Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Linguistic features of attitude in english economic opinion articles of covid 19 effects đặc điểm ngôn ngữ diễn đạt thái độ trong bài bình luận kinh tế tiếng anh về tác động của covid 19

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (955.89 KB, 27 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
-----🙞🙞🙞🙞🙞-----

BÁO CÁO
ĐỀ TÀI THAM GIA HỘI NGHỊ
SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐẶC ĐIỂM NGƠN NGỮ DIỄN ĐẠT THÁI ĐỘ TRONG BÀI BÌNH LUẬN KINH
TẾ TIẾNG ANH VỀ TÁC ĐỘNG CỦA COVID-19

LINGUISTIC FEATURES OF ATTITUDE IN ENGLISH ECONOMIC OPINION
ARTICLES OF COVID-19 EFFECTS

Thuộc lĩnh vực: Ngôn ngữ học.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Quỳnh Anh -
Ngơ Đình Hồng Vy -
Lớp, khoa: 19CNATMCLC03
Năm thứ: 2 / Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Ngôn ngữ Anh


1

MỤC LỤC
Thông tin sinh viên chịu trách nhiệm đề tài và giáo viên hướng dẫn

2

Danh mục bảng biểu


3

Danh mục hình ảnh

3

TÓM TẮT

4

ABSTRACT

4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

5

1. Lý do chọn đề tài

5

2. Mục tiêu của đề tài

6

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6


4. Câu hỏi nghiên cứu

7

5. Phương pháp nghiên cứu

7

6. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

7

PHẦN II. NỘI DUNG

9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

9

1. Cơ sở lý thuyết

9

1.1. Tổng quan về Khung đánh giá

9

1.2. Phạm trù Thái độ - Attitude


9

2. Các nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả nghiên cứu

12
13
13

1.1. Đặc điểm ngữ nghĩa về Tác động (Affect)

13

1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của Phán xét (Judgement)

14

1.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của Đánh giá (Appreciation)

16

2. Bàn luận

21

PHẦN III: KẾT LUẬN

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO

25

1


2

Thông tin sinh viên chịu trách nhiệm đề tài và giáo viên hướng dẫn

STT

Họ và tên

Đơn vị công tác và

Nhiệm vụ

lĩnh vực chuyên môn

1

Võ Nguyễn

Giảng viên – Khoa tiếng Anh Chuyên ngành;

Giáo viên

Thùy


Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHĐN

hướng dẫn
đề tài

Trang

2

Ngơ Đình

Sinh viên cử nhân ngành Ngơn ngữ Anh-

Thành viên

Hồng Vy

Chuyên Ngành Tiếng Anh Thương Mại-Khoa

nghiên cứu

Tiếng Anh Chuyên Ngành- Trường Đại học

đề tài

Ngoại Ngữ- Đại Học Đà Nẵng

3


Nguyễn Thị Sinh viên cử nhân ngành Ngôn ngữ Anh -

Thành viên

Quỳnh Anh Chuyên Ngành Tiếng Anh Thương Mại-Khoa

nghiên cứu

Tiếng Anh Chuyên Ngành- Trường Đại học

đề tài

Ngoại Ngữ- Đại Học Đà Nẵng

2


3

Danh mục từ viết tắt
(+)

Nghĩa tích cực

(-)

Nghĩa tiêu cực

DDCV


Đại dịch Covid

PPNCHH

Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp

VD

ví dụ

Danh mục bảng biểu
1. Bảng 1.2. Các phạm trù con của Phán xét ………………………………..13
2. Bảng 1.1. Phân tích hiển ngơn Đánh giá……………………………….....16
3. Bảng 1.2. Phân tích hiển ngơn Phán xét…………………………………..18
4. Bảng 1.3. Phân tích hiển ngôn Đánh giá ...……………………………….23
5. Biểu đồ 1.4. Tần suất sử dụng các phạm trù Thái độ trong bài báo………25
Danh mục hình ảnh
1.

Hình 1.1. Khung thẩm định …………...………………………………….13

3


4

TÓM TẮT
Bài báo cáo áp dụng khung lý thuyết mới-Lý thuyết Đánh giá được phát triển bởi
Martin và White (20050 vào việc phân tích các đặc điểm ngơn ngữ của Thái độ. Các tác giả
đã thực hiện trên 70 bài báo chính luận bình luận từ các nền tảng báo tiếng Anh trực tuyến

