Tải bản đầy đủ (.pdf) (49 trang)

sáng kiến kinh nghiệm hoạt động trải nghiệm thcs

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 49 trang )

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH VIẾT SÁNG KIẾN
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động giáo dục (HĐGD) ở trường phổ thông sau năm 2015 theo tinh thần và
mục tiêu của Nghị Quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, nghĩa là cần tổ chức các HĐGD theo hướng tăng cường sự trải nghiệm, nhằm phát
huy tính sáng tạo cho học sinh, tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được trải
nghiệm nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồn sáng tạo, biến những ý tưởng sáng tạo của
học sinh thành hiện thực để các em thể hiện hết khả năng sáng tạo của mình. Nói tới trải
nghiệm sáng tạo (TNST) là nói tới việc học sinh phải kinh qua thực tế, tham gia vào hoặc
tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện nào đó và tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh
thần, tìm ra cái mới, cách giải quyết mới khơng bị gị bó, phụ thuộc vào cái đã có. Hoạt
động trải nghiệm sáng tạo (TNST) nhằm định hướng, tạo điều kiện cho học sinh quan sát,
suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó tổ chức khuyến khích, động viên và
tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu, tìm ra những giải pháp mới, sáng tạo
những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong
thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành ý thức, phẩm chất, kĩ năng sống và năng lực cho
học sinh.
Hoạt động TNST trong nhà trường phổ thông được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo
ra những con người có chí hướng, có đạo đức, có định hướng tương lai, có khả năng sáng
tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết
chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh. HĐTNST về cơ bản mang tính chất là các
hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực nhằm phát triển khả năng
sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể.
Như vậy hoạt động TNST coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học
sinh, nên tổ chức cho học sinh và giáo viên cùng tham gia bàn bạc, nêu ý kiến hoặc tự
học sinh xây dựng kế hoạch và phân chia công việc, nhiệm vụ rồi thực hiện. Tùy thuộc
4


vào đặc trưng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế - xã hội của


mỗi địa phương, nhà trường có thể lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù
hợp và hiệu quả. Các hình thức tổ chức hoạt động TNST được trình bày ở trên là những
gợi ý để nhà trường tổ chức có hiệu quả nhất hoạt động giáo dục của mình, đáp ứng nhu
cầu và mục tiêu giáo dục.
Trước yêu cầu của đổi mới giáo dục của Bộ giáo dục, bản thân tôi luôn mong muốn
được tổ chức những hoạt động TNST bổ ích tìm hiểu về các di sản văn hóa của tỉnh Nam
Định cho học sinh nhằm mục đích vừa phát triển năng lực cho các em lại vừa giáo dục
lòng yêu quê hương, bản sắc dân tộc và con người.
Trong hội nghị lần thứ 11 của Ủy ban Liên chính phủ Tổ chức giáo dục, Khoa học và
Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đã họp tại
Ethyopia từ 28/11 đến 03/12/2016. Ngày 03/12/2016, với sự thống nhất của tồn thể hội
nghị, Ủy ban đã chính thức ra nghị quyết cơng nhận “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu
Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi danh là tin vui to lớn đối với tỉnh Nam
Định (địa phương được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng hồ sơ trình UNESCO) nói riêng
và nhân dân cả nước nói chung.
Việc di sản “Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được
UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại một
mặt sẽ góp phần tăng cường vị trí, vai trị cảu di sản văn hóa đối với xã hội, làm giàu
thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và của nhân loại, mặt khác sẽ làm cho
cộng đồng, những người thực hành di sản nhận thức sâu sắc hơn về di sản của mình để họ
tự hào và tích cực hơn trong cơng tác tham gia bảo vệ và phát huy giá trị của di sản.
Tối ngày 2/4/2017 được sự đồng ý của Bộ Văn hóa Thể thao du lịch, tỉnh Nam Định
đã tổ chức đón bằng UNESCO ghi danh “Thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của
người Việt” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Di sản “Thực hành Tín
ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bởi
Nam Định là một trung tâm của tín ngưỡng Thờ Mẫu có đơng đảo cộng đồng là chủ thể
5


của di sản, nên Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã đồng ý để Nam Định đại diện cho

các địa phương có di sản thờ Mẫu tổ chức xây dựng hồ sơ trình UNESCO và tổ chức Lễ
đón bằng cơng nhận di sản nhân loại của UNESCO trao tặng.
Trước niềm vui của đất nước và tỉnh nhà và mong muốn học sinh mình có những
hoạt động trải nghiệm thực sự bổ ích để hiểu biết hơn về di sản văn hóa của địa phương
mình, tơi đã tìm hiểu và viết sáng kiến với đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng
tạo cho học sinh tìm hiểu về di sản văn hóa địa phương – văn hóa tín ngưỡng Thờ Mẫu
Tam phủ của người Việt”
II. MƠ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN
1. Mô tả giải pháp kĩ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
Đầu năm 2013 Bộ GD&ĐT và Bộ VHTT&DL đã có bản hướng dẫn về sử dụng di
sản văn hóa vào dạy học, được thực hiện thí điểm tại 7 địa phương: Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam với ba môn: Lịch
sử, Địa lý và Âm nhạc.
Hiệu quả của việc đưa di sản vào trường học đã thấy rõ, nhưng để có một bài học
trong vịng 45 phút, giáo viên phải rất kỳ công chuẩn bị, khơng chỉ thời gian mà cịn là
kinh nghiệm giảng dạy tích lũy trong nhiều năm. Việc này vơ tình trở thành gánh nặng
cho người trực tiếp giảng dạy và nhà trường. Rồi việc chế tác, duy trì và đảm bảo chất
lượng học liệu là các hiện vật văn hóa sử dụng trong mỗi tiết học cũng địi hỏi có sự đầu
tư về thời gian và nguồn lực của nhà trường, cơ quan văn hóa và cộng đồng. Lựa chọn di
sản gì vào bài học nào cũng là trăn trở của nhiều người, bởi chưa có tài liệu hướng dẫn
chính thống, mà hoàn toàn dựa trên những gợi ý chung chung.
Để di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn và phát triển bền vững, cần thiết nhấn
mạnh đến yếu tố địa phương và bản địa hóa ngơn ngữ. Và những nghệ nhân của nơi có di
sản văn hóa phi vật thể cùng tham gia vào giảng dạy thì đó là nhân chứng sống động giúp
cho việc tiếp thu, bảo tồn di sản một cách bền vững. Thực tế, các hoạt động gắn kết giữa
di sản, bảo tàng với hoạt động giáo dục bấy lâu đã được triển khai thông qua các hoạt
6


