TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Bộ môn Kinh tế và Kinh doanh thương mại
ĐỀ ÁN
Ngành: Kinh doanh thương mại
Họ và tên sinh viên: Vũ Thu Ngân
Lớp: Quản trị kinh doanh thương mại 60A
GVHD: Th.S Trần Đức Hạnh
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Bộ môn Kinh tế và Kinh doanh thương mại
ĐỀ ÁN
Ngành: Kinh doanh thương mại
ĐỀ TÀI: CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
Họ và tên sinh viên: Vũ Thu Ngân
Lớp: Quản trị kinh doanh thương mại 60A
GVHD: Th.S Trần Đức Hạnh
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
2
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG SẢN VÀ CHUỖI
CUNG ỨNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
3
DANH MỤC HÌNH
Tên hình
Nội dung
Số trang
Hình 1.1
Hình ảnh về chuỗi cung ứng
5
Hình 1.2
Chuỗi cung ứng nơng sản Việt Nam
6
Hình 2.1
Kim ngạch xuất khẩu – nhập khẩu của EU
13
Hình 2.2
Cơ cấu sản phẩm nơng sản xuất khẩu EU năm 2019
14
Hình 2.3
Cơ cấu nhập khẩu sản phẩm nơng sản EU năm 2019
14
Hình 2.4
Chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang EU
16
Hình 2.5
Biến động kim ngạch xuất khẩu NLTS chính Việt Nam
sang EU 9 tháng 2020/19
18
Hình 3.1
Dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế đến năm 2030
22
Hình 3.2
Dự báo tốc độ tăng trưởng dân số đến năm 2030
23
Hình 3.3
Dự báo sản lượng tiêu thụ các sản phẩm nguồn gốc từ
nông sản có thể canh tác tại EU
25
Hình 3.4
Dự đốn sản lượng tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa
EU
25
Hình 3.5
Dự đoán sản lượng tiêu thụ các sản phẩm từ thịt tại EU
26
Hình 3.6
Dự báo sản lượng tiêu thụ các loại cây chuyên dụng tại
EU
27
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
2
Bộ NN&PTNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3
KHCN
Khoa học công nghệ
4
MRLs
Tiêu chuẩn về dư lượng kháng sinh
5
EVFTA
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
6
EU
Liên minh châu Âu
7
FiBL
Viện nghiên cứu Nông nghiệp Châu Âu
5
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu nơng sản,
đó là diện tích đất đai rộng lớn, phì nhiêu, khí hậu thuận lợi, dân số trẻ, người lao
động cần cù, thông minh. Những năm qua, ngành nơng nghiệp đã đóng vai trò
quan trọng trong việc cung cấp lương thực, giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn và là trụ đỡ để phát triển nền kinh tế.
Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng,
đặc biệt là xu thế hợp tác thương mại không chỉ dừng lại trong khu vực mà còn
mở rộng trên toàn thế giới, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam với các
đối tác cũng đang tăng lên nhanh chóng. Với định hướng trở thành quốc gia xuất
khẩu, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Trong số các mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam, nơng sản ln góp mặt trong top 5 các mặt hàng có
kim ngạch xuất khẩu lớn nhất. Một trong những thị trường chiến lược của nông
sản Việt Nam là Liên minh châu Âu (EU) với kim ngạch nhập khẩu nông sản
đứng thứ ba chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu nông
sản sang EU chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, song mới
chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong giá trị nhập khẩu nông sản của EU. So với tiềm
năng sản xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam, tỷ lệ thị phần nhỏ như vậy
chưa thể hiện đúng vị thế của Việt Nam và chưa cân xứng với quan hệ thương
mại truyền thống giữa hai bên đặc biệt là sau khi Hiệp định Thương mại tự do
Việt Nam – EU đã chính thức có hiệu lực.
Để có thể giải quyết bài tốn đưa nơng sản Việt Nam từng bước tiếp cận thị
trường EU khó tính nói riêng cũng như thị trường tồn cầu nói chung, việc tổ
chức và phối hợp hoạt động của các chuỗi cung ứng nông sản từ khâu sản xuất
đến tiêu thụ là điều vô cùng quan trọng. Với đề tài “Chuỗi cung ứng nông sản
Việt Nam sang thị trường EU”, bài nghiên cứu này cung cấp cho người đọc cái
nhìn tổng quan về chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam sang EU đồng thời đề xuất
những giải pháp khắc phục hạn chế để hoàn thiện tổ chức của các chuỗi cung ứng
góp phần đưa thương hiệu nông sản Việt vươn tầm quốc tế.
6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG SẢN VÀ
CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về ngành nông sản Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về nông sản và vai trị của xuất khẩu nơng sản
1.1.1.1. Khái niệm về nông sản
Quan điểm của tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Theo WTO, sản phẩm nông sản là một trong hai loại hàng hóa mà tổ chức
này định danh (hàng hóa nơng sản và hàng hóa phi nơng sản). Khái niệm nông
sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động
nơng nghiệp như: Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản (lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ,
sữa, động vật sống, cà phê, chè rau quả tươi,…); Các sản phẩm được chế biến từ
sản phẩm nông nghiệp (bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, nước ngọt, rượu, bia); Các
sản phẩm phái sinh (bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt,…).
Quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
Sản phẩm nông sản là tập hợp của nhiều nhóm sản phẩm khác nhau bao
gồm: Nhóm sản phẩm nhiệt đới (chè, cacao, cà phê, tiêu….); Nhóm sản phẩm
ngũ cốc (mỳ, lúa gạo, kê, ngơ, sắn,…); Nhóm sản phẩm thịt và các sản phẩm từ
thịt (thịt bò, thịt lợn, thị gia cầm,…); Nhóm sản phẩm dầu mỡ và các sản phẩm từ
dầu (các loại hạt có dầu như đậu tương, hướng dương,… và các loại dầu thực
vật); Nhóm sản phẩm từ sữa và các sản phẩm từ sữa (bơ, pho mát và các sản
phẩm làm từ sữa); Nhóm sản phẩm nông sản nguyên liệu (bông, đay, sợi, cao su
thiên nhiên…) và Nhóm sản phẩm rau quả.
Quan điểm của Liên minh châu Âu
EU đã thông qua đưa ra một danh sách các sản phẩm được coi là sản phẩm
nông sản bao gồm: động vật sống; thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được; sản phẩm
từ sữa; các sản phẩm có nguồn gốc động vật; cây sống và các loại câu trồng
khác; rau, thân củ và quả; cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vị; ngũ cốc; các sản
phẩm xay xát; hạt và quả có dầu; gơm, nhựa cây và các chất nhựa; mỡ, dầu động
vật hoặc thực vật; đường và các loại kẹo đường; các chế phẩm từ ngũ cốc, bột,
tinh bột; các chế phẩm từ rau, hoa quả và thực vật; các phụ gia có thể ăn được
hỗn tạp; đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và các sản phẩm tương tự.
Qua phân tích những quan điểm trên có thể đưa ra khái niệm: “Nơng sản
là sản phẩm của q trình sản xuất nơng nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán
thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật
nuôi (không bao gồm sản phẩm của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp)”.