như The New York Times, WorldBank,.. Phương pháp tiếp cận hỗn hợp cũng được áp dụng
cho quá trình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cả ba phạm trù con của Thái
độ (Attitude) được sử dụng xuyên suốt các bài báo. Hiển ngôn Tác động (Affect), Phán xét
(Judgment) và Đánh giá (Appreciation) được thể hiện qua tính từ, phó từ, danh từ và các
cụm tính từ, cụm danh từ. Bên cạnh đó, giả thuyết ban đầu của chúng tôi nghiêng về việc
phạm trù Tác động (Affect) sẽ được trọng dụng hơn; tuy nhiên các tác giả có xu hướng sử
dụng Đánh giá (Appreciation) nhiều nhất trong các bài báo.
Từ khóa: Khung đánh giá; thái độ; bài báo tiếng Anh; phán xét, tác động, đánh giá,
COVID-19
ABSTRACT
This paper attempts to apply a new theoretical framework-Appraisal Theory to the
analysis of linguistic features of Attitude. The authors worked on 70 opinion articles from
online English newspaper platforms, such as The New York Times, WorldBank, etc. A
mixed-method approach was also applied to the process of research. The results of the study
show that all three subcategories of Attitude are used throughout the articles. Affect,
Judgment and Appreciation are expressed through adjectives, adverbs, nouns and adjective
phrases, noun phrases. Besides, our initial hypothesis is that the Affect category will be
more important; however, authors tend to use Appreciation the most in articles.
Key words: appraisal theory; attitude; English articles; judgment; affect,
appreciation; COVID-19

4


5

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đầu năm 2020, các chuyên gia từng lạc quan khi đưa ra dự báo về những mảng màu
tươi sáng trong bức tranh triển vọng kinh tế thế giới. Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi đại

dịch Covid -19 xuất hiện. Sức tàn phá ghê gớm của đợt dịch Covid -19 là một "địn chí
mạng" đối với nền kinh tế thế giới. Đại dịch trở thành "sát thủ vơ hình" đẩy nền kinh tế toàn
cầu vốn đang trong giai đoạn phục hồi mong manh rơi vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ
sau Thế chiến thứ hai. Chưa bao giờ mọi hoạt động kinh tế - xã hội từ công nghiệp, giao
thơng vận tải đến dịch vụ, giải trí lại kéo theo một lực lượng lao động ước tính hơn tỷ người
như hiện nay. Nền kinh tế thế giới bỗng chốc “bốc hơi” hàng nghìn tỷ USD, kéo theo nhiều
thành quả bao năm qua cũng tiêu tan. Covid-19 đã xuất hiện từ lâu và ảnh hưởng của nó
vẫn cịn đáng kể cho đến thời điểm hiện tại. Nó ảnh hưởng đến chúng ta từ nhiều khía cạnh,
bao gồm cả khía cạnh kinh tế, y tế, du lịch và xã hội. Sự tổn thất này là một đề tài nóng hơn
bao giờ hết đối với những cây viết chính luận.
Như đã đề cập ở trên, Covid-19 là một chủ đề có sức ảnh hưởng và được quan tâm
bởi các độc giả nói chung trên thế giới. Đồng thời, các độc giả học thuật cũng như những
giáo sư nghiên cứu cũng lấy đề tài này làm cơng trình nghiên cứu của riêng mình. Giới báo
chí vốn dĩ khơng thể qua những đề tài có tính tồn cầu như thế này, họ tận dụng sức nóng
của chủ đề Covid-19 với những người muốn có cái nhìn tổng quan về nó. Sự gia tăng số
lượng của những bài báo là việc có thể dự đốn được. Muốn có được sự chú ý của độc giả,
người viết báo phải có một hệ thống ngơn từ nhất định và kĩ năng viết bình luận sắc sảo.
Từ đó, chủ đề Covid-19 đã được giới bình luận ưu ái đóng góp những nét đặc biệt về phương
diện ngơn ngữ.
Chính luận là một trong những thể loại tiêu biểu và thiết yếu; chúng tơi chọn nó như
một nguồn nghiên cứu vì nó kết hợp cái nhìn chủ quan và khách quan của tác giả về sự việc
- tác giả sẽ sử dụng những con số khách quan để nhận xét, phản biện ý kiến chủ quan của
mình. Chính luận ngày càng đóng vai trị quan trọng trên báo chí, thường dành những trang
có vị trí trang trọng, bắt mắt để đăng những bài báo này. Thực tiễn hoạt động báo chí cho
5


