Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

“Đổi mới phương pháp dạy học trong dạy văn miêu tả cây cối ở lớp 4”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.18 KB, 12 trang )

PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC
TRƯỜNG TH HỒNG CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hồng Châu, ngày 17 tháng 3 năm 2021
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
TRONG DẠY VĂN MIÊU TẢ Ở LỚP 4
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục có vai trị hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
một dân tộc cũng như toàn thể nhân loại. Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội
đồng thời giáo dục là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Vì thế từ
trước đến nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu để xây dựng và phát triển đất nước.
Đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới với quyết tâm cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu “ Dân giàu nước mạnh
xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Để thực hiện được điều đó địi hỏi mỗi
chúng ta phải có một nguồn lực, vừa có tài, vừa có đức, vừa có tri thức cuộc
sống. Nơi tạo ra những nền móng vững chắc cho q trình học tập của mỗi con
người chính là trường Tiểu học. Muốn vậy đòi hỏi nhà trường phải không ngừng
nâng cao chất lượng dạy và học. Việc nâng cao chất lượng dạy học trong các
nhà truờng nói chung và trường Tiểu học nói riêng là vấn đề trọng tâm của hoạt
động giáo dục trong nhà trường. Vì đây là cấp học nền móng: “Giáo dục Tiểu
học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng
và phát triển tình cảm, đạo đức, trí đức, thẩm mĩ và thể chất cho trẻ em nhằm
hình thành cho học sinh nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vì
vậy học sinh phải được học đầy đủ các mơn học trong đó có môn Tiếng Việt.
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học cụ thể là:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,


nói, đọc, viết) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn trực tiếp với việc học
Tiếng Việt nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập ở Tiểu
học và các cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa
tuổi.
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh
các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đốn,…)
Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa
và văn học của Việt Nam và nước ngồi để từ đó:
Góp phần bồi dưỡng tình u cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt,
lẽ phải và sự cơng bằng xã hội; góp phần hình thành lịng u mến và thói quen
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt.


Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: có tri thức,
biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh,
ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.
Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân mơn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả,
Tập làm văn, Luyện từ và câu, Kể chuyện; mỗi phân môn chứa đựng một bộ
phận kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau để người học học tốt Tiếng
Việt. Trong đó Tập làm văn là phân mơn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo,
thực hành, thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân. Tập làm văn, viết văn, hành văn là
cái đích cuối cùng cao nhất của việc học Tiếng Việt ở Tiểu học.
Trong phân môn Tập làm văn lớp 4, các em học sinh được học viết văn kể
chuyện, văn miêu tả, văn viết thư, trao đổi ý kiến với người thân, giới thiệu địa
phương, điền vào giấy tờ in sẵn. Trong đó, nội dung về dạy viết văn miêu tả
gồm có văn tả về con vật, đồ vật, cây cối là nội dung khó; học sinh và giáo viên
gặp nhiều khó khăn khi dạy - học nội dung này. Trong phạm vi chuyên đề này,
chúng tôi đi sâu vào phần dạy - học viết đoạn kết bài cho bài văn miêu tả cây cối
ở lớp 4. Qua thực tế giảng dạy, cho thấy một số em còn nhầm lẫn giữa viết đoạn
văn với viết bài văn, thân bài với kết bài. Nhiều đoạn văn mang tính chắp vá,

