộ máy
nhà nước ngày càng được cải thiện. Giá trị trung bình của Việt Nam trong thời kỳ đó
là điểm với tối thiểu là -0,07 điểm vào năm 2020 và tối đa là 0,27 điểm vào năm 2012.
Mới nhất giá trị từ năm 2020 là -0,07 điểm. Cịn Singapore có chỉ số ổn định chính trị
2010 - 2020 khá ổn định qua các năm, khơng có sự thay đổi nào q lớn. Chỉ số ổn định
chính trị ln ở mức cao, tồn trên 1,2 điểm. Giá trị trung bình của Singapore trong giai
đoạn đó là 1,26 điểm với tối thiểu là 0,88 điểm vào năm 2003 và tối đa là 1,62 điểm vào
năm 2017. Giá trị mới nhất từ năm 2020 là 1,47 điểm.
14
Qua nguồn dữ liệu trên ta thấy Chỉ số ổn định chính trị của Singapore cao gấp
nhiều lần so với Việt Nam. Điều này cho thấy Singapore có nền chính trị ổn định, hiếm
khi xảy ra bạo động, tranh chấp lãnh thổ và đã đạt được mức độ an ninh con người cao,
vượt qua các vấn đề xã hội bất ổn kinh tế và nghèo đói. Việt Nam có chỉ số ổn định
chính trị thấp hơn so với Singapore một phần là do Việt Nam có hồn cảnh lịch sử phải
trải qua thời kỳ đấu tranh giành độc lập, chiến tranh phía nam rồi phía bắc, phía tây nam.
Điều này đã đưa Việt Nam vào tình thế khó khăn trong nước và trên thế giới. Vị trí địa
lý tốt của Việt Nam cũng là nguyên do Việt Nam ‘bị tai họa’ và ‘bị hết nước này đến
nước khác xâu xé’. Việt Nam cũng chưa kiểm soát tốt vấn chống tham nhũng. Nhưng
Việt Nam cũng được đánh giá là nước có nền kinh tế ln ổn định tuy vẫn cịn những
hạn chế, yếu kém cả trong phát triển kinh tế, chăm lo đời sống nhân dân; cả trong xây
dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ đều đã được Đảng
nhận rõ, thẳng thắn nêu lên. Nhận rõ những hạn chế, yếu kém trong đời sống xã hội,
Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể
để sửa chữa, để khắc phục.
●
Chỉ số cảm nhận tham nhũng CPI:
Hình 3.7: Biểu đồ chỉ số tham nhũng của Singapore và Việt Nam giai đoạn 2012-2020
Nguồn: Transparency (2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019,
2020)
Từ biểu đồ trên ta nhận thấy vấn đề tham nhũng thực sự là vấn đề đáng lo ngại
không chỉ của riêng quốc gia nào mà là vấn đề chung cả 2 quốc gia này cần giải quyết
để khiến mơi trường chính trị trở nên lành mạnh hơn cho các nhà đầu tư. Có thể dễ dàng
nhận thấy xu hướng chung của cả 2 nước là giảm mức độ tham nhũng thể hiện thông
qua chỉ số tham nhũng CPI được cải thiện trong những năm gần đây.
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế
(TI) năm 2020, Singapore đạt 85 điểm, đứng thứ 03/180 quốc gia, vùng lãnh thổ và
trong nhiều năm qua, Singapore luôn đạt thứ hạng cao trong bảng xếp hạng này.
15
Singapore được đánh giá là quốc gia Đông Nam Á tiến hành thành công “cuộc cách
mạng” chống tham nhũng.
Cũng theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) năm 2020, Việt Nam đạt 36/100 điểm,
giảm 1 điểm so với năm 2019, đứng thứ 104/180 trên bảng xếp hạng toàn cầu. Điểm
CPI của Việt Nam thấp hơn điểm trung bình của khu vực ASEAN (42/100). Theo Tổ
chức Hướng tới Minh bạch (TT) - cơ quan đầu mối quốc gia của TI tại Việt Nam, điều
này phản ánh kết quả các nỗ lực của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong việc
đẩy mạnh cơng tác phịng, chống tham nhũng, đặc biệt là việc truy tố, xét xử hàng loạt
vụ án tham nhũng lớn. Tuy nhiên, điểm số CPI 2020 cho thấy Việt Nam cần tiếp tục đẩy
mạnh phòng, chống tham nhũng quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa để đảm bảo kết quả sâu,
rộng, đồng thời có thể tạo ra những bước tiến đột phá hơn trong thời gian tới.
Qua những phân tích trên, ta thấy so với Việt Nam thì Singapore có mức độ tham
nhũng thấp do Singapore đã xây dựng được hệ thống pháp luật hồn thiện, nghiêm minh,
cơng bằng và hiệu quả. Tệ nạn tham nhũng được xét xử rất nghiêm, tất cả các doanh
nghiệp không kể trong nước, ngồi nước đều được đối xử như nhau. Mơ hình và sự hoạt
động hiệu quả của cơ quan chuyên trách phịng, chống tham nhũng ln có ý nghĩa rất
quan trọng và là một trong những trụ cột chính của cơng tác phịng, chống tham nhũng
ở Singapore mà Việt Nam có thể nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm. Nhưng những kết
quả nêu trên thể hiện quyết tâm chính trị cùng với những hành động quyết liệt, thực hiện
những giải pháp hiệu quả của Đảng và Nhà nước, của cả hệ thống chính trị từ Trung
ương tới địa phương trong cơng tác phịng chống tham nhũng.
