Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Đánh giá so sánh hiệu quả xử lý nước kênh Văn Thánh bằng mô hình kết hợp trồng cỏ Vetiver (Chrysopogon zizanioides) trên giá thể sỏi – cát trong điều kiện tĩnh và tuần hoàn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (596.32 KB, 7 trang )

Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

ĐÁNH GIÁ SO SÁNH HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC KÊNH VĂN THÁNH BẰNG
MƠ HÌNH KẾT HỢP TRỒNG CỎ VETIVER (CHRYSOPOGON ZIZANIOIDES)
TRÊN GIÁ THỂ SỎI – CÁT TRONG ĐIỀU KIỆN TĨNH VÀ TUẦN HOÀN
Vũ Lê Phước Quỳnh1, Lê Đức Anh2, Lâm Văn Giang1, Trần Thành1,2*
1
Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG TP. Hồ Chí Minh
2
Viện Kỹ thuật Cơng nghệ cao NTT – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
*Tác giả liên lạc:
(Ngày nhận bài: 05/8/2020; Ngày duyệt đăng: 28/9/2020)
TÓM TẮT
Bên cạnh các công nghệ xử lý nước thải truyền thống phương pháp xử lý sinh học bằng
thực vật là một trong những hướng xử lý bền vững, ít tốn năng lượng. Với mục tiêu thử
nghiệm và so sánh đánh giá hiệu quả xử lý nước kênh Văn Thánh và loại bỏ thành phần
ô nhiễm COD, P-PO43-, N-NH4+ bằng mô hình trồng cỏ Vetiver (Chrysopogon
Zizanioides) trên các nền vật liệu giá thể sỏi-cát trong điều kiện xử lý tĩnh trong thời
gian lưu 7 ngày và tuần hoàn nước chảy trong thời gian 15 ngày. Kết quả nghiên cứu
ban đầu cho thấy, với công suất xử lý nước thải nhỏ 12 L/thùng lặp 3 lần, cỏ Vetiver
cho thấy có khả năng sinh trưởng tốt trong môi trường nước kênh Văn Thánh trên các
giá thể thí nghiệm. Cả hai hệ mơ hình cùng đồng thời kiểm soát tốt chất lượng nước,
hiệu suất xử lý các chỉ tiêu như COD, P-PO43-, N-NH4+ đều trên 80% so với đầu vào,
hầu hết sau thời gian xử lý đều đạt quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
Từ khóa: Nước thải, chế độ tĩnh, vật liệu lọc, sỏi, cát, kênh Văn Thánh.
COMPARISON OF THE EFFICIENCY OF WATER TREATMENT OF VAN
THANH CANAL BY VETIVER COMBINATION MODEL (CHRYSOPOGON
ZIZANIOIDES) ON FIBER PRICE – SAND IN STATIC AND CYCLIC
CONDITIONS
1
Vu Le Phuoc Quynh , Le Duc Anh2, Lam Van Giang1, Tran Thanh1,2*


1
University of Technology – VNU Ho Chi Minh City
2
NTT Institute of Hi-Technology – Nguyen Tat Thanh University
*Corresponding Author:
ABSTRACT
In addition to traditional wastewater treatment technologies, the biological treatment
method by plants is one of the sustainable treatment methods, which uses less energy.
With the objective of testing and comparing evaluating the effectiveness of Van Thanh
canal water treatment and removing COD, P-PO43-, N-NH4+ pollutants with vetiver
(Chrysopogon Zizanioides) on the substrates Data on gravel-sand media under static
treatment for 7 days and circulating water for 15 days. Initial research results show
that, with a small wastewater treatment capacity of 12 L/bin 3 times, vetiver showed
good growth ability in Van Thanh canal water environment on experimental stands.
Both model systems simultaneously control water quality at the same time, the efficiency
of handling indicators such as COD, P-PO43-, N-NH4+ are over 80% compared to the
input, most after the treatment time are the standard QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
Keywords: Wastewater, static mode, filter materials, gravel, sand, Van Thanh canal.
trong những khu vực thuộc Vùng kinh tế
trọng điểm Nam bộ đang phát triển rõ rệt