gần giống các đoạn văn mẫu, câu văn chỉ mang tính chất thơng báo, chứ chưa có
hình ảnh, chưa có cảm xúc. Bài viết của các em còn sơ sài, thiếu ý, khơng đúng
trọng tâm. Q trình sắp xếp cịn lộn xơn, khó hiểu, thiếu chặt chẽ. Các em hay
mắc lỗi về dùng từ do không hiểu nghĩa. Hay dùng từ ngữ lặp lại do không biết
dùng từ ngữ thay thế hay cùng nghĩa.
Điều này cũng dễ hiểu vì trong thực tế giảng dạy, giáo viên còn ngại dạy
viết văn miêu tả cây cối, chưa thực sự nghiên cứu kĩ bài dạy, chưa có những
phương pháp dạy tối ưu để đem lại giờ học hiệu quả nhất. Khi giảng dạy, một số
giáo viên thường cho học sinh học các bài văn mẫu làm hạn chế khả năng tư
duy, sự sáng tạo của học sinh. Đứng trước thực tế đó, chúng tôi rất băn khoăn và
trăn trở: “Làm thế nào để giúp các em u thích phân mơn Tập làm văn, yêu
thích văn miêu tả cây cối? Biết cách viết đoạn văn kết bài trong bài văn miêu tả
cây cối hay hơn”. Chính vì vậy, chúng tơi thực hiện chun đề “Đổi mới
phương pháp dạy học trong dạy văn miêu tả cây cối ở lớp 4”.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1 Nhiệm vụ, mục tiêu của phân môn Tâp làm văn:
- Phân mơn Tập làm văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn
- Góp phần cùng các thể loại văn khác và các môn học khác mở rộng vốn
sống, rèn luyện tư duy lô- gic, tư duy hình tượng; bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc
thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh.
1.2. Nội dung chương trình phân mơn Tập làm văn lớp 4:
- Chương trình Tập làm văn lớp 4 gồm 62 tiết, trong đó có các thể loại:
Kể chuyện: 19 tiết; Miêu tả: 30 tiết; Các loại văn bản khác: 13 tiết


Đối với thể loại văn miêu tả được bố trí như sau:
- Khái niệm miêu tả: 1 tiết
- Miêu tả đồ vật: 10 tiết

- Miêu tả cây cối: 11 tiết
- Miêu tả con vật: 8 tiết
Cụ thể các tiết dạy Tập làm văn miêu tả cây cối trong sách giáo khoa:
- Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối (Tuần 21, tiết 2)
- Luyện tập quan sát cây cối (Tuần 22, tiết 1)
- Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối (Tuần 22, tiết 2)
- Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối (Tuần 23, tiết 1)
- Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối (Tuần 24, tiết 1)
- Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối (Tuần 25, tiết 2)
- Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả cây cối (Tuần 26, tiết 1)
- Luyện tập miêu tả cây cối (Tuần 26, tiết 2)
- Miêu tả cây cối (kiểm tra viết) (Tuần 27, tiết 1)
- Trả bài văn miêu tả cây cối (Tuần 27, tiết 2)
1.3. Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm
xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh.
Ở lớp 4, các loại bài làm văn đều gắn bó với các chủ điểm. Q trình thực
hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý quan sát, viết đoạn là những cơ hội giúp trẻ
mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ điểm đã học. Việc phân tích dàn
bài, lập dàn ý bài văn miêu tả, quan sát đối tượng….góp phần phát triển khả
năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ
cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa….khi miêu
tả cây cối; nhờ huy động vốn sống, huy động trí tưởng tượng để xây dụng bài
văn.
Khi quan sát cây, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan
hệ gần gũi giữa người và cây cối. Những cơ hội đó làm cho tình cảm u mến,
gắn bó với thiên nhiên hơn; tâm hồn, tình cảm của trẻ phong phú hơn. Đó là
những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ.
1.4. Các phương pháp dạy học thường được sử dụng:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.

- Phương pháp điều tra, khảo sát.
- Phương pháp luyện tập, thực hành.
- Phương pháp trao đổi, thảo luận.
………………………………….
1.5. Các biện pháp dạy học chủ yếu:
a. Hướng dẫn phân tích ngữ liệu:
+ Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập.
+ Một học sinh đọc thành tiếng yêu cầu bài tập.
+ Cả lớp đọc thầm lại yêu cầu rồi trình bày lại yêu cầu bài tập.


+ GV giải thích cho học sinh nắm rõ yêu cầu bài tập.
+ Có thể tổ chức cho học sinh làm mẫu một phần hoặc GV làm mẫu một
phần để cả lớp nắm vững yêu cầu bài.
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện các yêu cầu bài tập.
+ Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân, cặp, nhóm để làm bài tập.
+ Cho học sinh báo cáo kết quả.
+ Cho học sinh cả lớp nhận xét đóng góp ý kiến.
+ GV nhận xét tổng kết các ý kiến của học sinh và chốt lại rồi ghi bảng
(nếu cần).
b. Hướng dẫn luyện tập thực hành:
Tổ chức cho học sinh làm lần lượt từng bài tập theo các bước sau:
Hướng dẫn học sinh hiểu yêu cầu bài tập.
+ Một học sinh đọc to yêu cầu bài tập, cả lớp đọc thầm.
+ Một hai học sinh nhắc lại yêu cầu bài tập.
+ GV giải thích về yêu cầu bài tập (nếu cần).
+ Có thể cho học sinh nhắc lại những kiến thức đã học có liên quan đến
nội dung bài tập.
Tổ chức cho học sinh làm bài tập.
+ Học sinh làm bài tập bằng nhiều hình thức: cá nhân, nhóm đơi, nhóm