1.1.1.2. Vai trị của xuất khẩu nơng sản
Xuất khẩu nông sản thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 cùng
với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế là con đường tất yếu để phù hợp với xu hướng phát triển
7
chung. Xuất khẩu nơng sản phát triển góp phần mở rộng quy mô sản xuất, tạo
điều kiện để nhiều ngành nghề mới ra đời, tăng tốc độ phát triển của các ngành
kinh tế khác từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ví dụ, xuất khẩu trái cây
sẽ kéo theo sự phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ khác như sản xuất bao bì,
phân bón, vận chuyển. Xuất khẩu nông sản tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn phục vụ
nhu cầu nhập khẩu thiết bị và cơng nghệ tiên tiến, góp phần thúc đẩy năng lực
sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Xuất khẩu nông sản tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động
Do thiếu lợi thế về mặt công nghệ - kĩ thuật, đất nước ta buộc phải đi tắt
đón đầu để tiếp cận kịp thời và chính xác với những thành tựu khoa học – công
nghệ nhằm ứng dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Để làm chủ được công
nghệ, người lao động buộc phải nâng cao trình độ lý thuyết và thực hành. Như
vậy, đẩy mạnh xuất khẩu sẽ có tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động cả
về tính chất ngành nghề và cả về chất lượng lao động đồng thời góp phần tạo
thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập của người lao động, tạo điều kiện để họ
cải thiện đời sống.
Xuất khẩu nông sản thúc đẩy quá trình phân cơng và chun mơn hóa
quốc tế
Trên thực tế, mỗi quốc gia sản xuất nông sản không chỉ phục vụ nhu cầu
tiêu dùng trong nước mà còn đáp ứng nhu cầu thiếu hụt của thị trường thế giới
thông qua xuất khẩu. Vì vậy, mỗi nước phải cân nhắc lựa chọn sản xuất những
loại hàng hóa mà mình có lợi thế cạnh tranh để cung cấp cho thị trường thế giới
và nhập khẩu ngược lại những sản phẩm mà hoạt động sản xuất khơng có hiệu
quả, q trình này diễn ra liên tục sẽ thúc đẩy phân công và chuyên mơn hóa
quốc tế, tạo nên sợi dây gắn kết bền chặt giữa nền kinh tế của mỗi quốc gia và
nền kinh tế tồn cầu.
Xuất khẩu nơng sản góp phần hồn thiện hành lang pháp lý và cơ chế
quản lý cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế
Khi tham gia vào thương mại quốc tế, mỗi quốc gia đang tiến gần tới một
sân chơi khắc nghiệt, bình đẳng trong đó cạnh tranh gay gắt là khơng thể tránh
khỏi. Để hòa nhập với luật chơi chung trên thị trường toàn cầu, mỗi quốc gia cần
phải tạo ra một hành lang pháp lý thơng thống đồng thời tự hồn thiện cơ chế
quản lý cho phù hợp với luật pháp và thơng lệ quốc tế.
1.1.2. Tình hình sản xuất và xuất khẩu nơng sản Việt Nam
Tình hình xuất khẩu chung
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, đến hết tháng 9/2019, nơng sản Việt
Nam đã có mặt tại hơn 160 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có các
sản phẩm xuất khẩu trên 1 tỉ USD, như: cà phê, gạo, rau quả, với tổng giá trị là
đạt 16,915 tỷ USD, giảm 4,92% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng giảm 0,876
tỷ USD.
8
Năm 2020, thương mại nơng sản thế giới có nhiều diễn biến phức tạp dưới
tác động của cuộc chiến tranh Thương mại Mỹ -Trung và sự hoành hành của đại
dịch Covid-19. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ
NN&PTNT), trong tháng 11/2020, kim ngạch xuất khẩu nông sản ước đạt gần
3,72 tỷ USD tiêu biểu phải kể đến: cà phê, gạo, hạt điều, rau quả, tôm, gỗ và sản
phẩm từ gỗ,... là những mặt hàng nông sản của Việt Nam đạt giá trị kim ngạch
trên 2 tỷ USD trong năm 2020. Đáng chú ý, trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến
phức tạp, một số mặt hàng nông sản vẫn đạt giá trị xuất khẩu cao hơn so với cùng
kỳ, như: gạo, rau, sắn, tôm, gỗ và sản phẩm gỗ, quế, mây tre.
Tổng quan về các mặt hàng xuất khẩu nông sản
Trong tháng 11/2020, Việt Nam vẫn duy trì được giá trị xuất khẩu nơng sản
chính tương đương tháng 10. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản
ước đạt 37,42 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2019. Một số mặt hàng
xuất khẩu nơng sản tiêu biểu đều có những con số tăng trưởng ấn tượng. Cụ thể
là, giá trị xuất khẩu gạo đạt trên 2,8 tỷ USD (tăng 10,4%); rau đạt 621 triệu USD
(tăng 7,7%); sắn và sản phẩm sắn đạt 874 triệu USD (tăng 2,3%), xuất khẩu tôm
thu về gần 3,4 tỷ USD (tăng 9,7%); quế đạt 222 triệu USD (tăng 37,2%); gỗ và
sản phẩm gỗ đạt khoảng 10,9 tỷ USD (tăng 14,1%); mây, tre, cói thảm đạt 545
triệu USD (tăng 26,1%).
Theo thống kê hiện có 8 nhóm, mặt hàng nơng sản xuất khẩu trên 1 tỷ
USD; trong đó có 07 nhóm, mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 02 tỷ USD (cà phê
2,5 tỷ USD, gạo 2,8 tỷ USD, hạt điều đạt 2,9 tỷ USD, rau quả đạt 3,0 tỷ USD,
tôm 3,4 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,4 tỷ USD).
Tổng quan về các thị trường xuất khẩu
Trong những năm gần đây, các thị trường xuất khẩu quan trọng của nông
sản Việt Nam vẫn là Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ, ASEAN. Bên cạnh đó là các thị
trường xuất khẩu tiềm năng như Nhật Bản hay Hàn Quốc luôn chiếm tỷ trọng lớn
trong cán cân xuất nhập khẩu nông sản Việt Nam.
Thị trường Hoa Kỳ: Xuất khẩu nông sản sang Hoa Kỳ năm 2020 đạt hơn
9,8 tỷ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm ngoái và trở thành thị trường
xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam với 26,2% thị phần.
• Thị trường Trung Quốc: Xuất khẩu nông sản năm 2020 sang Trung Quốc
đạt gần 9,2 tỷ USD, giảm 6,6% so với năm 2019 và chiếm 24,6% thị phần
với một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn đều ghi nhận sụt giảm
như gạo, rau quả, cà phê; Rau quả từ năm 2018, đã trở thành mặt hàng
nông sản xuất khẩu lớn nhất sang Trung Quốc nhưng đã có dấu hiệu
chững lại sau một thời gian tăng trưởng nóng.
• Thị trường EU: EU là thị trường xuất khẩu nông sản lớn thứ ba của Việt
Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 3,44 tỷ USD, giảm 0,3% so
với năm 2019 và chiếm 9,2% thị phần. Xuất khẩu ghi nhận sụt giảm ở mặt
hàng hạt tiêu, hạt điều, thủy sản, chè, cà phê và cao su.
• Thị trường ASEAN: Xuất khẩu nơng sản sang ASEAN năm 2020 đạt 3,43
tỷ USD, tăng 2,8% tương ứng với 9,18% thị phần
•
9
1.2. Chuỗi cung ứng trong hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam
1.2.1. Khái niệm chuỗi cung ứng
Khái niệm “Chuỗi cung ứng” bắt đầu xuất hiện vào đầu nhứng năm 1980 và
trở nên phổ biến trong những năm 1990. Có rất nhiều khái niệm về chuỗi cung
ứng: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết các tổ chức nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ
vào thị trường” (Lambert và các cộng sự, 1998). Dưới góc độ là một q trình,
Pienaar (2009b) định nghĩa chuỗi cung ứng là “một mô tả chung về q trình tích
hợp liên quan đến tổ chức chuyển nguyên liệu thô thành thành phẩm và vận
chuyển đến người tiêu dùng cuối cùng”. Đứng trên góc độ cấu tạo, Chopra và
Meindl (2001) cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các thành viên tham gia,
một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong vệc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Như vậy, chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất hay nhà cung
cấp, mà cịn có sự tham gia của công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách
hàng cuối cùng. Một số khái niệm về chuỗi cung ứng là:
•
Chuỗi cung ứng là một nhóm gồm các tổ chức kết nối trực tiếp bằng một
hay nhiều dịng chảy xi hoặc ngược của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và
thơng tin từ một nhà cung ứng đến khách hàng.