động ngoại khóa, tham quan, đặc biệt là qua phong trào Xây dựng trường học thân thiện,

học sinh tích cực được triển khai rộng rãi vài năm nay... Song công tác giáo dục di sản
trong nhà trường còn nhỏ lẻ, chưa được tiến hành một cách bài bản và thường xuyên. Còn
phong trào Xây dựng nhà trường thân thiện, học sinh tích cực mặc dù có những kết quả
tích cực, nhưng nó chỉ mang tính phong trào, chưa thực sự đi vào đời sống giáo dục...
Khi thực hiện sáng kiến này, tơi nghĩ di sản có ở ngay quanh chúng ta và chúng ta
hãy dùng những di sản gần nhất để dạy học sinh, và dùng những biện pháp đơn giản nhất
để các giáo viên có thể sử dụng được mà khơng cần sự hỗ trợ về mặt tài chính nào quá
lớn.
Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng tài liệu về di sản để tiến hành giảng dạy cũng
cần sự nhuần nhuyễn. Cụ thể, giáo viên phải tiến hành chọn lọc kỹ và xác minh tính chân
thực của các tài liệu về di sản. Đặc biệt, phải biết chọn lọc những tài liệu điển hình nhất,
sắp xếp các tài liệu đó thành hệ thống phù hợp với tiến trình bài học kết hợp với các
phương tiện trực quan, kỹ thuật hiện đại... phải bảo đảm yêu cầu như lập kế hoạch cụ thể
về công tác chuẩn bị và tiến hành bài học, đi khảo sát thực địa, liên hệ với các cơ quan
quản lý di sản...
Theo định hướng chương trình giáo dục phổ thơng mới, các mục tiêu của hoạt
động giáo dục sẽ được thực hiện chỉ trong một hoạt động có tên gọi là hoạt động trải
nghiệm sáng tạo (HĐTNST). Như vậy, HĐTNST sẽ thực hiện tất cả các mục tiêu và
nhiệm vụ của các hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL), hoạt động tập thể, sinh
hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp…và thêm vào đó là những mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của
giai đoạn mới. Giai đoạn giáo dục cơ bản kéo dài từ lớp 1 đến lớp 9. Ở giai đoạn giáo dục
cơ bản, chương trình HĐTNST tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách,
những thói quen, kỹ năng sống cơ bản: tích cực tham gia, kiến thiết và tổ chức các hoạt
động; biết cách sống tích cực, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân; biết cách tổ chức
cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm.
Tuy nhiên trên thực tế, tôi nhận thấy các giờ HĐGDNGLL đã được thực hiện
khơng đúng mục đích, có khi biến thành giờ chơi của HS hay giờ hoạt động tập thể. Giáo
viên tổ chức hoạt động cho học sinh nhưng không rõ hoạt động đó sẽ hướng tới hình
7



thành những năng lực gì của các em, các hình thức tổ chức còn chưa phong phú. Học sinh
thường được chỉ định, phân công tham gia một cách bị động, không phải tất cả HS đều
được tham gia, giáo viên không giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng HS trong từng hoạt động
và cũng khơng bao qt được tồn bộ HS tham gia. Ngoài ra việc kiểm tra đánh giá kết
quả HĐGDNGLL không được tiến hành thường xuyên, không phục vụ để đánh giá kĩ
năng, năng lực và phẩm chất cá nhân HS. Điều đó khơng phù hợp với một chương trình
định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, cần phải thay đổi.
Nhâṇ thức được những điểm yếu của HĐGDNGLL hiện tại và hiểu được ý nghĩa,
vai trị của HĐTNST trong chương trình giáo dục phổ thơng mới, cũng như việc cấp thiết
phải giáo dục cho các em hiểu biết về di sản văn hóa q hươngtơi chọn đề tài “Tổ chức
hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh tìm hiểu về di sản văn hóa địa phương – văn
hóa tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”
2. Mô tả giải pháp kĩ thuật sau khi tạo ra sáng kiến
Với những hạn chế của giải pháp đã có, tơi đã tìm hiểu kĩ lưỡng về TNST và tiến
hành sửa các phương pháp tổ chức dạy học TNST, bổ sung các phương pháp tích cực để
hoạt động này đạt được hiệu quả cao nhất.
2.1. Tìm hiểu về các hỏa động trải nghiệm sáng tạo và việc tổ chức trải nghiệm sáng
tạo trong trường trung học
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
a, Khái niệm
Căn cứ vào định nghĩa về hoạt động Giáo dục ngồi giờ lên lớp (GDNGLL) trong
các chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục,
hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TNST) được định nghĩa như sau:
Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, trong đó từng cá nhân học sinh được trực tiếp
hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như mơi trường gia đình và xã hội
dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức,
nhân cách, các năng lực…, từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng
sáng tạo của cá nhân mình.
8



Khái niệm này khẳng định vai trò chủ đạo của nhà giáo dục với hoạt động này; tính
tham gia trực tiếp, chủ động tích cực của học sinh, phạm vi các chủ đề hay nội dung các
hoạt động và kết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm chất và tiềm năng sáng tạo, trong
đoa hoạt động là phương thức cơ bản của sự hình thành phát triển nhân cách con người
b, Đặc điểm của TNST
- TNST là dấu hiệu cơ bản của hoạt động.
Hoạt động TNST tạo cơ hội cho học sinh hoạt động trong thực tiễn để tích lũy và chiêm
nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành hiểu biết theo cách của riêng mình,
đó đã được gọi là sáng tạo của học sinh. Hoạt động TNST có khả năng huy động sự tham
gia tích cực của học sinh ở tất cả mọi khâu của quá trình hoạt động, từ thiết kế hoạt động
đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và
khả năng bản thân; tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý
tưởng sáng tạo; được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng
định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả của bản thân, của nhóm mình và của
bạn bè…
- Nội dung hoạt động TNST rất đa dạng và mang tính tích hợp, phân hóa cao
Nội dung hoạt động TNST rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ
năng của nhiều mơn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo
dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể
chất, giáo dục lao động, giáo dục an tồn giao thơng…. Điều này giúp cho các nội dung
giáo dục thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống thực tế hơn, đáp ứng được nhu cầu hoạt
động của học sinh, giúp các em vận dụng vào trong thực tế cuộc sống một cách dễ dàng,
thuận lợi hơn.
Bên cạnh hoạt động có tính tích hợp, học sinh được lựa chọn một số hoạt động chuyên
biệt phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú của bản thân để phát triển năng lực sáng
tạo riêng của mỗi cá nhân.
- Hoạt động TNST được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng
Hoạt động TNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi,