4,...
+ GV theo dõi giúp đỡ những em yếu hoặc giúp đỡ các nhóm làm bài.
+ Tổ chức cho học sinh trình bày kết quả theo nhiều cách khác nhau.
+ Cho những học sinh khác hoặc nhóm khác nhận xét, góp ý, bổ sung ý
kiến.
+ GV chốt lại ý chính và ghi bảng.
+ Học sinh ghi bài vào vở.
II. THỰC TRẠNG TRONG GIẢNG DẠY VIẾT ĐOẠN KẾT BÀI
TRONG BÀI VĂN MIÊU TẢ CÂY CỐI Ở LỚP 4:
Thuận lợi:
Giáo viên:
Giáo viên yêu nghề, tâm huyết với công việc, truyền đạt những kiến thức
mình có sao cho học sinh nắm được một cách tốt nhất.
Giáo viên đều biết về vai trò quan trọng của việc dạy học sinh viết đoạn
kết bài trong bài văn miêu tả cây cối nên đa sô chịu khó đầu tư cơng sức, trí tuệ,
tìm tịi các biện pháp dạy học để nâng cao hiệu quả tiết dạy.
Giáo viên có ý thức lập kế hoạch dạy học, đảm bảo mục tiêu của mỗi tiết
học, phương pháp dạy theo đặc trưng của phân môn tập làm văn.
Trau dồi tiếp thu học hỏi các tiết dạy của đồng nghiệp trong tổ khối để
vận dụng vào giảng dạy phân môn tập làm văn.
Có sự chuẩn bị như: tranh, ảnh minh họa, giáo án điện tử,…phù hợp cho
tiết dạy.
Học sinh:


Đa số học sinh viết đúng cấu trúc đoạn kết bài.
Nhiều HS chăm chỉ, có năng khiếu viết văn, các em có hiểu biết khoa học,
có vốn từ ngữ phong phú nên việc viết một đoạn văn miêu tả cây cối tương đối
tốt.
Các em có tâm hồn ngây thơ trong sáng, có lối sống lành mạnh, nhìn thế

giới xung quanh bằng con mắt của trẻ thơ nên có suy nghĩ và cách viết văn rất
khác với người lớn, đa số theo chiều hướng tích cực.
Mỗi em khi quan sát cây cối có sự cảm nhận khác nhau nên có cách viết
khác nhau tạo nên sự đa dạng, phong phú trong các bài văn.
Các em tiếp thu cái mới, cái sáng tạo rất nhanh, biết nghe và làm theo sự
hướng dẫn tỉ mỉ của GV.
2.Khó khăn, hạn chế :
Giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thường bám sát một số tài liệu Sách
giáo viên, thiết kế bài giảng. Khi hướng dẫn học sinh làm bài, giáo viên cịn nói
chung chung, chưa cụ thể nên học sinh khó khăn trong việc dùng từ ngữ, hình
ảnh.
Những tri thức khoa học, vốn sống thực tế, vốn từ ngữ ở một số giáo viên
còn hạn chế.
Trong các tiết dạy chưa chú ý bồi dưỡng nâng cao, mở rộng kiến thức
ngoài sách giáo khoa, chưa chú ý hình thành cho học sinh thói quen lập sơ đồ
(Lập dàn ý) cho đoạn văn nên khi viết cịn lộn xộn câu từ, các chi tiết, hình ảnh
về cây cối.
Trong tiết học, giáo viên quá chú trọng vào khâu truyền thụ kiến thức,
xem nhẹ việc thực hành rèn luyện kĩ năng nói - viết cho học sinh theo các đối
tượng khác nhau.
Khi tổ chức các hoạt động trong giờ học, giáo viên chưa phân định được
hoạt động nào là trọng tâm. Hình thức tổ chức dạy cịn nghèo do giáo viên chưa
thực sự đầu tư vào chất lượng của bài soạn.
Giáo viên chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tịi, vận dụng các phương pháp dạy
học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉ giảng dạy theo một
quy trình áp đặt rập khn, chưa chú trọng sửa lỗi cho học sinh trong q trình
nói – viết.
Việc tổ chức học tập trên lớp của giáo viên chưa khơi dậy ở học sinh sự
mạnh dạn tự tin trong học tập.