•
Chuỗi cung ứng là mạng lưới được kết nối của các cá nhân, tổ chức,
nguồn lực, hoạt động và công nghệ liên quan đến việc sản xuất và bán sản
phẩm hoặc dịch vụ. Chuỗi cung ứng bắt đầu với việc phân phối nguyên
liệu thô từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất và kết thúc bằng việc cung cấp
thành phẩm hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
•
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các công ty tham gia vào quá trình thiết
kế, sản xuất, lắp ráp và chuyển đưa sản phẩm đến khách hàng.
Hình 1.1 Hình ảnh về chuỗi cung ứng
(Nguồn: VILAS- Vietnam Logistics and Avitation School)
Một chuỗi cung ứng điển hình ln bao gồm 3 dịng vận động liên tục:
10
Dịng thơng tin: dịng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi q
trình dịch chuyển của hàng hố và chứng từ giữa người gửi và người nhận
• Dịng sản phẩm (vật chất): con đường dịch chuyển của hàng hoá và dịch
vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đúng đủ về số lượng và chất
lượng
• Dịng tài chính: chỉ dịng tiền bạc và chứng từ thanh toán giữa các khách
hàng và nhà cung cấp, thể hiện hiệu quả kinh doanh.
•
1.2.2. Chuỗi cung ứng nơng sản Việt Nam xuất khẩu
Chuỗi cung ứng nông sản được hiểu là mạng lưới sử dụng để chuyển sản
phẩm dịch vụ từ nguyên liệu thô đến khách hàng cuối cùng thông qua việc cấu
trúc dịng thơng tin, phân phối và tài chính. Ở mức độ đơn giản, một chuỗi cung
ứng nông sản được xem xét và phân tích từ khâu sản xuất của bà con nông dân,
các hợp tác xã nông nghiệp, khâu thu mua của thương lái, các nhà bán buôn,
khâu sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp xuất khẩu, khâu bán lẻ đến người
tiêu dùng cuối cùng
Hình 1.2. Chuỗi cung ứng nơng sản Việt Nam
(Nguồn: Mơ hình liên kết sản xuất nông nghiệp của nông dân Việt Nam hiện nay)
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 700 chuỗi cung ứng nơng sản trên toàn quốc
(Bộ NN&PTNN). Tuy nhiên, do hoạt động của các chuỗi cung ứng còn kém hiệu
quả, các mắt xích liên kết trong chuỗi cịn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng giải cứu
nơng sản và tăng giá hàng hóa nông sản trong khi thu nhập của người sản xuất
vẫn cịn gặp nhiều khó khăn.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng nông sản VN xuất khẩu
1.3.1. Các nguồn lực tự nhiên và xã hội
1.3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Việt Nam là một quốc gia ven biển có nhiều thuận lợi về địa hình, khí hậu,
động thực vật đồng thời cũng là quốc gia phải hứng chịu nhiều tác động của biến
đổi khí hậu đặc biệt là bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa đơng bắc, gây khơng ít
11
khó khăn cho sản xuất nơng nghiệp. Cụ thể, biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực
đến nguồn cung nước ngọt, chất lượng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, làm gia
tăng dịch bệnh, giảm sút năng suất, chất lượng nông sản. Chuỗi cung ứng nông
sản bao gồm rất nhiều khâu từ đầu vào sản xuất đến đầu ra tiêu thụ. Do vậy, nếu
khâu sản xuất nông sản ngay từ đầu không đảm bảo về mặt số lượng và chất
lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của chuỗi cung ứng về sau.
1.3.1.2. Đặc điểm về lực lượng lao động trong chuỗi cung ứng nông sản
Về đặc điểm các hộ nông dân: Phần lớn các sản phẩm nông nghiệp Việt
Nam chủ yếu do nông dân tiến hành sản xuất được đặc trưng bởi tính cá thể, tự
phát nên quy mô nhỏ lẻ, phân tán, chất lượng thấp, sản lượng không cao. Phần
lớn nông dân là những người chưa qua đào tạo nên họ thiếu kiến thức kĩ thuật,
gây nhiều khó khăn trong chuyển giao khoa học kỹ thuật mới. Do thiếu ý thức và
hám lợi trước mắt, nhiều hộ nơng dân sử dụng tràn lan phân bón hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật dẫn đến không bảo đảm an tồn vệ sinh thực phẩm, ảnh hưởng
xấu đến uy tín nông sản Việt.
Về đặc điểm các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nơng sản: Nhìn
chung, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nơng sản cịn
rất ít, 90% doanh nghiệp có quy mơ vừa và nhỏ. Những ngun nhân dẫn đến
tình trạng này có thể kể đến như: Rủi ro về thời tiết, thiên tai trong sản xuất nông
nghiệp; Nhiều loại nông sản như cây ăn quả, cây lâu năm cần đầu tư dài hạn, thời
gian thu hồi vốn lâu; Giá cả trên thị trường nông sản thường thấp và biến động.
1.3.2. Các chính sách kinh tế của Nhà nước trong việc thúc đẩy và phát triển
hoạt động của chuỗi cung ứng.
1.3.2.1. Chính sách quản lý và ổn định kinh tế vĩ mơ
Chính sách thuế quan và phi thuế quan: Bất kỳ một hàng hóa nơng sản
nào khi vượt qua biên giới quốc gia đều chịu tác động của những rào cản thương
mại quốc tế tiêu biểu phải kể đến thuế xuất khẩu và các rào cản vơ hình như tiêu
chuẩn chất lượng nơng sản, hạn ngạch, cấm nhập khẩu. Các rào cản thương mại
ngày càng khắt khe sẽ gây ra những ảnh hưởng đáng kể làm giảm kim ngạch xuất
khẩu nông sản của một quốc gia. Hậu quả gián tiếp là làm gián đoạn chuỗi cung
ứng từ khâu sản xuất đến những khâu phân phối, tiêu dùng. Ngược lại, khi các
rào cản thương mại được gỡ bỏ sẽ thúc đẩy hoạt động của chuỗi cung ứng nơng
sản đến thị trường khu vực và thế giới.
Chính sách tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái được định nghĩa là mức giá cả
của đồng tiền này so với đồng tiền khác. Bằng cách áp dụng linh hoạt, so sánh và
dự báo tỷ giá hối đoái trong một giai đoạn cụ thể, các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nơng sản sẽ tính tốn được thời điểm thích hợp để
xuất khẩu nơng sản nhằm thu về lợi nhuận tối đa.
1.3.2.2. Việc ký kết và thực hiện các cam kết thương mại
Các cam kết thương mại được kí kết tạo điều kiện tối đa đưa nơng sản Việt
tiến xa hơn trên thị trường quốc tế. Với xu hướng tồn cầu hóa nền kinh tế như
hiện nay, ngày càng nhiều các hiệp định thương mại song phương và đa phương
được thực hiện với mục tiêu giảm thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá và
12
thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển. Như vậy, với một quốc gia nếu có
được những mối quan hệ kinh tế quốc tế bền vững sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho
việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu từ đó góp phần mở rộng thị trường đầu ra
của nơng sản hướng tới thúc đẩy chuỗi cung ứng nông sản phát triển.