diễn đàn, giao lưu, tham quan, du lịch, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm,
9


kịch tham gia…), thể dục thể thao, câu lạc bộ, tổ chức các ngày hội, các cơng trình
nghiên cứu khoa học kĩ thuật… Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong đó
những khả năng giáo dục nhất định. Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà
việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn,
khơng gị bó và khơ cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí cũng như nhu cầu, nguyện
vọng của học sinh. Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạt động TNST, cả
giáo viên và học sinh đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình,
làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động. Sự đa dạng của
hình thức trải nghiệm cũng cũng tạo cơ hội thực hiện giáo dục phân hóa.
- Hoạt động TNST địi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường
Khác với hoạt động dạy học, hoạt động TNST cần thu hút sự tham gia phối hợp, liên
kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa
phương, hội khuyến học, hội phụ nữ, đoàn thanh niên cộng sản HCM, hội cựu chiến binh,
các cơ quan, tổ chức doanh nghiệp địa phương….Mỗi lực lượng giáo dục có tiềm năng
thế mạnh riêng. Tùy nội dung, tính chất từng hoạt động mà sự tham gia của các lực lượng
có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp; có thể là chủ trì, đầu mối hoặc phối hợp, có thể về
những mặt khác nhau (có thể hỗ trợ về kinh phí, phương tiện, địa điểm tổ chức hoạt động
hoặc đóng góp về chuyên mơn, trí tuệ, chất xám hay sự ủng hộ về tinh thần). Do vậy,
hoạt động TNST tạo điều kiện cho học sinh được học tập, giao tiếp rộng rãi với nhiều lực
lượng giáo dục; được lĩnh hội nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều
cách tiếp cận khác nhau. Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất lượng, hiệu quả
của hoạt động TNST.
- Hoạt động TNST giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác
khơng thực hiện được
Lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người và thế giới xung quanh bằng nhiều con

đường khác nhau để phát triển nhân cách mình là mục tiêu quan trọng của hoạt động của
học tập. Tuy nhiên có những kinh nghiệm chỉ có thể lĩnh hội thơng qua trải nghiệm thực
tiễn như phân biệt mùi vị, cảm thụ âm nhạc, tư thế cơ thể trong không gian, niềm vui
10


sướng hạnh phúc…những điều này chỉ thực sự có được khi học sinh được trải nghiệm với
chúng. Sự đa dạng trong trải nghiệm sẽ mang lại cho học sinh nhiều vốn sống kinh
nghiệm phong phú mà nhà trường không thể cung cấp thông qua các công thức hay định
luật, định lý…
Tóm lại, hoạt động TNST là một phương thức học hiệu quả, nó giúp hình thành năng
lực cho người học. Phương pháp trải nghiệm có thể được thực hiện với bất kì lĩnh vực tri
thức nào, khoa học đạo đức hay kinh tế xã hội…Hoạt động trải nghiệm cũng cần được
tiến hành có tổ chức, có hướng dẫn theo quy trình nhất định của nhà giáo dục thì hiệu quả
của việc học qua trải nghiệm sẽ tốt hơn. Hoạt động giáo dục nhân cách học sinh chỉ có
thể tổ chức qua hoạt động trải nghiệm.
2.1.2, Tôi nhận thấy hoạt động TNST đã dạy khác với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp (GDNGLL) ở những điểm cơ bản sau:

Điểm so sánh

Hoạt động TNST

Hoạt động GDNGLL

Vị trí, vai trị

Là một bộ phận của chương trình; Là bộ phận của chương trình;
Có quan hệ chặt chẽ với hoạt Có quan hệ chặt chẽ với hoạt
động dạy học


động dạy học

Gắn lí thuyết với thực tiễn

Gắn lí thuyết với thực tiễn

Phát triển phẩm chất nhân cách Phát triển nhân cách toàn diện
và năng lực chung và năng lực của học sinh
đặc thù

Được tổ chức ngồi giờ học
các mơn văn hóa

Mục tiêu

Hoạt động TNST nhằm hình Kiến thức: củng cố, mở rộng,
thành và phát triển phẩm chất khắc sâu kiến thức đã học;
nhân cách, các năng lực tâm lí xã nâng cao hiểu biết về các lĩnh
hội…giúp học sinh tích lũy kinh vực của đời sống xã hội và
11


nghiệm cũng như phát huy tiềm giá trị truyền thồng, nhân loại
năng sáng tạo của cá nhân mình;
làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo
dựng được sự nghiệp và cuộc
sống hạnh phúc sau này.

Kĩ năng: góp phần hình thành

năng lực chủ yếu như tự hồn
thiện, thích ứng, hợp tác, giao
tiếp ứng xử; có lối sống phù
hợp với giao tiếp xã hội
Thái độ: Có ý thức trách
nhiệm với bản thân, gia đình,
xã hội; tích cực tham gia hoạt
động tập thể, lựa chọn nghề
nghiệp tương lai…

Nội dung

5 lĩnh vực nội dung:

6 mạch nội dung:

- Giá trị sống, kĩ năng sống

- Giáo dục tuyền thống

- Quê hương đất nước và hòa - Ý thức học tập
bình thế giới

- Tổ quốc, Đảng, Đồn…

- Gia đình và nhà trường

- Tình bạn, tình yêu, gia đình

- Nghề nghiệp


- Hịa bình, hữu nghị và hợp

- Khoa học và nghệ thuật

tác

Được thể hiện qua các chủ đề đa - Tình nguyện
dạng, phong phú và đảm bảo yêu
cầu chung vừa phù hợp với đặc

Được thể hiện trong 9 hoặc
10 chủ đề theo tháng

điểm của từng trường, địa phương
Chương trình Song song hai chương trình: Một chương trình chung cho
tự chọn hay Chương trình bắt buộc với 100% tất cả
bắt buộc

học sinh và chương trình tự chọn
12


PP và hình Hình thức giống nhau
thức tổ chức

Hình thức giồng nhau

PP: Thiết kế nhiệm vụ rõ ràng Hướng dẫn hoạt động chung,
hướng tới mục tiêu hình thành phát huy vai trò chủ thể của

các năng lực cụ thể

Đánh giá

học sinh trong hoạt động.