Học sinh:
Một số học sinh chưa nắm được cách viết đoạn kết bài trong bài văn miêu
cây cối. Chưa hiểu kĩ thế nào là kết bài không mở rộng? Thế nào là kết bài mở
rộng? Các em chưa hiểu một cách rõ ràng 2 cách kết bài này. Đây cũng là khó
khăn lớn trong việc viết đoạn kết bài của học sinh.
Việc nhầm lẫn viết đoạn kết bài với mở bài hay thân bài hay cả bài là do
học sinh chưa có kĩ năng đọc đề bài hoặc do đọc đề chưa kĩ.


Vốn từ của các em chưa phong phú nên việc dùng từ ngữ để miêu tả còn
chế.
Học sinh lớp 4 các em vẫn đang ở lứa tuổi tò mò, ham học hỏi hay bắt
chước nhưng lại chóng chán, nhanh quên, ngại tìm hiểu những văn bản dài và
khó như tập làm văn, các em còn học thụ động, bắt buộc, trong giờ học cịn tỏ ra
uể oải, mệt mỏi khơng thích học mơn Tập làm văn.
Khả năng tự tin nói trước lớp của các em chưa tốt, nhiều em còn thiếu tự
tin, ngại nói trước lớp. Nhiều học sinh chưa sáng tạo khi viết văn, thường dập
khuôn vào gợi ý mẫu nên bài viết thiếu sự sinh động.
Khả năng phân tích, nhận xét, đánh giá bài của bạn cịn hạn chế nên việc
học sinh giúp đỡ nhau sửa lỗi nhiều khi chưa hiệu quả.
Vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn hạn hẹp.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ NÂNG CAO KĨ NĂNG
VIẾT ĐOẠN KẾT BÀI CHO BÀI VĂN MIÊU TẢ CÂY CỐI.
1. Biện pháp 1: Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm của văn miêu tả
Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho
người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, cảnh vật,
sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không những
phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà cịn thể hiện
được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được
miêu tả. Bởi vì trong thực tế khơng ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm suy

nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình. Các bài
văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh u mến,
thích thú. Vì vậy, qua bài làm của mình, các em phải gửi gắm tình yêu thương
với những gì mình miêu tả.
3.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn để học sinh hiểu và viết được 2 kiểu kết
bài trong bài văn miêu tả cây cối.
Kết bài trong bài văn miêu tả cây cối có hai cách:
Cách một: Kết bài khơng mở rộng( Nêu tình cảm của người tả đối với
cây).
Cách hai: Kết bài mở rộng( Nêu ích lợi của cây, nêu ấn tượng đặc biệt
hoặc kỉ niệm đối với cây, nêu sự u thích, gắn bó và tình cảm của người tả đối
với cây).
Khi học sinh thực hiện viết đoạn kết bài trong bài văn miêu tả cây cối cần
có thời gian suy nghĩ tìm cách diễn đạt( dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp
tu từ so sánh, nhân hố,...). Vì vậy, u cầu đặt ra là lời văn cần rõ ý, miêu tả
sinh động, bộc lộ được cảm xúc, bố cục đoạn văn chặt chẽ, hợp lí.
Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong một bài văn nhưng lại rất quan
trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người viết với đối
tượng miêu tả. Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm xúc của mình
làm phần kết bài khơ cứng, gị bó, thiếu chân thực. Các em thường làm kết bài
khơng mở rộng, điều đó khiến bài văn chưa có sự hấp dẫn. Do đó, giáo viên cần


hướng dẫn, gợi ý để học sinh biết cách và viết được phần kết bài mở rộng bằng
cảm xúc của mình một cách tự nhiên. Giáo viên có thể dùng câu hỏi gợi mở để
khơi gợi cảm xúc của học sinh trong quá khứ, hiện tại, tương laị; hoặc trong
hoàn cảnh nào đó đối với đối tượng được tả.
3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu
tả, cách lựa chọn hình ảnh, nội dung miêu tả.
* Quan sát đối tượng miêu tả cần chú ý:

Quan sát tổng thể đối tượng; chú ý cả trạng thái động và tĩnh; quan sát
bằng tất cả giác quan thính giác, thị giác, xúc giác,...;
Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng để quan sát
thật kĩ;
Quan sát và so sánh điểm giống và khác nhau với các đối tượng khác có ở
xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó;
Quan sát hình ảnh, hoạt động và những tác động của đối tượng đến các sự
vật xung quanh;
Ghi chép cẩn thận, đầy đủ khi quan sát.
Ví dụ khi dạy bài Luyện tập quan sát cây cối, nhờ áp dụng các điều trên
học sinh có thể ghi lại được kết quả quan sát như sau:
* Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả:
Căn cứ vào hình ảnh đã lựa chọn khi quan sát;
Căn cứ vào nội dung đã ghi chép;
Chọn lọc những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp
và khác biệt của đối tượng để miêu tả chi tiết;
3.4. Biện pháp 4 : Giúp học sinh tích luỹ vốn từ miêu tả và làm giàu
tưởng tượng của các em trong viết đoạn kết bài.
Muốn lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh,
học sinh phải có vốn từ phong phú. Do vậy, giáo viên cần giúp học sinh tích luỹ
vốn từ miêu tả và làm giàu tưởng tượng của các em trong làm văn miêu tả:
* Tích luỹ vốn từ:
Vốn từ được tích luỹ từ nhiều nguồn: giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo;
xem, nghe truyền hình truyền thanh; trao đổi với bạn bè; cô giáo cung cấp;..
Ghi chép khi được nhận các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề, cụ
thể như:
Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng
khiu; xum xuê; rực rỡ; đo đỏ;
Các từ miêu tả đó thường là những từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh, để
miêu tả cho sinh động.

Các từ thường dùng khi viết đoạn kết bài: thích, yêu thích, yêu quý, yêu
mến, người bạn thân, ...
3.5. Biện pháp 5: Luyện tập cách sử dụng các biện pháp tu từ, biện
pháp nghệ thuật trong viết đoạn văn kết bài.


Để bồi dưỡng kĩ năng diễn đạt, học sinh sẽ thực hành một số bài tập luyện
viết như:
- Với các từ cho sẵn, yêu cầu học sinh viết thành câu gợi tả, gợi cảm.
- Điền tiếp vào chỗ chấm để hoàn chỉnh câu(mở rộng thành phần câu)
- Viết câu, viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ theo u cầu( nhân
hóa, so sánh, lặp từ...).
Ví dụ: Mỗi buồng cau có hàng trăm quả bằng quả trứng gà, da xanh
bóng. Năm tháng trơi qua, hàng cau vẫn hiền lành đứng trầm ngâm soi bóng
xuống mảnh vườn thân thuộc nhà em.
- Có thể gợi ý viết đoạn kết bài văn bằng cách đặt các câu hỏi. Ví dụ:
Quan sát một cây mà em yêu thích và cho biết (Tiết Luyện tập xây dựng kết bài
trong bài văn miêu tả cây cối, tuần 26, trang 82).
Cây đó là cây gì?
Cây có ích lợi gì?
Em u thích, gắn bó với cây như thế nào? Em có cảm nghĩ gì về cây?
Giáo viên cần tiến hành theo mức độ tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học
sinh đặt câu đúng, sau yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so
sánh, nhân hố, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay
những từ biểu lộ tình cảm.
3.6. Biện pháp 6: Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài tập làm văn.
Kĩ năng Tập làm văn trước hết được chia thành kĩ năng nói, kĩ năng viết.
Ở lớp đầu cấp, khẩu ngữ của các em phát triển hơn cịn kĩ năng viết mới được
hình thành nên bị ảnh hưởng của khẩu ngữ, các em nói thế nào, viết thế ấy. Về
sau, kĩ năng viết sẽ phát triển và sẽ ảnh hưởng tích cực trở lại với khẩu ngữ. Lên