1.3.3. Mức độ liên kết của các mắt xích trong chuỗi cung ứng
Hiện nay, hai mơ hình liên kết phổ biến trong chuỗi cung ứng là liên kết
ngang và liên kết dọc. Liên kết dọc thể hiện sự liên kết giữa các mắt xích trong
chuỗi cung ứng từ khâu sản xuất, nuôi trồng của nông dân đến khâu phân phối
tiêu dùng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nông
sản. Liên kết ngang là sự liên kết của từng mắt xích với các đối tượng tương tự
như liên kết giữa các nông hộ và trang trại nhằm tạo ra các vùng chuyên canh để
thực hiện việc sản xuất với quy mô lớn.
Một chuỗi cung ứng được cấu tạo bởi các liên kết bền chặt sẽ mang lại
những tác động tích cực. Thơng qua quy trình hoạt động của chuỗi, hộ nơng dân
có đầu ra ổn định, giảm chi phí trong việc vận chuyển, xếp dỡ và tìm kiếm thị
trường nơng sản đầu ra. Mặt khác, doanh nghiệp chế biến nơng sản có nguồn
ngun liệu sản xuất ổn định, chủ động trong kế hoạch sản xuất. Do chuỗi cung
ứng đã thực hiện chun mơn hóa nhiệm vụ trong từng khâu riêng lẻ, chính vì
vậy, mỗi mắt xích nếu thực hiện tốt vai trị của mình sẽ góp phần thúc đẩy hoạt
động của chuỗi từ đó giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, đẩy nhanh
tốc độ lưu chuyển nông sản, nâng cao khả năng cạnh tranh.
1.3.4. Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ (KHCN) ngày càng tiên tiến một mặt nâng cao năng
suất lao động, giảm chi phí và giá thành sản xuất. Mặt khác, các mắt xích quan
trọng trong chuỗi cung ứng đều đẩy nhanh được tiến trình sản xuất, gia tăng giá
trị của chuỗi cung ứng. KHCN có vai trị quan trọng trong việc nâng cao khả
năng cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường quốc tế, qua đó trực tiếp tác động
đến hoạt động của chuỗi cung ứng.
Các công nghệ tiêu biểu như: Công nghệ đánh mã vạch đối với hàng hóa
góp phần kiểm sốt chặt chẽ nguồn gốc xuất xứ, chất lượng của sản phẩm đồng
thời rút ngắn thời gian vận chuyển. KHCN đã góp phần nghiên cứu tạo nên
những giống cây trồng, vật nuôi mới hay việc phát minh ra công nghệ sản xuất,
chế biến mới đã tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng cao và ổn định.
1.3.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động của chuỗi cung ứng
Muốn đẩy mạnh chuỗi cung ứng nông sản thì yếu tố cơ bản cần có là một
hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển.
Hệ thống giao thông (đặc biệt là hệ thống cảng biển): mức độ trang bị
hiện đại, hệ thống xếp dỡ, kho hàng… sẽ quyết định trực tiếp đến tốc độ
lưu chuyển hàng hóa cũng như mức độ an toàn trong hoạt động xuất nhập
khẩu nơng sản.
• Hệ thống ngân hàng: đóng vai trị quan trọng trong khâu thanh toán, huy
động vốn của những đối tượng tham gia vào hoạt động của chuỗi cung
ứng. Trên thực tế, chỉ có một số phương thức thanh tốn đặc thù của ngân
•
13
hàng ( L/C đối ứng, L/C giáp lưng…) mới có đủ khả năng để đảm bảo sự
an toàn và thành cơng trong những giao dịch thanh tốn quốc tế.
• Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hóa: cho phép các hoạt
động xuất nhập khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn, đồng thời
giảm bớt được mức độ thiệt hại khi có rủi ro xảy ra…
• Hệ thống thông tin: việc nắm bắt kịp thời xu hướng phát triển nông sản,
tâm lý khách hàng và thị trường mục tiêu cung như sự am hiểu về các
chính sách áp dụng đối với mặt hàng nông sản là tiền đề quan trọng để các
mắt xích trong chuỗi cung ứng kịp thời điều chỉnh hoạt động sản xuất
đồng thời định hướng xuất khẩu trong tương lai.
Như vậy, cơ sở hạ tầng tốt sẽ là bàn đạp thúc đẩy sự phát triển của chuỗi
cung ứng hàng hóa nói chung và nơng sản nói riêng diễn ra thuận lợi và sn sẻ
hơn.
14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG
SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG EU
2.1. Đặc điểm hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường EU
2.1.1. Đặc điểm sản phẩm nông sản Việt Nam sang thị trường EU
Sản phẩm nơng sản mang tính thời vụ
Nơng sản là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng,
vật ni, chính vì vậy tính mùa vụ là yếu tố đặc trưng của nông sản Việt Nam.
Nơng sản được sản xuất theo chu kì, mùa nào thức ấy nên trong mỗi một thời
điểm nhất định trong năm, cơ cấu mặt hàng nơng sản đều có sự thay đổi nhất
định. Do đó, các mặt hàng nơng sản xuất khẩu sang EU ln chịu sự chi phối của
tính thời vụ. Tuy nhiên, nhờ những tiến bộ trong KHCN đã phần nào khắc phục
được những hạn chế này.
Sản phẩm nông sản chịu sự tác động mạnh mẽ từ điều kiện tự nhiên
Nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp nên chịu ảnh hưởng sâu sắc
từ yếu tố tự nhiên đặc biệt là đất đai, khí hậu và thời tiết. Chỉ một sự thay đổi nhỏ
về điều kiện tự nhiên cũng làm thay đổi quá trình sinh trưởng và phát triển của
cây trồng, vật nuôi. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, nơng sản sẽ phát triển bình
thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt. Ngược lại, nếu điều kiện tự
nhiên khơng thuận lợi như nắng nóng hoặc giá rét kéo dài sẽ ảnh hưởng tới cả
năng suất và chất lượng nơng sản.
Sản phẩm nơng sản có tính đa dạng
Do nơng sản được sản xuất từ các địa phương khác nhau với các nhân tố về
địa lý, tự nhiên khác nhau, kết hợp với phương thức sản xuất và các giống nông
sản khác nhau cho nên cơ cấu nơng sản Việt Nam được đặc trưng bởi tính đa
dạng
Sản phẩm nơng sản khó bảo quản
Hầu hết các mặt hàng nông sản đều được sản xuất trực tiếp và là hàng tươi
sống nên nông sản rất dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, giảm giá trị dinh dưỡng…trong
quá trình bảo quản. Chính vì vậy, chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trường
không bảo đảm về độ ẩm, nhiệt độ, nông sản sẽ bị hư hỏng, giảm chất lượng
Sản phẩm nơng sản chịu sự kiểm sốt chặt chẽ của các cơ quan chức
năng
Để xuất khẩu sang EU, nông sản Việt Nam cần phải vượt qua nhiều khâu
kiểm duyệt nghiêm ngặt. Thị trường EU luôn đặt ra yêu cầu khắt khe về an toàn
thực phẩm, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu sản phẩm…áp dụng với tất cả các mặt hàng
nông sản giao dịch trên thị trường.
•
Ủy ban châu Âu đã ban hành quyết định tăng cường kiểm tra dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật đối với hàng thực phẩm nhập vào EU từ nước thứ ba
trong đó có trái thanh long Việt Nam xuất khẩu (10%) và rau thơm các
loại, hạt tiêu (50%).