Đánh giá năng lực cụ thể thông Đánh giá sự phát triển về
qua các chỉ số hành vi và tiêu chí nhận thức, kĩ năng, thái độ;
chất lượng.

Thực hiện bằng nhiều con

Thông qua các công cụ cho mỗi

đường; tự nhận xét; nhận xét
của tập thể, của các giáo viên,

hình thức.

qua quan sát hoạt động, trị
Đánh giá q trình và kết quả

chuyện, qua sản phẩm

hoạt động trên từng cá nhân và
xác định được vị trí của mỗi học
sinh trên đường phát triển năng
lực
Minh chứng: bộ hồ sơ hoạt động
của học sinh

Sử dụng kết Để báo cáo kết quả hoạt động của Góp phần vào đánh giá hạnh
quả đánh giá

học sinh cho các bên liên quan.
Điều chỉnh các yếu tố giúp học
sinh nâng cao mức độ năng lực
trên đường phát triển.
Là điều kiện cần của đánh giá xếp
loại toàn diện học sinh để xét lên
lớp, chuyển cấp và xét tuyển cho
những hoạt động đặc thù…

13

kiểm; nâng cao cao chất
lượng giáo dục toàn diện.


Qua bảng phân tích trên, tơi thấy hai hoạt động này có vị trí, vai trị và hình thức tổ
chức khá thống nhất. Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản ở chỗ là trong hoạt động TNST ,
mục tiêu được diễn đạt dưới dạng năng lực và các năng lực này được đánh giá thông qua
phương pháp và công cụ chuyên biệt; cách thức tổ chức hoạt động phải làm sao để 100%
học sinh tham gia trong các hoạt động bắt buộc và được tự chọn tham gia nội dung mình
u thích; từng cá nhân phải được đánh giá và xếp loại với minh chứng là hồ sơ về quá
trình hoạt động và kết quả đánh giá được sử dụng cho việc xếp loại hay xét tuyển…
2.1.3 Sử dụng các phương pháp dạy học TNST để có hiệu quả cao trong dạy – học và
giáo dục
2.1.3.1. Dạy học gắn liền với thực tế
Mỗi cá nhân sống trong môi trường xã hội luôn thực hiện việc học. Về bản chất
con người ln học, bởi con người ln tiếp nhận các kích thích từ mơi trường để thích

nghi để phát triển. Và việc học này có thể tự phát hoặc tự giác. Hiệu quả của việc học phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: vào sự tích cực của cá nhân, mơi trường giáo dục, vào người dạy,
vào đặc điểm sinh học của cá nhân, vào phương pháp mà cá nhân thực hiện được hướng
dẫn…
Con người chúng ta học rất nhiều điều từ cuộc sống, nhiều kiến thức khoa học từ
các lĩnh vực khác nhau cũng nhằm để phát triển trí tuệ và phẩm chất nhân cách của bản
thân.
Con người học nhiều cách. Học qua thầy, qua bạn qua trường lớp hay tự
học…Nhưng cho dù học theo cách nào thì con người cũng học bằng hoạt động. Học có
bản chất hoạt động. Hoạt động vừa là điều kiện, vừa là phương thức của việc học, Khi nói
học như là hoạt động chúng ta muốn nói tới việc ln phải có mục đích, phải xác định
được cái cần chiếm lĩnh ( đối tượng hoạt động), xác định được các điều kiện thực hiện
(động cơ, phương tiên)…
Vì vậy trong quá trình dạy học trải nghiệm sáng tạo ở trường THCS tôi luôn chú trọng
cho học sinh liên hệ với thực tế cuộc sống từ bài học của các em.
14


2.1.3.2. Tổ chức cho học sinh học qua thực hành, thực tập
Thực hành là việc vận dụng những kiến thức lí luận được học vào những ngữ cảnh
mới của thực tiễn. Thơng qua việc thực hành người học chính xác hóa và củng cố kiến
thức thu được, hiểu kiến thức lí luận sâu sắc hơn đồng thời chiếm lĩnh được một số kĩ
năng thực tiễn.
Thực tập (tập làm) là việc chiếm lĩnh kiến thức hay hình thành kĩ năng chủ yếu
thông qua các thao tác hành vi, hành động trực tiếp của người học với đối tượng cần
chiếm lĩnh trong một mơi trường xác định.
Chính vì vậy tơi ln chú trọng việc thực hành trong các giờ dạy học TNST…ví dụ
như cho các em quan sát đền Trần, từ đó các em tự mình xây dựng dàn ý và viết bài văn
thuyết minh về Đền Trần.
2.1.3.2. Dạy học qua trải nghiệm

Tơi nhận thấy bên cạnh hai hình thức trên, học sinh còn học được nhiều kinh
nghiệm từ trải nghiệm của mình. Những kinh nghiệm đã có ln được bổ sung thường
xuyên bởi trải nghiệm cá nhân. Những trải nghiệm này rất quan trọng đối với việc học,
bởi vì, có nhiều kiến thức, kinh nghiệm con người chỉ có được từ trải nghiệm.
Cụ thể học sinh có thể có được các kinh nghiệm trong quá trình trải nghiệm như sau:
+ Kinh nghiệm rời rạc, cụ thể
+ Quan sát và phản tỉnh
+ Khái niệm hóa
+ Thử nghiệm tích cực
Ví dụ như dạy phần kiến thức này tôi đã cho HS trải nghiệm: quan sát nghệ nhân
mặc trang phục cho mẫu, sau đó tự học sinh rút ra kinh nghiệm để thử nghiệm tích cực,
mặc trang phục cho các bạn trong đội mình.
Tóm lại, phương pháp dạy - học trải nghiệm chính là quá trình người dạy cùng
người học thực hiện chu trình tổ chức huy động và cấu trúc lại các kinh nghiệm đã có, đã
trải nghiệm trước đây của người học để tạo nên tri thức mới, giá trị mới, năng lực mới và