6

thấy, những cây bút phê bình xuất sắc thường là những người có kiến thức sâu rộng, hiểu

biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, xã hội, từ kinh tế chính trị đến văn
hóa xã hội. Chính luận cũng cần được phân tích về bình diện ngôn ngữ và Lý thuyết đánh
giá của Martin và White (2005) là một khung phân tích có tính tồn diện và hợp lí đối với
những thể loại chính luận.
Rút ra được từ những khía cạnh đã được nêu trên, chúng tôi đi đến quyết định chọn
đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ diễn đạt thái độ trong bài bình luận kinh tế tiếng Anh về
tác động của Covid-19” làm chủ đề cho bài nghiên cứu của mình bởi đây là vấn đề mang
tính thời sự, được quan tâm trên tồn thế giới. Từ việc nghiên cứu cách sử dụng ngữ nghĩa
viết bình luận về ý kiến kinh tế trong đại dịch Covid-19, sử dụng lý thuyết đánh giá do
Martin và White (2005) phát triển, chúng tôi sẽ hiểu được các đặc điểm ngơn ngữ biểu đạt
thái độ phổ biến trong bình luận kinh tế bằng tiếng Anh về tác động của Covid-19, bổ sung
kiến thức cần thiết, cái là nền tảng hỗ trợ con đường học thuật của chúng tôi sau này.
2. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu chuyên sâu những đặc điểm ngôn ngữ diễn tả Attitude (Thái độ) của
những bài báo bình luận về kinh tế trong đại dịch Covid-19 dựa trên thuyết thẩm định của
Martin and White (2005), cụ thể trên trên ba phương diện: Affect (Tác động), Judgement
(Phán xét) và Appreciation (Đánh giá).
Phân tích hiển ngơn thái độ về mặt tích cực và tiêu cực trong cách sử dụng ngơn từ
của tác giả qua q trình đưa ra ý kiến về kinh tế ở đại dịch toàn cầu này.
Việc nghiên cứu sẽ đóng góp vào kho tàng nghiên cứu về tính thực tiễn của Thuyết
đánh giá phát triển bởi Martin và White (2005), từ đó, cung cấp thêm nguồn tham khảo trên
phương diện và xu hướng sử dụng ngơn ngữ ở bài bình luận nói chung và chủ đề kinh tế
nói riêng trong đại dịch Covid-19.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được khảo sát trên 70 bài báo bình luận về kinh tế bằng tiếng Anh
về tác động của Covid-19 ở các nguồn báo trực tuyến có uy tín như The New York Times,
Daily Mail, Worldbank, Forbes, The Wall Street Journey, The Economics và The Atlantics.
Những bài báo nghiên cứu được thẩm định và cơng khai bởi những kênh thơng tấn xã có
6



7

uy tín hàng đầu các nước nói tiếng Anh như Mỹ, Anh Quốc, Canada và Úc. Đối với đặc
điểm của hai bài báo được chọn, chúng tôi tập trung nghiên cứu cách sử dụng từ vựng, đặc
điểm ngữ pháp dựa trên các yếu tố Tác động - Phán xét - Đánh giá của Lý thuyết đánh giá
của Martin và White (2005).
4. Câu hỏi nghiên cứu
(1) Đặc điểm ngữ nghĩa của Thái độ trong văn bản bình luận về tình hình kinh tế
trong tác động của đại dịch Covid-19 trên báo tiếng Anh được thể hiện như thế nào trên
nền tảng của khung đánh giá?
(2) Đặc điểm ngữ pháp-từ vựng của ngơn ngữ diễn đạt Thái độ trong văn bản
bình luận về về tình hình kinh tế trong tác động của đại dịch Covid-19 trên báo tiếng Anh
được thể hiện như thế nào?
5. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tơi phân tích và mô tả các đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp nghiên
cứu hỗn hợp (PPNCHH). Đây là phương pháp áp dụng những điểm mạnh của cả hai phương
pháp nghiên cứu phổ biến, là nghiên cứu định tính (NCĐT) và nghiên cứu định lượng
(NCĐL). Sự kết hợp mang đến sự thông hiểu tốt hơn và mở rộng hơn về phạm vi nghiên
cứu và đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi đã chọn trước đó.
Cụ thể, chúng tơi tập trung vào thiết kế gắn kết (Concurrent Embedded Design) một nhánh của PPNCHH; trong đó, NCĐT giữ vai trị trọng yếu trong việc vận hành nghiên
cứu, và NCĐL đóng vai trị hỗ trợ. Ngồi ra, công cụ SPSS được đưa vào sử dụng để thống
kê và hệ thống các dữ liệu của cơng trình nghiên cứu, từ đó diễn giải về tần suất sử dụng
các từ ngữ diễn tả hiển ngôn về phương diện Thái độ.
6. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được khảo sát sơ lược dựa trên 70 bài báo bình luận về Kinh tế bằng tiếng
Anh về tác động của Covid-19 ở các nguồn báo trực tuyến có uy tín như The New York
Times, Daily Mail, Worldbank, Forbes, The Wall Street Journey, The Economics và The
Atlantics. Những bài báo nghiên cứu được thẩm định và công khai bởi những kênh thơng
tấn xã có uy tín hàng đầu các nước nói tiếng Anh như Mỹ, Anh Quốc, Canada và Úc. Đối

7


8

với đặc điểm của hai bài báo được chọn, chúng tôi tập trung nghiên cứu cách sử dụng từ
vựng, đặc điểm ngữ pháp dựa trên các yếu tố Tác động - Phán xét - Đánh giá của Lý thuyết
đánh giá của Martin và White (2005).