15
Quy định về xuất xứ sản phẩm: các sản phẩm được giao dịch trên thị
trường phải đảm bảo các quy định bảo hộ tên gọi xuất xứ gồm thực phẩm
được sản xuất, chế biến và làm trong một khu vực địa lý nhất định sử
dụng bí quyết được cơng nhận
• Quy định về chỉ dẫn địa lý (PGI) gồm thực phẩm mà liên kết địa lý phải
xảy ra trong ít nhất một trong các khâu sản xuất, chế biến hoặc chuẩn bị;
và đặc sản truyền thông được đảm bảo dù không đề cập đến nguồn gốc
nhưng làm nổi bật đặc điểm truyền thống trong cấu thành sản phẩm hoặc
phương tiện sản xuất.
• Quy định về ghi nhãn thực phẩm ln được cập nhật và thay đổi nhưng
nhìn chung các nhãn sản phẩm phải đáp ứng các quy định sau các thông
tin thiết yếu phải cung cấp cho khách hàng sản phẩm như thành phần, nhà
sản xuất, phương pháp bảo quản, cách chế biến đồng thời các chất dị ứng
phải được ghi rõ trên nhãn
•
Ngồi những cam kết chung thì đối với từng nhóm hàng, nơng sản khác
nhau sẽ có quy định và cam kết khác nhau. Ví dụ, với sản phẩm gạo, điều bóc vỏ,
hồ tiêu, cà phê, thủy sản chế biến, tôm..., EU yêu cầu giá trị nguyên vật liệu đầu
vào không vượt quá 70% giá xuất xưởng và bắt nhà cung cấp chứng minh công
đoạn sản xuất được thực hiện ở Việt Nam. Với rau quả, EU yêu cầu các sản phẩm
phải tuân thủ chặt chẽ theo các quy định về MRLs và ngăn ngừa tình trạng nhiễm
vi khuẩn là điều kiện tiên quyết khi muốn thâm nhập vào thị trường EU
2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị
trường EU
Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tập trung ở phạm vi hộ gia đình
Các sản phẩm nơng nghiệp của Việt Nam chủ yếu do nơng dân tiến hành
sản xuất nên có đặc trưng là tính tự phát, cá thể dẫn đến quy mô nhỏ lẻ, phân tán,
giá thành cao, chất lượng thấp, gây khó khăn trong chuyển giao KHCN, làm
giảm khả năng cạnh tranh so với các đối thủ. Việc sử dụng phân bón hóa học,
thuốc bảo vệ thực vật quá liều lượng là nguyên nhân chính gây mất đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, ảnh hưởng đến thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị
trường trong nước và quốc tế.
Hoạt động sản xuất và xuất khẩu thiếu sự đồng bộ
Do thiếu kĩ năng quản lý và KHCN cần thiết, các chuỗi cung ứng xuất khẩu
nông sản Việt Nam sang thị trường EU tuy có tồn tại nhưng số lượng khơng
nhiều, việc quản lý đồng bộ các mắt xích trong chuỗi cịn gặp nhiều khó khăn đặc
biệt là liên kết giữa người nông dân (khâu sản xuất) và doanh nghiệp (khâu chế
biến và tiêu thụ) còn lỏng lẻo dẫn đến không ăn khớp trong chuỗi, làm giảm hiệu
quả hoạt động của chuỗi cung ứng nông sản
Hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường EU diễn ra
tương đối ổn định nhưng chỉ tập trung vào một số khu vực trọng điểm
EU là thị trường “khó tính” bậc nhất trên thế giới, sản phẩm nông sản nhập
khẩu vào EU địi hỏi phải trải qua quy trình kiểm duyệt nghiêm ngặt, khắt khe.
Chính vì vậy, nơng sản Việt Nam mới bước đầu tiếp cận được thị trường EU
16
trong những năm gần đây thông qua các quốc gia chính trong khối như Đức,
Anh, Hà Lan, Pháp, Ý, Bỉ, Áo. Trên thực tế, còn rất nhiều thị trường ngách trong
khối EU mà doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vẫn có khả năng tiếp cận bao gồm
Thụy Điển, Latvia, Slovenia, Cypus, Malta nhưng chưa được chú trọng.
Xuất khẩu sang thị trường EU gặp nhiều rào cản
Dù đã kí kết thành công hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU
(EVFTA) nhưng con đường nông sản Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU còn
gặp phải rất nhiều thách thức. Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam gặp khó khăn
do quy mô doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa lại hạn chế về trình độ làm giảm
hiệu quả sản xuất – kinh doanh – xuất khẩu. Các rào cản doanh nghiệp gặp phải
là:
Rào cản thuế quan: bao gồm thuế nhập khẩu, thuế quan bảo hộ, thuế tiêu
thụ, thuế giá trị gia tăng và thuế chống bán phá giá. Thực tế, rào cản thuế
quan hầu như được rỡ bỏ khi hiệp định Thương mại tự do EVFTA chính
thức có hiệu lực nên các sản phẩm nông sản của Việt Nam không gặp q
nhiều khó khăn để vượt qua.
• Rào cản phi thuế quan: Đây chính là rào cản vơ hình tác động mạnh mẽ
nhất đến hoạt động xuất nhập khẩu nông sản của doanh nghiệp Việt Nam
sang thị trường EU. Những rào cản này tập trung đến chất lượng và số
lượng hàng hóa, nơng sản xuất khẩu sang EU. Đối với một loại nơng sản
bất kỳ, EU có thể áp dụng những rào cản phi thuế quan như: Biện pháp tự
vệ thương mại, hạn ngạch thuế quan, hạn chế và cấm nhập khẩu, trợ cấp,
chống trợ cấp và hàng rào kỹ thuật.
•
2.1.3. Đặc điểm thị trường và khách hàng EU của nông sản Việt Nam
2.1.3.1. Đặc điểm thị trường EU
Dung lượng thị trường
EU bao gồm 28 nước thành viên, là một trong những đối tác thương mại
quan trọng nhất trên thế giới, với quy mô thị trường 18.000 tỷ USD (chiếm 22%
tổng GDP toàn cầu), dân số 516 triệu người, thu nhập bình quân đầu người lên
tới 40.890 USD/người/năm, tổng kim ngạch thương mại sản phẩm năm xấp xỉ
4.000 tỷ USD…Với quy mô, dung lượng thị trường lớn, EU trở thành khu vực có
nhu cầu nhập khẩu nhiều nơng sản từ khắp các nước trên thế giới. Cơ cấu hàng
nông sản vào thị trường EU được phân chia theo 3 loại: (1) Các sản phẩm rau
quả bao gồm: cây, thực vật, rau, trái cây, cà phê, ngũ cốc, hạt và dầu; (2) Các
nhóm sản phẩm thực phẩm (các loại sản phẩm chế biến có nguồn gốc từ rau và
các sản phẩm động vật như đường, đồ uống, thuốc lá và thức ăn gia sức đã chuẩn
bị); (3) Các sản phẩm động vật (động vật sống, thịt, cá, động vật giáp xác, sản
phẩm sữa, trứng, mật ong)
Phân tích cơ cấu xuất nhập khẩu nông sản của EU cho thấy, trong những
năm qua, EU ln duy trì tốc độ tăng trưởng thương mại sản phẩm nông sản cao.
Năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 255 tỷ euro (xuất khẩu chiếm 138 tỷ,
nhập khẩu là 117 tỷ Euro), điều đó đã đưa EU vượt xa Mỹ, Nhật Bản, Trung
Quốc để trở thành khu vực xuất nhập khẩu sản phẩm nông sản hàng đầu thế giới.
17
Các đối tác thương mại nông sản quan trọng của EU
Mặc dù EU đã và đang tích cực thực thi các chính sách mở cửa với các
quốc gia và khu vực nhưng tỷ trọng nhập khẩu nông sản từ các nước đang phát
triển chỉ chiếm rất nhỏ so với các đối tác thương mại truyền thống của EU. Trong
năm 2019, giá trị thương mại nông sản của EU đạt mức 270,5 tỷ euro, với trị giá
xuất khẩu của EU là 151,2 tỷ euro, tương ứng với giá trị xuất khẩu tăng 10% so
với năm 2018.