15


tri thức, năng lực mới này tiếp tục được kiểm chứng trong quá trình trải nghiệm thực tiễn,
quá trình trải nghiệm thực tiễn, quá trình giải quyết nhiệm vụ mới tiếp theo.
2.1.4 Sự khác biệt giữa Dạy học TNST với hoạt động dạy học thơng thường
Trong q trình dạy học TNST, tơi phân tích so sánh và thấy được sự khác biệt
giữa dạy học TNST với các hoạt động dạy học thông thường. Để thấy rõ sự khác biệt
giữa phương pháp trải nghiệm trong dạy học và trong giáo dục, tơi trình bày ở bảng so
sánh dưới đây:

Mục đích

Hoạt động dạy học


Hoạt động TNST

Nhằm chủ yếu hình thành:

Nhằm chủ yếu hình thành:

Năng lực trí tuệ, kĩ năng trí tuệ

Phẩm chất nhân cách, giá trị,
kĩ năng sống

Chức
nhiệm vụ

năng Chức năng trội: chủ yếu nhằm Chức năng trội: Chủ yếu
thực hiện nhiệm vụ giáo dục trí nhằm thực hiện các nhiệm vụ
giáo dục Đạo đức, thẩm mĩ,

tuệ.
Có thế mạnh về mặt phát triển

sức khỏe, lao động…

trí tuệ, nhận thức: Hình thành Có thế mạnh về mặt xúc cảm,
các biểu tượng, khái niệm, định thái độ: Hình thành niềm tin,
luật, lý thuyết, các kĩ năng, kĩ chuẩn mực, lí tưởng, động cơ,

Đối tượng


xảo…

nguyên tắc hành vi, lối sống

Hệ thống khái niệm

Hệ thống giá trị, chuẩn mực

Hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ Hệ thống các chuẩn mực xã
xảo được quy định chặt chẽ, hội (các định hướng giá trị về
phù hợp logic nhận thức, tuân đạo đức, văn hóa thẩm mĩ…),
theo một chương trình, kế có tính khơng chắc chắn, chủ
hoạch dạy học nhằm đạt được yếu dựa theo nhu cầu xã hội,
16


một mục tiêu giáo dục xác định nguyện vọng và hứng thú của
đối tượng
Môn học / khoa học

Lĩnh vực

Chủ đề, chủ điểm, nội dung
giáo dục (nghĩa hẹp) đa dạng
phong phú



chế


hình Con đường nghiên cứu khoa Tác động vào cảm xúc, nhiều

thành

học, logic cao

khi phi logic

Thời gian

Chiếm lĩnh nhanh hơn

Lâu dài hơn, bền bỉ hơn

Hình thức chủ Lớp/ bài
yếu

Nhóm/ Nội dung giáo dục

Hệ thống bài lên lớp (theo thời Các sinh hoạt tập thể, hoạt
khóa biểu), xemina, thực hành, động xã hội, tham quan, lao
thí nghiệm…

động cơng ích, các sinh hoạt
thường nhật…

Khơng gian

Phịng học là chủ yếu


Ngồi lớp học thơng thường,
trong nhà máy, trong cuộc
sống xã hội

Phương thức

Truyền đạt, phân tích, giảng Trải nghiệm, biểu diễn, chiêm
giải…

nghiệm…

Hình thức: chủ yếu cá nhân

Hình thức: chủ yếu hoạt động
tập thể

Mục đích trải Chủ yếu để củng cố kiến thức Chủ yếu để tích lũy kinh
nghiệm

khoa học (tích hợp), lí luận nghiệm quan hệ, hoạt động,
thông qua việc giải quyết ứng xử, giải quyết vấn đề…
để thích ứng với sự đa dạng

nhiệm vụ của thực tiễn

của cuộc sống luôn vận động

17



Kiểm tra đánh Chủ yếu đánh giá các kiến thức Nhấn mạnh đến kinh nghiệm,
khoa học đã được vận dụng thái độ thực hiện, tính trải

giá

như thế nào vào thực tiễn
Thường xử dụng đánh giá định
lượng

nghiệm, cảm xúc, giá trị,
niềm tin, thói quen…
- Thường sử dụng đánh giá
định tính

Quản lý

Người lãnh đạo quá trình dạy Người lãnh đạo là đại diện
học chủ yếu là giáo viên bộ của tập thể học sinh, đồn thể
mơn.

và gia đình, của giáo viên chủ

Quản lí theo chương trình mơn

nhiệm/ giáo dục viên…
Quản lí theo chương trình

học, thi cử.

hoạt động của tập thể


Rõ ràng qua phần tìm hiểu trên có thể thấy TNST có hiệu quả tích cực trong q
trình phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.
2.2 Tổ chức dạy học TNST trong trường trung học cơ sở (THCS)
Để tổ chức dạy TNST trong nhà trường tôi đã thực hiện các bước cụ thể như sau:
2.2.1. Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt của hoạt động TNST ở trường THCS
2.2.1.1. Xác định mục tiêu
+ Xác định mục tiêu giáo dục của chương trình giáo dục phổ thơng mới
Chương trình giáo dục phổ thông nhằm tạo ra những con người Việt Nam phát
triển hài hịa về thể chất và tinh thần, có những phẩm chất cao đẹp, có các năng lực chung
và phát huy tiềm năng của bản thân, làm cơ sở cho việc lựa chọn nghề nghiệp và học tập
suốt đời.
Chương trình giáo dục cấp THCS nhằm phát triển hài hịa về thể chất và tinh thần trên
cơ sở duy trì, tăng cường các phẩm chất và năng lực đã hình thành ở cấp tiểu học; hình
18


thành nhân cách cơng dân trên cơ sở hồn chỉnh học vấn phổ thông nền tảng, khả năng tự
học và phát huy tiềm năng sẵn có của cá nhân để tiếp tục học THPT, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động.
+ Xác định mục tiêu của hoạt động TNST
Hoạt động TNST nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng
lực tâm lí- xã hội…; giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm
năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và
cuộc sống hạnh phúc sau này.
Ở bậc THCS, hoạt động TNST nhằm hình thành lối sống tích cực, biết cách hồn
thiện bản thân, biết tổ chức cuộc sống cá nhân, biết làm việc có kế hoạch, tinh thần hợp
tác, có trách nhiệm, có ý thức cơng dân… và tích cực tham gia các hoạt động xã hội.
2.2.1.2. Xác định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực cho học sinh
a, Qua hoạt động TNST, tôi đã bồi đắp cho học sinh những phẩm chất như sau:

- Sống yêu thương: Thể hiện ở sự sẵn sang tham gia các hoạt động giữ gìn, bảo vệ đất
nước, phát huy truyền thống gia đình Việt Nam, các giá trị di sản văn hóa của q hương,
đất nước; tơn trọng các nền văn hóa trên Thế Giới, yêu thương con người, biết khoan
dung và thể hiện tình yêu thiên nhiên, cuộc sống….
- Sống tự chủ: là sống với lòng tự trọng, trung thực, ln tự lực, vượt khó khăn và biết
hồn thiện bản thân.
- Sống trách nhiệm: quan tâm đến sự phát triển hồn thiện bản thân, tham gia hoạt động
cộng đồng, đóng góp cho việc giữ gìn và phát triển của cộng đồng, đất nước, nhân loại và
môi trường tự nhiên. Luôn biết tuân thủ, chấp hành kỉ cương, quy định, hiến pháp và
pháp luật và sống theo giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội.
b, Qua hoạt động TNST, tôi đã phát triển cho học sinh có đượccác năng lực chung như
sau:
- Năng lực tự học: là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ
động; tự đặt được mục tiêu để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; lập và thực hiện kế
hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; Thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều
19


chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua
tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp
khó khăn trong học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: là khả năng nhận diện vấn đề, thiết lập không
gian vấn đề, xác định được các phương pháp khác nhau từ đó lựa chon và đánh giá được
cách giải quyết vấn đề làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh cần thiết.
- Năng lực thẩm mĩ: là năng lực nhận diện và cảm thụ cái đẹp, biết thể hiện được cái đẹp
trong hành vi, trong lời nói, trong sản phẩm… và biết sáng tạo ra cái đẹp.
- Năng lực thể chất: là khả năng sống thích ứng và hài hịa với mơi trường; biết rèn luyện
sức khỏe thể lực và nâng cao sức khỏe tinh thần.
- Năng lực giao tiếp: là khả năng lựa chọn nội dung, cách thức, thái độ giao tiếp để đạt
được mục đích giao tiếp và mang lại sự thỏa mãn cho các bên tham gia giao tiếp.

- Năng lực hợp tác: Là khả năng cùng làm việc giữa hai hay nhiều người để giải quyết
những vấn đề nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên.
- Năng lực tính tốn: là khả năng sử dụng các phép tính và đo lường, cơng cụ toán học để
giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống.
- Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): là khả năng sử dụng thiết bị kĩ
thuật số, máy tính, phần mềm để tìm kiếm thơng tin phục vụ tích cực và hiệu quả cho học
tập và cuộc sống; là khả năng sàng lọc và tham gia truyền thơng trên mơi trường mạng
một cách có văn hóa.
c, Bên cạnh các năng lực chung, tơi phát triển cho học sinh về năng lực chuyên biệt:
Tôi nhận thấy bên cạnh những phẩm chất và năng lực chung, hoạt động TNST
hướng tới mục tiêu là một số năng lực chuyên biệt sau:
- Năng lực tham gia và tổ chức hoạt động: Thể hiện ở sự tích cực tham gia hoặc thiết kế,
tổ chức các hoạt động, đặc biệt các hoạt động xã hội; biết đóng góp vào thành cơng
chung; thể hiện tính tuân thủ với quyết định của tập thể cũng như sự cam kết; trách nhiệm
với công việc được giao, biết quản lý thời gian và công việc cũng như hợp tác hoặc tập
hợp, khích lệ… các cá nhân tham gia giải quyết vấn đề và sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ mọi
người.
20


- Năng lực tự quản lí và tổ chức cuộc sống cá nhân: là khả năng tự phục vụ và sắp xếp
cuộc sống cá nhân; biết thực hiện vai trò của bản thân trong gia đình (theo giới); biết chia
sẻ cơng việc; biết lập kế hoạch chi tiêu hợp lí và phát triển kinh tế gia đình; biết tạo bầu
khơng khí tích cực trong gia đình.
- Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân: là khả năng nhận thức về giá trị của
bản thân; là sự nhận thức về điểm mạnh cũng như điểm yếu trong năng lực và tính cách
của bản thân, tìm được động lực để tích cực hóa q trình hồn thiện và phát triển nhân
cách; là sự xác định đúng vị trí xã hội của bản thân trong các mối quan hệ và ngữ cảnh
giao tiếp hay hoạt động để ứng xử phù hợp; luôn thể hiện người sống lạc quan với suy
nghĩ tích cực.

- Năng lực định hướng nghề nghiệp: là khả năng đánh giá được yêu cầu của thế giới nghề
nghiệp và nhu cầu của xã hội, đánh giá được năng lực và phẩm chất của bản thân trong
mối tương quan với yêu cầu của nghề; biết phát triển các phẩm chất và năng lực cần có
cho nghề hoặc lĩnh vực mà bản thân định hướng lựa chọn; biết tìm kiếm các nguồn hỗ trợ
để học tập và phát triển bản thân; có khả năng di chuyển nghề.
- Năng lực khám phá và sáng tạo: Thể hiện tính tị mị, ham hiểu biết, ln quan sát thế
giới xung quanh mình, thiết lập mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; thể hiện
ở khả năng tư duy linh hoạt, mềm dẻo tìm ra được phương pháp độc đáo và tạo ra sản
phẩm độc đáo.
2.2.3 Áp dụng các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường
THCS
a. Trước tiên tơi áp dụng hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trong chương trình
hiện hành
Có thể nêu một số hình thức tổ chức cơ bản sau:
- Giáo dục thông qua các sinh hoạt tập thể lớp, trường và các sinh hoạt theo chủ đề:
Sinh hoạt tập thể tồn trường gồm: chào cờ đầu tuần, mít tinh trong các ngày lễ, các
ngày kỉ niệm …, các hội thi, hội thao …, căm trại, các cuộc thi giao lưu tập thể, các
phong trào thi đua toàn trường vv… Sinh hoạt tập thể lớp: sinh hoạt lớp theo chủ đề
21