GIỚI THIỆU
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM), một
19


Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

trong khoảng hơn 10 năm gần đây. Đi kèm
với phát triển kinh tế, vấn đề ô nhiễm

nguồn nước cho các hoạt động sử dụng
đang là mối quan tâm rất lớn. Thành phố
vốn có nhiều kênh rạch, sơng ngịi nhưng
không nhận được sự quan tâm bảo vệ đúng
mức nên các kênh rạch, sơng ngịi này
ngày càng ơ nhiễm nghiêm trọng gây mất
vẻ mỹ quan và làm tổn thất rất lớn về tài
nguyên nước và ảnh hưởng đến sức khỏe
của người dân. Tuyến đường cầu Văn
Thánh – Điện Biên Phủ đi qua rạch Văn
Thánh là tuyến đường chủ chốt và trên đà
phát triển mạnh của khu vực quận Bình
Thạnh. Rạch Văn Thánh nằm trong hệ
thống kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, là một
trong những con rạch hiện đang ô nhiễm
nặng nề và đang dần mất đi khả năng tự
làm sạch. Nhận thấy được những vấn đề
cấp bách trên, thành phố đã lập nhiều dự
án và chi hàng chục nghìn tỷ đồng để giải
tỏa dân cư ven kênh, khắc phục ô nhiễm
nguồn nước tại các lưu vực trên – cải tạo
hệ thông kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè gần
4,000 tỷ đồng, dự án làm trong sạch và
chống ngập kênh Bến Nghé – Tàu Hũ có
chi phí khoảng 8,000 tỷ đồng (Thẩm &
Quý, 2010). Đã có một số dự án nhằm cải
tạo rạch Văn Thánh nhưng vẫn chưa giải
quyết được vấn đề.
Do đó, cần có một giải pháp dài lâu nhằm
hỗ trợ giúp loại bỏ bớt thành phần ô nhiễm

trong nước con rạch, đưa con rạch về trạng
thái bình thường.Thơng qua các nghiên
cứu trong nước và quốc tế cho thấy cỏ
Vetiver có những khả năng cực kỳ đặc biệt
trong việc thích nghi tốt với nhiều điều

Giai đoạn

kiện môi trường bất lợi, khắc nghiệt; khả
năng hấp thu, tích lũy các chất ơ nhiễm,
kim loại nặng với nồng độ cao. Mơ hình
cũng đem lại hiệu quả xử lý các chất ô
nhiễm đạt hiệu suất cao (từ 50-99,9%).
Phương pháp đất ngập nước nhân tạo được
áp dụng ở cả những nước phát triển và
đang phát triển nhờ những ưu điểm như: là
một trong những giải pháp bảo vệ môi
trường tự nhiên một cách hiệu quả với chi
phí vận hành và đầu tư thấp, khơng u cầu
cơng nghệ phức tạp kèm theo cũng như
thân thiện với môi trường, khơi phục hệ
sinh thái dịng kênh, rạch, cải thiện thêm
mảng xanh của thành phố, điều tiết khí
hậu.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Thiết kế thí nghiệm
Trồng thử nghiệm thích nghi (giai đoạn 1)
được thực hiện trong vòng 2-3 tuần với
mục đích ổn định cá thể cỏ Vetiver sau q

trình dài trước đó sống trong mơi trường
đất chuyển sang mơi trường đất ngập nước
có thể phát triển bình thường. Sự phát triển
này được đánh giá qua bảng tổng hợp các
chỉ tiêu phát triển sinh khối.
Giai đoạn chạy thử nghiệm (giai đoạn 2):
Mỗi nghiệm thức trong mơ hình sẽ được
lấy mẫu ứng với từng thời gian thích hợp
trong ngày của riêng mỗi tải. Kết quả phân
tích từ các mẫu được lấy hằng ngày cần
được phân tích kịp thời để hỗ trợ cho quá
trình giám sát liên tục. Mỗi giai đoạn sẽ
ứng với thời gian lưu HRT là 7 ngày.