3.2.2. Mơi trường pháp lý
1) Thành lập doanh nghiệp
Theo báo cáo Doing Business năm 2020 ta có:
Việt Nam
Singapore
85.1 điểm - xếp thứ 115
98.2 điểm - xếp thứ 4
Thủ tục (số)
8 thủ tục
2 thủ tục
Thời gian hoàn thành (ngày)
16 ngày
1.5 ngày
Điểm khởi nghiệp - thứ hạng
(2020)
16
Chi phí (% thu nhập bình qn
đầu người)
5.6
0.4
u cầu về vốn tối thiểu
0.0
0.0
Bảng 1: Bảng so sánh yếu tố Thành lập doanh nghiệp giữa Việt Nam và
Singapore
Nguồn: Doing Business Report 2020 (Việt Nam, Singapore)
Từ bảng trên có thể thấy việc thành lập doanh nghiệp ở Singapore đơn giản và
nhanh chóng hơn nhiều so với thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam. Mặc dù cả hai đều
cho phép sở hữu 100% vốn nước ngồi, nhưng quy trình ở Việt Nam địi hỏi nhiều thời
gian hơn (16 ngày) và phê duyệt quan liêu hơn - phải được Sở Kế hoạch và Đầu tư phê
duyệt Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) và sau đó là Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp (ERC ) để tạo nên doanh nghiệp. Trong khi đó, việc thành lập một doanh
nghiệp ở Singapore diễn ra nhanh chóng một cách hợp lý, với một doanh nghiệp thường
được thành lập trong 1,5 ngày làm việc bằng cách sử dụng đại lý nộp đơn để gửi đơn
đăng ký của bạn với ACRA (Cơ quan quản lý kế toán và cơng ty). Điều đó là do
Singapore đã thực hiện một số cải cách như: Bãi bỏ các con dấu của công ty; Kết hợp
đăng ký thuế với đăng ký kinh doanh trên một biểu mẫu trực tuyến duy nhất; Đơn giản
hóa quy trình khởi nghiệp trực tuyến. Khơng giống như Singapore, Việt Nam đã hạn
chế đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định trong khi các phê duyệt có điều
kiện, giấy phép bắt buộc và yêu cầu về giấy phép phụ là phổ biến. Tuy nhiên hiện nay,
Việt Nam đã có một số cải cách để cải thiện việc thành lập doanh nghiệp như: Đăng
thông báo thành lập trực tuyến và bằng cách giảm chi phí đăng ký kinh doanh; Giảm
thời gian khắc và đăng ký con dấu công ty; Cho phép các công ty sử dụng hóa đơn thuế
giá trị gia tăng tự in; Kết hợp các quy trình để xin giấy phép kinh doanh và giấy phép
thuế, đồng thời loại bỏ sự cần thiết phải có con dấu để cấp giấy phép cho cơng ty.
2) Cấp giấy phép xây dựng
Theo báo cáo Doing Business năm 2020:
Điểm xử lý giấy phép xây dựng thứ hạng (2020)
Việt Nam
Singapore
79.3 điểm - xếp thứ 25
87.9 điểm - xếp thứ 5
17
Thủ tục (số)
10
9
Thời gian (ngày)
166
35.5
Chi phí (% giá trị kho hàng)
0.5
3.3
Xây dựng chỉ số kiểm soát chất
lượng (0-15)
12.0
13.0
Bảng 2: Bảng so sánh yếu tố Cấp giấy phép xây dựng giữa Việt Nam và Singapore
Nguồn: Doing Business Report 2020 (Việt Nam, Singapore)
Việt Nam đã thực hiện việc xử lý giấy phép xây dựng dễ dàng hơn bằng cách giảm
50% chi phí đăng ký các tịa nhà mới hồn thành và chuyển thẩm quyền đăng ký tịa nhà
từ chính quyền địa phương sang Sở Tài ngun và Mơi trường. Trong khi đó Singapore
đã có một số cải cách trong hoạt động cấp giấy phép xây dựng như sau: tăng cường cách
tiếp cận dựa trên rủi ro để kiểm tra, cải thiện khả năng tiếp cận của công chúng đối với
thông tin đất đai và đơn giản hóa quy trình xin giấy phép xây dựng cũng như các thủ
tục; cải thiện việc quản lý và xử lý dữ liệu nội bộ tại các cơ quan liên quan đến quá trình
cấp phép.
Tuy vậy nhưng nhìn chung, việc cấp giấy phép xây dựng của Singapore vẫn dễ dàng
hơn Việt Nam. Thủ tục cấp phép xây dựng tại Việt Nam vẫn còn khá nhiều bất cập: thời
gian thực hiện thủ tục cấp phép xây dựng là 166 ngày (theo đánh giá của Ngân hàng Thế
giới năm 2020), đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có số ngày thực hiện
lâu nhất. Trong khi đó, mức trung bình của các nước ASEAN là 66 ngày và đặc biệt thời
gian thực hiện thủ tục cấp giấy phép xây dựng tại Singapore chỉ cần 35,5 ngày. Tuy
nhiên, chi phí cần thiết để hồn thành thủ tục ở Việt Nam lại ít hơn so với Singapore.
3) Các quy định về lao động
Tuyển dụng và sa thải lao động:
●
Theo báo cáo Doing Business năm 2020 ta có:
Việt Nam
Tuyển
dụng
Singapore
- Thời gian tối đa của một hợp đồng có - Khơng giới hạn thời gian tối đa của
thời hạn cố định: 36 tháng.
một hợp đồng có thời hạn cố định.
18