(theo chương trình của nhà trường và lớp), sinh hoạt lớp hàng tuần, các hoạt động
chung của tập thể lớp (thăm quan, thi đua học tập giữa các tổ học sinh...).
- Giáo dục thơng qua các hoạt động đồn thể và hoạt động chính trị - xã hội: Các hoạt
động Đồn, Đội (theo Chương trình hoạt động của Đồn TNCS): đại hội Đoàn các
cấp, các phong trào của Đoàn, Đội ..., các hoạt động tập thể có tính chính trị - xã hội:
Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”, hiến máu nhân đạo, tìm hiểu về Đảng, Đồn, Đội ...
- Giáo dục thơng qua các hoạt động văn hóa – thể thao và vui chơi: Các hội thao, hội thi
(Hội khỏe Phù Đổng), các cuộc thi văn hóa – văn nghệ của thanh, thiếu niên, của học
sinh (thi “Học sinh thanh lịch”, “Tiếng hát học sinh – sinh viên” ...).

- Giáo dục thông qua giáo dục lại và tự giáo dục, tự giáo dục, tự tu dưỡng (ghi nhật kí,
nhóm bạn cùng tiến, thi đua vở sạch chữ đẹp, phong trào Thanh niên làm theo lời Bác,
thanh niên rèn luyện Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ ...)
b, Bên cạnh các hình thức tổ chức TNST hiện hành, tơi đã áp dụng các hình thức hoạt
động TNST theo định hướng chương trình giáo dục phổ thơng mới có tính khám phá, đưa
lại hiệu quả cao như sau:
1. Thực địa, thực tế
2. Tham quan
3. Cắm trại
4. Trò chơi
Các câu lạc bộ
5. Diễn đàn
6. Giao lưu
7. Hội thảo/ xemina
8. Sân khấu hóa
9. Thực hành lao động việc nhà, việc trường
10. Các hoạt động xã hội/ tình nguyện
c, Tơi đã nghiên cứu và tìm cách tổ chức một số hình thức hoạt động trải nghiệm
sáng tạo, cụ thể như:
Hình thức Câu lạc bộ:
22


- CLB văn hóa nghệ thuật: âm nhạc (thanh nhạc, nhạc cụ, nhạc kịch, ...) diễn kịch, thơ,
múa rối, phóng viên, mỹ thuật, khiêu vũ, sáng tác, điêu khắc, thư pháp, nhảy sạp, dân
vũ, múa khèn, dẫn chương trình, photovoice và video voice...
- CLB thể dục thể thao: bóng đá, bóng rổ, thể dục nhịp điệu, điền kinh, bơi lội, cầu
lơng, cắm trại, bơi thuyền, ...
- CLB học thuật: Tốn học, Tin học, Tiếng Anh, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu xã
hội, phiên dịch, biên dịch, ...

- CLB võ thuật: Taekwondo, Karatedo, Pencak silat, đấu vật ...
- CLB hoạt động thực tế: nữ công gia chánh (nấu ăn, thêu thùa, may vá, tỉa hoa, nghệ
thuật cắm hoa, ...) chăn nuôi, trồng trọt, tạo cảnh; thiết kế, làm mộc, chế tạo rơ bốt, ...
- CLB trị chơi dân gian: cờ người, đánh đu, kéo co, ném còn, đánh cầu/ đá cầu, ô ăn
quan, tập tầm vông, thả đỉa ba ba, đánh chuyền, đánh khăng, đánh quay, đánh đáo ...
Hình thức tổ chức trị chơi:
Tơi nhận thấy một số trị chơi có thể tổ chức trong nhà trường phổ thơng là:
- Trị chơi học tập: Là loại trò chơi được sử dụng để củng cố, mở rộng, kiểm tra kiến
thức học trên lớp.
- Trò chơi vận động: Là loại trò chơi để rèn luyện, củng cổ các tố chất cơ thể,
- Trò chơi khởi động là loại trò chơi dùng để tạo bầu khơng khí sơi động, vui vẻ, tạo
tâm trạng vui vẻ, tạo tâm thế cho học sinh trước khi bắt đầu hoạt động học tập, sinh
hoạt tập thể hoặc bắt đầu tổ chức.
- Trị chơi mơ phỏng:
Với các trị chơi mơ phỏng game tuyền hình nội dung rất phong phú, đa dạng,
vừa có thể thực hiện việc củng cố, khám phá kiến thức của tất cả các môn học vừa có
thể triển khai các nội dung giáo dục như giáo dục Quyền trẻ em, giáo dục Sức khỏe
sinh sản và phòng tránh HIV, giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội hay giáo dục bảo vệ
môi trường, giáo dục ứng phó với biển đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai,...
Hình thức tổ chức diễn đàn
Diễn đàn có thể được tổ chức ở quy mô khối lớp, cấp trường, cấp quận/ huyện, cấp
tỉnh hoặc cấp khu vực hay cao hơn nữa. Chủ đề của diễn đàn có thể xây dựng dựa trên
23


nội dung các hoạt động giáo dục, những nhu cầu và mong muốn của các em về nhà
trường, thầy cô, bố mẹ; hoặc căn cứ vào các vấn đề thực tiễn của các lớp như mối quan
hệ giữa các bạn HS trong lớp hoặc cách ứng xử của thầy, cô giáo với HS, ...
Để phát huy khả năng sáng tạo và tăng cường tính độc lập của HS, trong hầu hết
quá trình của diễn đàn, HS là người chủ trì, từ khâu chuẩn bị, xây dựng chủ đề của diễn

đàn đến khâu dẫn dắt, điều hành diễn đàn và đánh giá kết quả diễn đàn dưới sự hướng
dẫn của người lớn.
Hình thức Sân khấu tương tác:
Sân khấu tương tác bao gồm sự sáng tạo, tăng khả năng hoạt động tập thể cũng như
tính phản ứng với tập thể. Sân khấu tương tác tạo ra những trò chơi và những bài tập
khác nhau nhằm tăng cường sự nhận thức của bản thân và tính tự chủ. Điều này có thể
khởi đầu bằng kinh ngiệm của cả tập thể.
Sân khấu tương tác có thể diễn ra trong phạm vi hẹp (trong lớp học) hoặc rộng hơn
(phạm vi tồn trường).
Hình thức tham quan, dã ngoại
Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là:
-

Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa.