Xuất khẩu: Năm 2019, các đối tác chiến lược xuất khẩu của EU (đơn vị tỷ
euro) lần lượt là Mỹ (24,3), Trung Quốc (15,3), Thụy Sĩ (8,5), Nhật Bản
(7,6) và Nga (7.2). Các quốc gia này chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất
khẩu nông sản của EU. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong
năm 2019 (tỷ euro và % thay đổi so với năm 2018) đã đạt được trong xuất
khẩu sang Trung Quốc (+4,2; + 40%), Mỹ (+2,07; + 9%), Nhật Bản
(+1,01, + 15%), Nga (+0,57, + 9%), Ai Cập (0,48;+ 32%) và Thổ Nhĩ Kỳ
(+0,44, + 14%).
• Nhập khẩu: Mỹ, Brazil, Ukraina, Trung Quốc, Argentina là những đối tác
nhập khẩu lớn nhất của EU, chiếm hơn 35% kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm nông sản của EU. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu nông sản của EU đạt
ngưỡng 11,8 tỷ euro tại thị trường Mỹ, và 11,6 tỷ euro tại Brazil, lần lượt
đạt mức 7,4; 6,1; 5,0 tỷ euro tại Ukraina, Trung Quốc, Argentina. Ngoài
ra, mức nhập khẩu cao cũng tiếp tục bắt nguồn từ Thụy Sĩ (4,7 tỷ euro),
Thổ Nhĩ Kỳ (4,7 tỷ euro) và Indonesia (4,1 tỷ euro)
•
Hình 2.1. Kim ngạch xuất khẩu – nhập khẩu của EU
(Nguồn: EUROSTAT, Comext)
Các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất nhập khẩu nông sản của EU
18
Hình 2.2.
Cơ cấu
xuất khẩu nơng sản của EU năm 2019
(Nguồn: European Commission, 2019)
Các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nông sản của EU là
rượu và vermouth (9% tương 12.207 triệu euro), rượu mạnh 8% tương ứng
11.338 triệu euro; thực phẩm 4% tương ứng 6.089 triệu euro.
Hình 2.3. Cơ cấu nhập khẩu sản phẩm nơng sản EU năm 2019
(Nguồn: European Commission, 2019)
Các sản phẩm nông sản xuất khẩu sang EU khá phong phú, được sản xuất
với quy trình đảm bảo chất lượng nhằm tạo nên những sản phẩm ưu việt, có sức
cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Một số sản phẩm nông sản dẫn đầu trong danh
sách phải kể đến hoa quả nhiệt đới, các loại hạt (chiếm 13% ), nhóm sản phẩm
thực phẩm, chế biến, đồ uống chiếm 6%... EU chủ yếu nhập khẩu các sản phẩm
nơng sản mà điều kiện khí hậu và tự nhiên không phù hợp để EU tự sản xuất ra
19
những sản phẩm đó, tiêu biểu là các sản phẩm nhiệt đới như trái cây, cà phê, rau
quả hay các sản phẩm sấy khơ. Ngồi ra, cịn có các sản phẩm phục vụ cho nhu
cầu chế biến như dầu cọ, các sản phẩm phục vụ nhu cầu thức ăn chăn nuôi …
Cơ cấu xuất nhập khẩu các mặt hàng nông sản của EU trong những năm
gần đây không thay đổi nhiều cả về chủng loại sản phẩm và đối tác cung cấp.
Tuy nhiên, người dân EU ngày càng quan tâm các sản phẩm hữu cơ và tốt cho
sức khỏe. Đây là cơ hội của các nước trên thế giới muốn xuất khẩu nông sản vào
thị trường EU.
2.1.3.2. Đặc điểm khách hàng EU của nông sản Việt Nam
Tập quán, thị hiếu tiêu dùng là nhân tố tác động mạnh mẽ đến khả năng
xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam sang EU, bởi vì nơng sản muốn được tiêu thụ
cần phải đáp ứng những tiêu chí đặt ra từ phía thị trường cầu. EU là thị trường
xuất khẩu tiềm năng với đặc trưng là sự đa dạng trong thị hiếu và tập quán tiêu
dùng. Tuy nhiên, thị hiếu tiêu dùng của người dân EU nhìn chung vẫn có những
điểm tương đồng nhất định
Cơ cấu thị trường khách hàng EU bao gồm: (1) Nhóm có khả năng thanh
tốn ở mức cao (chiếm khoảng 20% dân số); (2) Nhóm có khả năng thanh tốn ở
mức trung bình, chiếm 68% dân số với đặc điểm hàng hóa sử dụng có chất lượng
ổn định, vừa phải đi kèm với giá thành rẻ hơn so với nhóm (1); (3) Nhóm có khả
năng thanh tốn ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số EU. Với quan điểm tiêu
dùng nhãn hiệu luôn đi kèm với chất lượng, người dân EU có thói quen lựa chọn
các nơng sản có thương hiệu nổi tiếng. Họ lo ngại khi sử dụng những sản phẩm
có nhãn hiệu bình dân vì nguy cơ nơng sản khơng đảm bảo chất lượng, vệ sinh an
tồn thực phẩm. Xu hướng tiêu dùng nông sản tại EU hiện nay:
Xu hướng tiêu dùng các sản phẩm tự nhiên: Người tiêu dùng ngày càng
chú trọng đến chất lượng nông sản qua các biểu tượng nhãn mác sản
phẩm. Theo đó, biểu tượng “Free of all” tức là sản phẩm không đường,
không chất bảo quản, không chất phụ gia dần xuất hiện ở hầu hết các mặt
hàng nông phẩm trên thị trường EU.
• Xu hướng tiêu dùng các sản phẩm hữu cơ: Theo số liệu thống kê từ Viện
Nghiên cứu nông nghiệp (FiBL), EU là thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu
cơ lớn thứ 2 trên tồn thế giới trong đó các quốc gia Đức, Anh, Pháp,
Italia là 4 thị trường tiêu thụ lớn nhất trong khu vực. Doanh số tiêu thụ các
sản phẩm hữu cơ tại thị trường EU năm 2014 đạt 23,9 nghìn tỷ euro đồng
thời mức tiêu thụ bình quân đầu người cho các sản phẩm hữu cơ là 47,4
euro/người.
• u cầu cao hơn về an tồn thực phẩm, bảo vệ môi trường: Uỷ ban châu
Âu liên tục cập nhật và thay đổi danh mục các quy định về an toàn thực
phẩm, truy xuất nguồn gốc, hệ thống cảnh bảo sớm an tồn thực phẩm để
đảm bảo nơng sản lưu thông trên thị trường EU không chỉ đảm bảo về mặt
chất lượng mà cịn thân thiện với mơi trường.
•
20
2.2. Phân tích chuỗi cung ứng nơng sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường
EU
Hình 2.4. Chuỗi cung ứng nơng sản Việt Nam xuất khẩu sang EU
(Nguồn: Tạp chí Thơng tin và Truyền thông)
2.2.1. Khâu sản xuất
Hiện nay, nước ta có 5 khu vực sản xuất nơng nghiệp chủ yếu bao gồm Bắc
Trung Bộ, Tây Bắc, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long,
chiếm 34,1% sản lượng nông sản cả nước. Hoạt động của khâu sản xuất nông sản
được cải thiện bằng việc tăng số lượng doanh nghiệp và hợp tác xã đồng thời
giảm số lượng hộ gia đình trong khâu sản xuất.