Bảng 1. Thời gian thực hiện các giai đoạn
Nội dung
Thời gian thực hiện

Giai đoạn
1

Thí nghiệm đánh giá khả năng thích
nghi của cỏ Vetiver với mơi trường mới

7 ngày

Giai đoạn
2

Thí nghiệm đánh giá khả năng loại bỏ

COD, N-NH4+, P-PO43- trong nước thải
đầu vào của cỏ Vetiver tại hiện trường

15 ngày

20


Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

Hai giai đoạn chính của nghiên cứu là thích nghi và giai đoạn vận hành thử nghiệm.

Hình 1. Tiến trình tổng quát thực hiện nghiên cứu
Thực vật xử lý ở đây là cỏ Vetiver (Vetiver
zizanioides) đã trưởng thành được trồng KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
trực tiếp lên lớp vật liệu. Cỏ sẽ được lựa Chất lượng mẫu nước đầu vào – tính
chọn các tép cỏ cùng hoặc tương đương chất nước kênh Văn Thánh
nhau về kích thước, hình dạng, chiều dài. Nước đầu vào của mô được lấy tại điểm
Mỗi chậu sẽ được trồng với số lượng là 75 quan trắc mực nước rạch Văn Thánh vào
tép cỏ, phân bố thành 15 cụm, mỗi cụm có thời điểm khi mực triều trong khoảng 1,8
5 tép cỏ. Mỗi cụm cách nhau 10cm. Trong – 2,5 trong ngày. Ứng với các thời điểm
giai đoạn thích nghi, cỏ sẽ được quan sát này đa phần việc lấy mẫu phân tích sẽ
trong thời gian 7 ngày để đánh giá sinh được diễn ra vào mùa khơ vì khi đó lượng
khối, tình trạng sinh trưởng. Khi thay đổi nước tự nhiên trong lưu vực là phù hợp
sang các giai đoạn khác, duy trì vận hành nhất. Tính chất nước được đo và thể hiện
7 ngày để thích nghi mới bắt đầu chạy mơ giá trị trung bình như trong bảng sau:
hình phân tích.
Bảng 2. Chỉ tiêu phân tích chất lượng nước rạch Văn Thánh
STT


Thông số

Đơn vị

Kết quả

QCVN 08MT:2015/BTNMT (Cột B1)

1

COD

mg/l

161 – 186

30

2

BOD5

mg/l

148 - 154

15

3


pH

-

6,99 – 7,4

5,5-9

mg/l

6,73 – 7,28

0,9

mg/l

1,96 – 2,17

0,3

4
5

+

Amoni (N-NH4 )
Phốt phát

(P-PO43-)


6

Chất rắn hòa tan TDS

mg/l

317

-

7

Tổng chất rắn lơ lửng TSS

mg/l

142

50

Kết quả cho thấy được hai thông số NNH4+ và P-PO43- vượt QCVN 08-

MT:2015/BTNMT (Cột B1) lần lượt là 81
lần và 7,2 lần, số lần vượt ngưỡng cao nhất
21


Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

sau 7 ngày thì cỏ Vetiver ở mơ hình tĩnh

có sự phát triển tốt về chiều dài thân lá, độ
dài rễ mới, đặc biệt là sự gia tăng các chồi
non và khối lượng cây.
Cịn đối với mơ hình tuần hồn, trong
khoảng 4 - 7 ngày đầu, cỏ có xu hướng
chậm phát triển, vàng lá do nước ngập và
không sinh trưởng nhiều. Sau tuần đầu tiến
quan sát, sinh khối lá bắt đầu phát triển.
Giai đoạn này ghi nhận được tỷ lệ sống của
cỏ so với số lượng cây trồng ban đầu là từ
95 đến 98%. Từ ngày 7 đến ngày 10, khi
được cung cấp nước mới – nước pha lỗng
5 lần từ mơ hình – cỏ có dấu hiệu chuyển
đổi về màu sắc trở nên xanh hơn, các phiến
lá từ vàng đã dần chuyển sang xanh tươi
hơn. Ngày thứ 10 tiến hành thay nước
được lấy trực tiếp từ lưu vực vào mơ hình
để đánh giá sự thích nghi của cây với môi
trường thực tế. Quan sát ngày thứ 15, cỏ
có sự thay đổi rõ rệt, phần thân đã cứng
cáp hơn, phần lá phát triển thêm cũng dài
và nhanh hơn, màu cỏ cũng xanh hơn, có
xuất hiện thêm chồi non. Ghi nhận sự phát
triển về sinh khối của cỏ đến ngày thứ 35,
chiều cao lớn của cỏ đạt được là 0.65m.
Q trình thích nghi cũng ghi nhận được
cỏ trong mơ hình có vật liệu sỏi phát triển
phần lá kém hơn 2 mơ hình cịn lại, mơ
hình có vật liệu kết hợp là mơ hình có cỏ
đạt chiều cao lớn nhất. Tỷ lệ sống của cỏ

sau 35 ngày quan sát ở mơ hình sỏi, cát,
kết hợp cát và sỏi theo thứ tự là 93%, 96%,
93%. Tỷ lệ cây không chết nhưng khơng
phát triển thêm về lá của các mơ hình sỏi,
cát, kết hợp là 9%, 13% và 6%. Từ sau
ngày 15, nghiên cứu thích nghi cho thấy cỏ
Vetiver thích nghi tốt với môi trường mới.

trong các thông số. Nội dung nghiên cứu
tập trung phân tích đánh giá khả xử lý hai
chỉ tiêu trên. Ngoài ra, từ nồng độ BOD5
và COD đo được của nước mẫu suy ra
được: BOD5/COD = 148/161 = 0,92.
Đánh giá khả năng thích nghi của cỏ
Vetiver đối với nước kênh Văn Thánh
Trước tiên, ta tiến hành trồng thủy canh cỏ
Vetiver để đánh giá liệu cỏ Vetiver có khả
năng thích ứng với mơi trường nước rạch
Văn Thánh hay khơng và chúng có thể
chịu được sự thay đổi khi chuyển từ môi
trường đất trồng sang môi trường ngập
nước hay không. Ở mơ hình tĩnh, sau 7
ngày thích nghi khi được trồng trong môi
trường thủy canh tĩnh sử dụng nước rạch
Văn Thánh (với nước thải đã được pha
loãng 3 lần), tỷ lệ sống của các cây cỏ
Vetiver ở ba mẫu thí nghiệm đều đạt tỷ lệ
cao (trên 90%), tỷ lệ này ở mẫu đối chứng
là 80%. Chiều dài thân lá của cỏ Vetiver
có sự phát triển tốt, ln cao hơn so với

nghiệm thức đối chứng từ 2 – 3cm. Chiều
cao trung bình của cỏ tăng thêm ở mẫu ở
nghiệm thức nước thải là 30,59 ± 0,82cm
và đối chứng là 28,75cm. Sự khác biệt này
tuy không quá lớn nhưng cũng chứng minh
được sự thích nghi và phát triển của cỏ
Vetiver trong điều kiện mới. Sau 7 ngày,
phần rễ trắng mới phát triển thêm này đã
đạt kích thước lần lượt 5,24cm, 5,07cm và
5,33cm ở ba mẫu thí nghiệm, cao hơn so
với mẫu đối chứng chỉ đạt 4,67cm. Ở
nghiệm thức nước thải, khối lượng cỏ (5
cây/cụm) tăng trung bình từ 50,41g lên
61,82g (tăng 1, 23 lần). Ở mẫu đối chứng,
khối lượng cỏ tăng từ 50,14g lên 54,19g
(tăng 1,08 lần). Như vậy có thể nhận thấy,