lớp 4,5 kĩ năng viết ngày càng phát triển. Tập làm văn có vai trị hàng đầu trong
việc phát triển kĩ năng này. Đặc biệt, khi học viết văn miêu tả, học sinh lớp 4
bước đầu được học diễn đạt lưu lốt, giàu hình ảnh.
Mặt khác, sự liên kết nội dung là liên kết bên trong khó nhận thấy, nhiều
người thường chú ý đến hình thức ngơn từ mà không coi trọng đến lôgic của các
ý trong bài. Trong khi chữa văn cho học sinh, nhiều giáo viên thường chú ý chữa
lỗi chính tả, chữa lời mà khơng chữa ý.
Người giáo viên cần hiểu rõ mục tiêu của tiết trả bài để thực hiện một
cách nghiêm túc, kĩ lưỡng, tránh làm “lấy lệ”, không thể qua loa, đại khái. Muốn
làm được như vậy, giáo viên phải tiến hành như thế nào?
* Chuẩn bị:
Chấm bài thật kĩ, thấy rõ ưu, nhược điểm của từng bài viết; chữa lỗi tiêu
biểu cần khắc phục ngay cho các em.
Ghi lại các lỗi của học sinh theo từng loại: Lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi
đặt câu, lỗi diễn đạt,..Ghi lại các từ, câu, đoạn văn hay.
Thống kê và phân loại bài theo mức độ: hoàn thành tốt, hoàn thành, chưa
hoàn thành. Nhận xét chung về ưu, nhược điểm trong bài viết của học sinh.


Học sinh phải thấy được lỗi trong đoạn văn của mình và của bạn; sửa
được lỗi đó và ghi nhớ nó; hiểu rõ và có nhu cầu học hỏi những từ, câu, đoạn
văn hay, giàu hình ảnh gợi tả.
3.7. Biện pháp 7: Sử dụng linh hoạt, hợp lý các hình thức tổ chức
dạy học:
Có rất nhiều hình thức tổ chức dạy học như hình thức dạy học các nhân,
hình thức dạy học nhóm, hình thức dạy học cả lớp, hình thức dạy học trải
nghiệm, hình thức dạy học tham quan… Tuy nhiên, khơng có bất kì một hình
thức dạy học nào là vạn năng nên người giáo viên cần sử dụng các hình thức
dạy học linh hoạt, phù hợp với mục tiêu của từng hoạt động dạy học để tiết
học trở nên hiệu quả.

3.8. Biện pháp 8: Khen ngợi, động viên kịp thời.
Để kích thích học sinh học tập nói chung, học văn miêu tả nói riêng giáo
viên hãy dành cho các em những lời khen thích đáng. Đọc câu văn, đoạn văn,
bài văn hay của các em để các em khác chia sẻ và học tập. Các em sẽ phấn khởi,
tự tin hơn .
IV. QUY TRÌNH DẠY MỘT TIẾT TẬP LÀM VĂN
1. Kiểm tra bài cũ:
GV yêu cầu HS nhắc lại những kiến thức cần ghi nhớ hoặc làm bài tập
thực hành.
2. Bài mới:
a, Đối với loại bài dạy lý thuyết GV giới thiệu bài
GV nêu yêu cầu của tiết học, chú ý làm nổi bật mối quan hệ giữa nội dung
tiết học này với các tiết học khác.
Hình thành khái niệm :
+ Phân tích ngữ liệu: GV hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu
+ Ghi nhớ kiến thức: GV cho HS đọc thầm rồi nhắc lại phần ghi nhớ SGk.
+Hướng dẫn luyện tập: GV hướng dẫn HS làm bài tập thực hành
+ Củng cố, dặn dò: Chốt lại những kiến thức, kĩ năng cần nắm vững.
+ Nhận xét tiết học.
b, Đối với loại bài thực hành
Giới thiệu bài .
Hướng dẫn thực hành.
Củng cố, dặn dò.
BÀI SOẠN MINH HOẠ
Tập làm văn
LUYỆN TẬP XÂY DỰNG KẾT BÀI
TRONG BÀI VĂN MIÊU TẢ CÂY CỐI
I. Mục tiêu:
1. HS nắm được 2 kiểu kết bài (không mở rộng, mở rộng) trong bài văn
miêu tả cây cối.