Thực tế, nơng sản được sản xuất chủ yếu trên quy mô nhỏ lẻ, tập trung ở
các hộ gia đình với đặc điểm nguồn nhân lực chưa được đào tạo bài bản. Điều
này xuất phát từ chi phí sản xuất lớn, để thành lâp và phát triển một trang trại
ni quy mơ trung bình ứng dụng cơng nghệ cao cần chi phí cao gấp 4 – 5 lần so
với trang trại ni truyền thống, cịn đầu tư 1 héc ta nhà kính có đầy đủ hệ thống
tưới nước, phun sương, bón phân tự động hóa theo cơng nghệ của Israel cần ít
nhất từ 10 tỷ đồng. Với số tiền lớn như vậy, những doanh nghiệp nhỏ, người khởi
nghiệp không đủ sức để đầu tư, trong khi đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư lớn
lựa chọn đầu tư vào các lĩnh vực khác thu hồi vốn nhanh và ít rủi ro hơn.
2.2.2. Khâu thu hoạch
Hoạt động thu hoạch nông sản vẫn chủ yếu được tiến hành theo phương
pháp thủ công, thiết bị và công nghệ bảo quản cịn thơ sơ, lạc hậu, chi phí vận
chuyển lớn làm giảm hiệu quả thu hoạch nông sản. Do thiếu kĩ năng và kinh
nghiệm nên tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch lớn làm hạn chế khả năng xuất khẩu, đặc
biệt là đối với mặt hàng rau quả. Ngoài ra, việc sử dụng tràn lan các chất bảo
21
quản gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng và làm giảm uy tín
thương hiệu nơng sản Việt.
2.2.3. Khâu thu mua
Đây là mắt xích yếu nhất trong chuỗi cung ứng nông sản, thể hiện sự thiếu
liên kết trong khâu sản xuất (người nông dân) và khâu tiêu thụ nông sản (doanh
nghiêp). Trên thực tế, số lượng doanh nghiệp cịn hạn chế, quy mơ đa phần là
nhỏ, tư duy hợp tác của các doanh nghiệp chưa cao dẫn đến khả năng liên kết
giữa các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam cịn yếu và số lượng mơ hình chuỗi
cung ứng nông sản không nhiều. Trong khâu thu mua, vấn đề hợp đồng mua bán
liên kết thiếu chặt chẽ gây nên hiện tượng vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, Việt Nam
cịn hạn chế khi phát triển nơng nghiệp chưa đi đôi với phát triển công nghiệp và
các lĩnh vực hỗ trợ.
2.2.4. Khâu chế biến
Nhờ những tiến bộ trong KHCN, công nghiệp chế biến nơng sản của Việt
Nam đã có những bước tiến quan trọng với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng xấp
xỉ 5 – 7%/năm. Tại nhiều địa phương đã hình thành và phát triển hệ thống cơng
nghiệp chế biến nơng sản có cơng suất thiết kế chế biến khoảng 120 triệu tấn
ngun liệu nơng sản/năm, có trên 7.500 doanh nghiệp quy mô công nghiệp gắn
với xuất khẩu. Có 30 dự án lớn về chế biến nơng sản với số vốn đầu tư khoảng 1
tỷ USD đã tiến hành xây dựng trong năm 2018 – 2019, và một số cơ sở đã hoàn
thành đi vào sản xuất. Nhờ đó, giá trị nơng sản xuất khẩu duy trì sự tăng trưởng
khá, xuất siêu ngày càng tăng
Tuy nước ta đã có một số doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực chế biến,
nhưng sự phát triển của ngành chế biến nông sản cịn bộc lộ nhiều hạn chế. Ví
dụ, các mặt hàng rau quả, thịt, khối lượng đưa vào chế biến chỉ chiếm 5 – 10%
sản lượng hằng năm; mặt hàng mía đường, lúa gạo, rau quả, cà phê … khơng đủ
công suất chế biến vào mùa thu hoạch nên gây ra tổn thất lớn. Các cơ sở chế biến
nông sản phân bố không đồng đều, phần lớn tập trung phát triển tại Đông Nam
Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sơng Hồng và các tỉnh dun hải cịn
các tỉnh miền núi do khó khăn về nhiều mặt nên chưa được đầu tư xây dựng .
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, nước ta có trên 150 cơ sở chế biến nông
sản quy mô công nghiệp với tổng công suất thiết kế trên 1.000.000 tấn sản
phẩm/năm. Những địa phương sở hữu số lượng doanh nghiệp chế biến lớn như
Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Lâm Đồng và Tp. Hồ Chí Minh. Ngồi ra
cịn có hàng nghìn cơ sở chế biến quy mơ nhỏ, hộ gia đình đang tiếp tục hoạt
động. Số cơ sở chế biến nơng sản có quy mơ nhỏ và vừa, hộ gia đình chiếm
khoảng 95%. Hệ số đổi mới thiết bị chỉ ở mức 7%/năm, bằng ½ đến 1/3 của các
nước khác. Một số cơ sở chế biến của một số ngành hàng có tuổi đời trên 15
năm, thiết bị cũ, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng,
năng suất thấp.
2.2.5. Khâu thương mại
Nông sản Việt xuất khẩu sang EU chủ yếu theo con đường chính ngạch của
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong và ngồi nước, ngồi ra cịn có hoạt động
22
xuất khẩu theo đường tiểu ngạch nhưng không phổ biến. Doanh nghiệp thực hiện
chức năng xuất khẩu nông sản sang EU có thể bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Với hình thức xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn do rủi ro
về kinh tế, văn hóa và vốn, chỉ phù hợp với công ty xuất nhập khẩu quy mơ lớn.
Với hình thức xuất khẩu gián tiếp qua các trung gian thương mại và môi giới, các
doanh nghiệp có quy mơ vừa và nhỏ hồn tồn có thể thực hiện được bởi xuất
khẩu gián tiếp hạn chế được tối đa rủi ro và mang lại lợi nhuận ổn định.
2.2.6. Khâu tiêu dùng
Các doanh nghiệp Việt Nam đang thực hiện khá tốt khâu xúc tiến tiêu dùng
cả ở thị trường trong nước và quốc tế. Tại thị trường EU, lượng nông sản Việt
Nam xuất khẩu trong giai đoạn gần đây có xu hướng tăng. Dưới diễn biến phức
tạp của dịch bệnh Covid -19, kim ngạch xuất nhập khẩu nơng sản của Việt Nam
sang EU có giảm nhưng khơng đáng kể. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu nông sản
đạt mức 3035 triệu USD (9 tháng đầu năm 2019) và giảm xuống còn 2882 triệu
USD trong 9 tháng đầu năm 2020.
2.3. Đánh giá hoạt động chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang
thị trường EU
2.3.1. Những kết quả đạt được
Hiện nay, Việt Nam có hơn 10 sản phẩm nơng sản xuất khẩu chủ lực, trong
đó có các sản phẩm xuất khẩu trên 1 tỷ USD như cà phê, điều, gạo, rau quả, hồ
tiêu… Nông sản của Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới, bước đầu thâm nhập thành công vào thị trường EU khắt khe.