Hình 2. (A) Cỏ Vetiver quan sát ngày thứ 1 mơ hình tĩnh (B) Cỏ ngày 1 mơ hình tuần
hồn và (C) cỏ quan sát ngày thứ 15
22


Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

Đánh giá hiệu quả xử lý các chất dinh
dưỡng Phốt pho (PO43-) và ammonia
(NH4+)

Nhìn chung, có thể thấy cỏ Vertiver có thể
thích nghi tốt với các mơ hình sau quá trình

thử nghiệm.

Hình 3. Khả năng xử lý (A) N-NH4+ và (B) P-PO43- của cỏ Vetiver ở hai nghiệm thức
sỏi và thủy canh trong mơ hình tĩnh
+
Đối với chỉ tiêu N-NH4 , đối với nồng độ do số cây chết trong mơ hình làm ảnh
N-NH4+ có trong nước thải đầu vào là hưởng đến nồng độ. Mơ hình sỏi có hiệu
6,63mg/l, sau 15 ngày, hiệu suất xử lý của suất xử lý khá tốt, hiệu suất đạt 30,4%
cả hai mơ hình đều đạt chuẩn QCVN 08- (1,86±0,039mg/l) chỉ sau một ngày, bắt
MT:2015/BTNMT (cột B1, 0,9mg/l). Mô đầu ngày thứ hai đến ngày thứ tư, khả năng
hình sỏi có hiệu suất xử lý tương đối ổn xử lý có xu hướng giảm nhưng vẫn đạt
định, hiệu suất đạt 41,6% (3.9±0,98mg/l) mức cao (trung bình 15% mỗi ngày). Mơ
sau 7 ngày và 96,8% (0,28±0,07mg/l) sau hình thủy canh cũng có hiệu suất tốt nhưng
15 ngày. Mơ hình thủy canh có hiệu suất không ổn định, đạt 47,1% (1,4±0,008mg/l)
xử lý tốt hơn, đạt 43,7% (3,73±0,44mg/l) chỉ sau một ngày và đạt 94,8%
sau 07 ngày và 96,8% (0,21±0,005 mg/l) (0,14±0,064mg/l) sau 15 ngày. Nồng độ có
sau 15 ngày. Nồng độ có sự ổn định trong sự ổn định trong suốt giai đoạn đầu nhưng
suốt giai đoạn đầu do không bị ảnh hưởng lại có sự biến động nhẹ vào giai đoạn gần
bởi lớp vật liệu nhưng lại có sự biến động cuối (ngày 8 – ngày 12).
nhẹ vào các ngày cuối, nguyên nhân có thể

Hình 4. Hiệu quả xử lý (A) PO43- (B) NH4+ của các nghiệm thức trong mơ hình
P-PO43- trung bình đầu vào là 2,67mg/l, hình sỏi 0,1846±0,024mg/l, mơ hình cát
qua quá trình xử lý 1 tuần cho thấy cả ba 0,1638±0,003mg/l, mơ hình kết hợp
mơ hình ĐNNNT đều có khả năng xử lý 0,1266±0,008mg/l. Trong đó ghi nhận
nước đầu vào được lấy từ lưu vực rạch Văn được vật liệu cát và kết hợp xử lý đạt quy
Thánh đạt QCVN 08-MT:2015/BTNMT, chuẩn (sau 144 giờ) với hiệu suất
cột B1. Các nồng độ phân tích sau 7 ngày 89,34±0,15%, nhanh hơn vật liệu sỏi và
của các mơ hình theo thứ tự như sau: mô vật liệu cát (sau 156 giờ) với các hiệu suất
23



Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

lần lượt là 90,03±0,13% và 90,97±0,21%.
Đồ thị cũng thể hiện được, trong 12 giờ
đầu, cả ba mơ hình đều có sự giảm mạnh
về nồng độ và độ chênh lệch về hiệu suất
không quá lớn. Giai đoạn đầu, lớp vật liệu
nền đã thực hiện việc loại bỏ mạnh đối với
lượng PO43- có trong nước thải, cỏ Vetiver
có tác động tương đối ít do thời gian đầu
là khoảng thời gian để các vi sinh vật thích
ứng với mơi trường. Khi thực vật và các vi
sinh vật đã qua giai đoạn (pha) tiềm phát,
bắt đầu có khoảng cách hiệu suất khi xét
tại cùng một thời điểm. Lúc này, sự giảm
về nồng đồ PO43- đến từ tác động của lớp
vật liệu nền và cả q trình chuyển hóa
dinh dưỡng trong thực vật. Trong suốt thời
gian thí nghiệm, mơ hình CW VSFS vật
liệu kết hợp luôn thể hiện được khả năng
xử lý tốt hơn.
Nhận xét đầu tiên là ba mơ hình ĐNNNT
đều thể hiện được khả năng xử lý nước đầu
vào được lấy từ lưu vực rạch Văn Thánh

đạt QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột B1
(nồng độ NH4+ là 0,9) sau thời gian phân
tích là 7 ngày. Các nồng độ phân tích sau

7 ngày của các mơ hình theo thứ tự tăng
dần như sau: mơ hình kết hợp
0,2025±0,0713mg/l,

hình
cát
0,2569±0,0191mg/l,

hình
sỏi
0,2910±0,0088mg/l. Trong đó ghi nhận
được hiệu suất cả giai đoạn, mơ hình vật
liệu kết hợp ln thể hiện được sự vượt trội
hơn, khi so sánh với mơ hình vật liệu sỏi –
mơ hình có hiệu suất kém nhất – có thời
điểm ghi nhận khoảng chênh lệnh lên đến
7,89%. Như vậy, mơ hình có vật liệu kết
hợp cát và soi có hiệu quả xử lý NH4+ tối
ưu hơn hai mơ hình cịn lại.
Như vậy, có thể thấy được về hiệu suất xử
lý, mơ hình có vật liệu kết hợp cát và sỏi
xử lý hiệu quả hơn hai mơ hình cịn lại.
So sánh khả năng xử lý COD của hai mơ
hình thí nghiệm

Hình 5. Khả năng xử lý COD của cỏ Vetiver (A) mơ hình tĩnh (B) Mơ hình tuần hồn
Kết quả cho thấy sự thay đổi rõ rệt nồng khi hiệu suất mơ hình Cát là 15.93% và mơ
độ COD trong tuần đầu tiên. Cụ thể, với hình Kết hợp là 20.08%. Trong ba ngày
nồng độ COD có trong nước thải đầu vào sau đó, các mơ hình tăng thêm lần lượt là
là 177,9 mg/l sau 7 ngày nồng độ giảm lần 30.84%, 36.26% và 26.66%. Trong những

lượt ở hai mơ hình là 61,5±6,98mg/l (sỏi, ngày cuối, mơ hình vật liệu kết hợp đã đạt
đạt 65,4%), 63,8±3,36mg/l (thủy canh, đạt 74.02%, hai mơ hình sỏi và cát hiệu suất
66%), hiệu suất xử lý gần tương đồng với xử lý là 71.90% và 71.99%. Với nồng độ
giai đoạn thích nghi. Sau 15 ngày, hiệu đầu vào bằng nhau và bằng 177.9 mg/l,
suất xử lý của cả hai mơ hình khá tốt, đạt vào cuối chu kì xử lý, ta có thể thấy mơ
chỉ tiêu COD của QCVN 08- hình Kết hợp có hiệu suất xử lý COD cao
MT:2015/BTNMT (30mg/l), lần lượt là nhất, bằng 74.02%. Tiếp theo đó là mơ
12,3±2,72mg/l
(sỏi,
93,1%),
và hình Cát và Sỏi với hiệu suất lần lượt là
13,6±3,18mg/l (thủy canh, đạt 92,4%). Kết 71.99% và 71.90%. Vào cuối giai đoạn,
quả xử lý COD cho thấy từ những ngày nồng độ COD ở cả ba mơ hình đều đạt
đầu, cả ba nghiệm thức đều xử lý hiệu quả QCVN 08-MT:2015/BTNMT là 50 mg/l.
ổn định, tuy nhiên mơ hình sỏi yếu hơn Như vậy, có thể thấy được mơ hình có vật
những mơ hình khác, chỉ có 5.91% trong liệu kết hợp cát và sỏi xử lý hiệu quả hơn
24


Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 6 (3), 2020

hình sỏi sau 15 ngày đạt 95,5%, nghiệm
thức thủy canh sau 15 ngày đạt 94,8%. Với
thiết kế dòng chảy ngầm theo phương
đứng, kết hợp với điều kiện tuần hồn
nước để tạo mơi trường xử lý tốt lượng
nước đầu vào, mơ hình có hiệu quả xử lý
phốt pho và nitơ cao, trong đó trung bình
NH4+ có hiệu suất đạt trên 96%, PO43- đạt
trên 94% và COD trên 80%. Như vậy tất

cả các mẫu nước đạt chuẩn QCVN 08MT:2015/BTNMT, cột B1 sau thời gian
lưu nước là 15 ngày thử nghiệm, nhìn
chung hiệu suất xử lý 2 mơ hình tĩnh và
tuần hồn ngang nhau, tuy nhiên mơ hình
tuần hồn nước về cảm quan cho hiệu quả
xử lý tốt hơn. Nghiên cứu cho thấy áp dụng
cỏ Vetiver là phù hợp với xử lý nước kênh
rạch, khi áp dụng mơ hình vào thực tế cần
xem xét thêm các yếu tố ngoại cảnh, và
phân bố lựa chọn mật độ cỏ hợp lý.

các mơ hình còn lại.
KẾT LUẬN
Cỏ Vetiver sau khi trồng thủy canh tĩnh
trong mơi trường nước rạch Văn Thánh
cho thấy mơ hình xử lý bằng cỏ Vetiver kết
hợp các vật liệu lọc như sỏi, cát đã thể hiện
được khả năng thích nghi cao với các điều
kiện môi trường thay đổi từ môi trường đất
khơ sang mơi trường đất ngập nước và
thích nghi tốt với mức ơ nhiễm của nước
kênh Với mơ hình tĩnh, sau 15 ngày thí
nghiệm ở giai đoạn 2, hiệu suất xử lý ở tất
cả chỉ tiêu đều đạt hơn 90%, với hiệu suất
xử lý COD mơ hình sỏi sau 15 ngày đạt
93,1%, đối với nghiệm thức thủy canh sau
15 ngày đạt 92,4%. Hiệu suất xử lý NNH4+ ở mơ hình sỏi sau 15 ngày đạt
96,8%, nghiệm thức thủy canh sau 15 ngày
đạt 96,8%. Hiệu suất xử lý P-PO43- ở mô


TÀI LIỆU THAM KHẢO
BRANDT, C., LỘC, N. X., NGA, T. T., & BECKER, M. (2005). Đánh giá sự đáp ứng
sinh học các loài thực vật trong nước nồng độ dinh dưỡng cao để tuyển chọn thực
vật xử lý ô nhiểm. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
THẨM, L., & QUÝ, Q. (2010). Làm sạch kênh rạch ở TP Hồ Chí Minh bằng cách nào?
Hà Nội: Nhân dân Điện tử.
TRUONG, P., & BAKER, D. (1998). Vetiver grass system for environmental
protection: Pacific Rim Vetiver Network, Office of the Royal Development
Projects Board.

25



×