2. Thực hành luyện tập viết đoạn văn kết bài trong bài văn miêu tả cây cối
theo cách mở rộng.
3. Giáo dục học sinh tình yêu cây cối, tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ
môi trường, bảo vệ thiên nhiên.
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh ảnh 1 số loài cây na, ổi, mít, tre, tràm, đa.
- Máy chiếu, máy tính.
III. Các hoạt động dạy học:
A. Kiểm tra bài cũ:
Yêu cầu HS nêu cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối. Giáo viên nhận xét.
B. Dạy bài mới:
1. Giới thiệu:
2. Hướng dẫn luyện tập:
+ Bài 1:
HS: Đọc yêu cầu
Bài 1 có mấy yêu cầu? Đó là những - Có 2 yêu cầu.....
yêu cầu nào?
- Yêu cầu HS thảo luận nhóm đơi
-Trao đổi cùng bạn để trả lời câu hỏi(
nhóm đôi).
- Gọi HS trả lời
HS: Phát biểu ý kiến.
Tại sao đoạn văn ở phần a lại dùng để - Vì.....
kết bài?
Tại sao đoạn văn ở phần b lại dùng để - Vì.....
kết bài?
- GV chốt lời giải đúng.
- HS lắng nghe.

Có thể dùng các đoạn văn ở câu a, câu
b để kết bài vì:
Đoạn a: Nói tình cảm của người tả đối
với cây.
Đoạn b: Nêu ích lợi của cây và tình
cảm của người tả đối với cây.
Có mấy cách kết bài trong bài văn - Có 2 cách.
miêu tả cây cối?
+ Bài 2:
HS: Đọc yêu cầu của bài
- GV cho HS chia sẻ với cô giáo và - HS tiếp nối nhau chia sẻ (3- 4 HS)
các bạn về loài cây mà em yêu thích.
- GV cho HS quan sát một số loài cây HS quan sát một số loài cây và lập
quen thuộc sau đó giáo viên hướng sơ đồ cho phần trả lời.
dẫn HS trả lời theo sơ đồ.
- HS suy nghĩ trả lời 3 câu hỏi trong
SGK để hình thành các ý cho 1 kết
bài mở rộng.
- Nối tiếp nhau phát biểu.


- GV nhận xét góp ý.
+ Bài 3:
- GV hướng dẫn HS phân tích đề.
Kết bài mở rộng nêu cần nêu được
những nội dung gì?
- GV lưu ý HS cách viết đoạn kết bài
về nội dung và hình thức.
- GV giới thiệu một đoạn văn kết bài
mẫu.

- GV cho HS viết bài cá nhân

- HS: Đọc đề
- HS trả lời
- HS lắng nghe
- HS đọc đoạn văn kết bài mẫu
- HS viết bài cá nhân
- Nối tiếp nhau đọc đoạn văn của
mình trước lớp.

- GV và cả lớp nhận xét, khen những
em viết hay.
+ Bài 4:
- HS: Đọc yêu cầu của bài ( 3 HS)
- HS lắng nghe.
- GV giới thiệu về 3 lồi cây có trong
bài.
- GV gợi ý HS làm bài theo 3 bước:
Bước 1: Chọn đề tài
Bước 2: Lập sơ đồ đoạn văn
Bước 3: Viết đoạn văn
- HS viết đoạn văn cá nhân.
- Nối tiếp nhau trình bày bài.
- GV nhận xét.
HS nhận xét bài của bạn.
Củng cố - dặn dò:
- GV tổ chức cho HS chơi trò chơi: Vượt chướng ngại vật.
- Nhận xét giờ học.
PHẦN C: KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Trên đây là một số biện pháp chúng tơi đã thực hiện trong q trình giảng

dạy nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học viết đoạn kết bài trong bài văn miêu tả
cây cối. Trong quá trình thực hiện, đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ.
Tuy vậy, khơng tránh báo cáo có thể cịn nhiều thiếu sót. Vì vậy, chúng tơi rất
mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và đóng góp chân thành của các cấp lãnh
đạo, các đồng chí trong Ban giám hiệu các nhà trường và bạn bè đồng nghiệp để
chúng tơi giảng dạy ngày một tốt hơn, góp một phần cơng sức nhỏ bé của mình
vào việc nâng cao chất lượng học sinh.
Trân trọng cảm ơn!
Hồng Châu, ngày 17 tháng 3 năm 2021
DUYỆT CỦA BAN GIÁM HIỆU
NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO
Nguyễn Thị Thu Hiền




×