Hình 2.5. Biến động kim ngạch xuất khẩu NLTS chính Việt Nam sang EU 9
tháng 2020/19
(Nguồn: Báo cáo tình hình xuất nhập khẩu nơng lâm thủy sản)
Về xuất khẩu của Việt Nam sang EU: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của
Việt Nam sang EU là thủy sản, hạt điều, cà phê, gỗ và các sản phẩm gỗ. Dù
EVFTA chính thức có hiệu lực tháng 8/2020, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
23
sang EU vẫn chưa có nhiều bước tiến rõ rệt. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy
sản tháng 9 giảm 3,18% so với tháng trước, đạt tổng cộng 295 triệu USD. So với
tháng 8/2020, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng, như thịt và các sản
phẩm thịt tăng 63%, cao su tăng 34%, gạo tăng 27%, rau quả tăng 10%. Mặt
khác, nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm như chè giảm 27%, hạt tiêu
giảm 15%, hạt điều giảm 9%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ, sản phẩm từ cao su là
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao nhất với 81%, tiếp đến là mây tre đan
tăng 55% trong khi chè giảm nhiều nhất với 48%, gạo giảm 10%, các mặt hàng
khác giảm không đáng kể (chi tiết tại phụ lục đính kèm).
Theo dự báo cập nhật tháng 10/2020 của USDA, sản lượng gạo của EU
trong năm 2020 vẫn được dự báo là sẽ đạt xấp xỉ so với năm trước với khoảng
2,0 triệu tấn. Về nhập khẩu, lượng gạo nhập khẩu của EU kỳ vọng sẽ đạt 2,3 triệu
tấn, tăng 141 nghìn tấn so với năm ngoái.
Thị trường EU là thị trường xuất khẩu thứ 5 cho gỗ và sản phẩm gỗ của
Việt Nam (sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) và chiếm 4.0% tổng
kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm
2020. Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường EU trong
tháng 9 có xu hướng hồi phục so với tháng trước đó. Theo đánh giá của Tổ chức
gỗ nhiệt đới thế giới, thị trường EU về gỗ và sản phẩm gỗ có xu hướng phục hồi
từ tháng 7/2020. Tuy vậy, mức độ phục hồi và diễn biến mới của dịch bệnh trong
mùa đông vẫn mang đến những rủi ro trong thời gian tới. Mặt hàng được kỳ vọng
sẽ phục hồi nhanh chóng trong thời gian tới của là đồ gỗ trong ngành xây dựng
(gỗ dán, gỗ xây dựng), nhưng đây không phải là mặt hàng thế mạnh của Việt
Nam xuất khẩu sang EU. Do đó, dự báo kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ
của Việt Nam các tháng cuối năm sẽ ít có sự tăng trưởng đột biến.
2.3.2. Những hạn chế
2.3.2.1. Sự liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng cịn yếu
Hoạt động của chuỗi cung ứng nông sản Việt Nam kém hiệu quả xuất phát
từ mức độ liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi cịn lỏng lẻo (đặc biệt là giữa
khâu sản xuất với khâu chế biến, tiêu thụ). Theo số liệu thống kê, 70% nguyên
liệu nông sản được thu mua từ nơng dân, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là từ doanh nghiệp
tự đầu tư hoặc mua từ các trang trại của nhà nước. Mặt khác, vị trí của các vùng
nguyên liệu nông sản lại xa nhà máy chế biến làm tăng chi phí vận chuyển và
quan trọng hơn là nguyên liệu không đảm bảo các yêu cầu chất lượng nên không
thể chế biến xuất khẩu được.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do sự phân chia lợi ích không đồng
đều giữa các mắt xích, hợp đồng kinh tế giữa các bên chưa thật sự đầy đủ, chặt
chẽ, đảm bảo về mặt pháp lý. Ngoài ra, Nhà nước vẫn chưa dành sự quan tâm
đúng mức đến việc hoàn thiện và thúc đẩy hoạt động của chuỗi cung ứng nông
sản.
2.3.2.2. Quy mô chế biến nông sản chủ yếu vẫn nhỏ lẻ, lạc hậu, tự phát
Nông sản đặc biệt là các mặt hàng hoa quả và rau củ, đa phần là nhỏ lẻ,
phân tán, không theo quy hoạch nên việc quản lý và đầu tư phát triển hạ tầng khó
24
khăn. Thêm vào đó, số lượng doanh nghiệp chế biến nơng sản ở Việt Nam cịn rất
khiêm tốn với tốc độ phát triển chậm
Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng phần lớn các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực chế biến nông sản không hề mặn mà với ngành bởi nhiều bất
cập. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách rất cụ thể nhằm
thu hút, khuyến khích phát triển doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nơng nghiệp,
nơng thơn. Tuy nhiên, những chủ trương chính sách đến nay chậm đi vào cuộc
sống. Các khó khăn thường gặp đối với doanh nghiệp chế biến nông sản là thiếu
quỹ đất để xây dựng trụ sở, khu chế biến phục vụ cho các công đoạn sau thu
hoạch như lưu kho, bảo quản, chế biến… Ngoài ra, các doanh nghiệp cịn khó
tiếp cận với nguồn vốn tín dụng để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, chế biến
nông sản.
2.3.2.3. Nguồn nguyên liệu đầu vào không ổn định
Xuất phát từ đặc trưng của nơng sản là tính mùa vụ và chịu ảnh hưởng nặng
nề bởi điều kiện tự nhiên dẫn đến chất lượng nơng sản Việt Nam cịn thấp và
khơng ổn định. Người nông dân chưa được hướng dẫn chi tiết về các biện pháp
xử lý trong trồng trọt và chăn nuôi. Các khâu xử lý kỹ thuật trong thu hoạch diễn
ra chưa đồng loạt, sản phẩm không đồng đều, gây khó khăn cho việc chế biến.
Ngồi ra, một bộ phận nơng dân cịn sử dụng tràn lan các hóa chất độc hại là vấn
nạn chung trong ngành nông sản.
Lý do khách quan của hạn chế này là do tác động của tính mùa vụ và điều
kiện tự nhiên. Lý do chủ quan của hiện tượng này xuất phát từ trình độ kĩ thuật
của nơng dân trong khâu sản xuất còn gặp nhiều hạn chế, chưa biết cách áp dụng
khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tăng sản lượng và chất lượng nơng sản. Bên
cạnh đó, mối liên kết không bền chặt giữa các khâu trong chuỗi cung ứng đã làm
gián đoạn hoạt động của chuỗi.
2.3.2.4. Công nghệ ứng dụng trong chuỗi cung ứng nơng sản cịn kém hiệu quả
So sánh với các đối thủ, sức cạnh tranh của nông sản Việt kém, hàng nông
sản chủ yếu được xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thô theo đường tiểu ngạch với
giá trị thấp, mẫu mã đơn giản, tiềm ẩn nguy cơ về an tồn thực phẩm. Các hộ
nơng dân và doanh nghiệp vẫn cịn chưa biết cách ứng dụng cơng nghệ vào sản
xuất dẫn đến năng suất nông sản thấp, chất lượng thì khơng đảm bảo; đa số các
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong khâu xử lý sau thu hoạch do công nghệ
bảo quản, chế biến lạc hậu. Sản phẩm chế biến nông sản chủ yếu vẫn là sơ chế
nên giá trị gia tăng thấp (chiếm tới 70 - 80%), chủng loại chưa phong phú; các
nông sản xuất khẩu chủ yếu vẫn là xuất thô, sơ chế, tỷ lệ chế biến sâu chỉ đạt
khoảng 30%. Tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch lớn: hơn 25% đối với các loại quả; hơn
30% với các loại rau; 10% - 20% với các loại củ - đã làm hạn chế khả năng xuất
khẩu của nông sản Việt Nam.
Nguyên nhân khiến công nghệ ứng dụng trong chuỗi cung ứng nơng sản
cịn kém phát triển là do sự thiếu đầu tư một cách đồng bộ về cơng nghệ của các
doanh nghiệp. Cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa đủ hấp dẫn để thu hút
doanh nghiệp đầu tư vào cơ giới hóa nơng nghiệp và chế biến nông sản, nguồn
lực để triển khai các chính sách đã ban hành cịn hạn chế, nên hiệu quả thực hiện
25