-

Tham quan các cơng trình cơng cộng, nhà máy, xí nghiệp

-

Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề,

-

Tham quan các Viện bảo tàng,

-

Tham quan du lịch truyền thống,


-

Dã ngoại theo các chủ đề học tập,

-

Dã ngoại theo các hoạt động nhân đạo,

-

...
Hình thức Hội thi/cuộc thi
Hội thi có khả năng thu hút sự tham gia của tất cả HS trong nhà trường, từ cá nhân

đến nhóm hay tập thể với các quy mô tổ chức khác nhau như quy mơ lớp, quy mơ khối
lớp hoặc quy mơ tồn trường. Hội thi cũng có thể huy động sự tham gia của các thành
24


viên trong cộng đồng như các nghệ nhân, những người làm cơng tác xã hội hay các tổ
chức đồn thể như Đoàn thanh niên phường/ xã, hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh hay
cán bộ, nhân viên các cơ quan như y tế, công an, bộ đội, ...
Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ
chức dưới hình thức hội thi/ cuộc thi. Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh
hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn.
Khi tổ chức hội thi/ cuộc thi nên kết hợp với các hình thức tổ chức khác (như văn nghệ,
trị chơi, vẽ tranh, ...) để hội thi/ cuộc thi phong phú, đa dạng, thu hút được nhiều HS
tham gia hơn.
Hình thức hoạt động giao lưu

Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho
HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thơng tin với những nhân vật điển hình trong
các lĩnh vực hoạt động nào đó. Qua đó, giúp cho các em có được những nhận thức, tình
cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học
tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách.
d, Trước những hình thức trên, tơi đã thiết kế và tổ chức triển khai hoạt động trải
nghiệm sáng tạonhư sau:
Bước 1: Tôi xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Công việc này
bao gồm một số việc:
Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo
sát nhu cầu, điều kiện tiến hành.
Tôi xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham
gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các
biện pháp phịng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh.
Bước 2: Tôi đặt tên cho hoạt động
Tôi chú ý các yêu cầu khi đặt tên cho hoạt động:
-

Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn,

-

Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.

-

Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh.
25



Bước 4: Tôi xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý
những nội dung và hình thức của hoạt động.
Trước hết, tôi căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn
cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung
phù hợp cho các hoạt động. Tôi liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện.
Từ nội dung, tôi xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện
cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng.
Bước 5: Tôi lập kế hoạch
Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì nó vẫn chỉ là những ước muốn và hy
vọng, mặc dù có tính tốn, nghiên cứu kỹ lưỡng. Muốn biến các mục tiêu thành hiện
thực thì tơi lập kế hoạch một cách cụ thể.
Trong bước này, tơi xác định:
-

Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện?

-

Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao?

-

Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào?

-

Các cơng việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân

-


Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc

Để các lực lượng tham gia có thể phối hợp tốt, tôi đã thiết kế kế hoạch trên các cột như
sau:
TT

1

Nội

Thời

Lực

Người

Phương

Địa

u cầu

Ghi

dung,

gian,

lượng


chịu

tiện

điểm,

cần

đạt

chú

tiến

thời

tham

trách

thực

hình

(hoặc sản

trình

hạn


gia

nhiệm

hiện,

thức

phẩm)

chính

chi phí

Nội

t

Học

Tên

Tên

Tên, địa - Kiến

dung

phút


sinh

giáo

phương

chỉ

lớp,

viên

tiện

điểm,

- Thái độ

khối

giảng

hình

- Kỹ năng

1

26


địa

thức


thức tổ - Năng

dạy

lực

chức
TNST
2

Nội

t

Học

Tên

Tên

Tên, địa - Kiến

dung


phút

sinh

giáo

phương

chỉ

lớp,

viên

tiện

điểm,

khối

giảng

hình

dạy

thức tổ

2


3











địa

thức
- Thái độ
- Kỹ năng

chức

- Năng

TNST

lực






Bước 7: Tôi kiểm tra, điều chỉnh và hồn thiện chương trình hoạt động
-

Tơi rà sốt, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho

từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được,
-

Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào

hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh.
Cuối cùng, tơi hồn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương
trình đó bằng văn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động.
Bước 8: Tôi lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh.
Trên đây là các bước hình thành hoạt động TNST cho học sinh mà tơi đã thực hiện.
2.3. Di sản và việc gắn liền di sản với phát triển năng lực và phẩm chất học sinh.
2.3.1. Di sản xung quanh chúng ta
a. Khái niệm
Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản
phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác.
27


b. Phân loại
Có hai loại:
- Di sản văn hố vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hố, khoa học, bao
gồm Di tích lịch sử- văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
- Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật
thể và khơng gian văn hố liên quan, có giá trị lịch sử, văn hố, khoa học, thể hiện bản

sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.
Theo căn cứ phân loại trên thì Đền Trần của tỉnh Nam Định được xếp vào Di sản
văn hố vật thể, Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được xếp vào di sản văn
hóa phi vật thể.
Việt Nam có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là di sản
thế giới (trong đó có 9 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, 2 di sản văn
hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp).
1. Nhã nhạc cung đình Huế
Nhã nhạc là âm nhạc cung đình thời phong kiến, được trình diễn trong các dịp triều
hội, tế lễ hoặc các sự kiện trọng đại (lễ đăng quang của nhà vua, tiếp đón sứ thần…).
Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO cơng nhận là Kiệt tác Di sản
truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Theo đánh giá của UNESCO, trong các thể loại
nhạc cổ truyền ở Việt Nam, nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia. Nhã nhạc đã được phát
triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam. Đến thời nhà Nguyễn, nhã nhạc cung đình Huế phát triển
rực rỡ và đạt đến trình độ hồn chỉnh nhất.
2. Khơng gian văn hóa cồng chiêng Tây Ngun
Khơng gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Ngun trải rộng trên địa bàn năm tỉnh: Kon
Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng.

28


×