8


9

PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Cơ sở lý thuyết
1.1. Tổng quan về Khung đánh giá
Khung đánh giá, được phát triển bởi Martin và White và các đồng nghiệp của họ
trong những năm 1990 và 2000 (Martin & White, 2005), đưa ra những phân tích về những
ý nghĩa mà văn bản chuyển tải những đánh giá tích cực hoặc tiêu cực, theo đó cường độ
hoặc tính trực tiếp của những phát ngơn cơ bản như vậy được củng cố hay hoặc bị suy yếu
đi và qua đó người nói/người viết tương tác đối thoại với những người nói trước hoặc với
những người phản hồi có tiềm năng với vấn đề đang được nói đến ở thời điểm hiện tại. Các
nền tảng ý nghĩa này được tổng hợp lại với nhau thành "ngôn ngữ đánh giá" trên cơ sở rằng
chúng là tất cả các phương tiện mà qua đó, sự tham gia mang tính chủ quan và đánh giá của
người nói /người viết trong văn bản được hiển thị khi họ áp dụng các lập trường hoặc đối
với các hiện tượng (các thực thể, diễn biến hoặc trạng thái của sự việc được giải thích bằng
văn bản) hoặc đối với siêu hiện tượng (các mệnh đề về các thực thể, diễn biến và trạng thái
của


các

vấn

đề

này).

Với ý nghĩa đó, Khung đánh giá được phát triển bởi Martin và White (2005) bao gồm ba
phạm trù: Thái độ - Attitude; Thỏa hiệp – Engagement; và Thang độ - Graduation cung cấp
một phương pháp tương đối toàn diện cho việc xây dựng mơ hình có tính hệ thống để phân
tích các quan điểm mang tính đánh giá, đặc biệt trong lĩnh vực báo chí.
1.2. Phạm trù Thái độ - Attitude
Trong thuyết thẩm định, thuật ngữ "thái độ" được sử dụng để tham chiếu hệ thống
con của các ý nghĩa đánh giá mà theo đó những người vấn đề được xác định để diễn tả cái
nhìn tích cực hoặc tiêu cực đối với các hiện tượng, sự vật, sự việc hoặc các định đề về
những hiện tượng, sự vật, sự việc đó. Sự phân loại ngữ nghĩa theo chiều tích cực hoặc tiêu
cực này ra đời, đó là nhận thức các vấn đề được xem là cơ sở cho việc đánh giá cơ bản, bản
chất của sự vật được đánh giá và liệu thái độ có được truyền đạt một cách rõ ràng hay truyền
đạt ẩn dụ, ngầm hiểu.
9


10

Cụ thể hơn, tài liệu đánh giá chia các ý nghĩa cơ bản thành ba phạm trù lớn: (1) Tác
động (Affect), (2) Đánh giá (Appreciation), (3) Phán xét (Judgement). Ba danh mục lớn
hơn này sau đó được tiếp tục chia thành các danh mục phụ chi tiết hơn. Ví dụ: đánh giá
(đánh giá về hành vi của con người bằng cách tham chiếu đến các chuẩn mực xã hội) được

phân loại thành các đánh giá đó liên quan đến vi phạm hoặc duy trì các giá trị đạo đức và
pháp lý (gọi là giá trị “social sanction”) và những hành vi gây rủi ro cho lòng tin của một
người trong cộng đồng nhưng không thuộc về một bản chất đạo đức hoặc đạo đức (đánh
giá về thiên hướng tâm lý, năng lực và tính chuẩn mực, được gọi là “social esteem”).
(Martin và White, 2005).

Hình 1.1. Khung đánh gi(Martin và White, 2005).
Những đơn vị trong Khung đánh giá bao gồm:
- Chủ thể thẩm định (CTTĐ): Hay chủ thể đánh giá– là người hoặc vật có lý trí, nêu thái
độ và chính kiến.
- Bị thể thẩm định (BTTĐ): Là người hoặc vật bị/được đánh giá/phán xét.
- Thể hiện ngôn ngữ (THNN): Đơn vị từ vựng mang chức năng đánh giá, phán xét.
1.2.1. Tác động - Affect
Tác động (Affect) tập trung diễn tả những phản hồi của chủ thể về mặt tình cảm, cảm xúc
đối với bị thể (hiện tượng, sự vật, sự việc). Cảm xúc này có thể là buồn, vui, tức giận, thất
vọng, lạc quan, v.v…
1.1.2. Đánh giá - Appreciation
Đánh giá liên quan đồ vật, hiện vật, văn bản, trạng thái của sự việc và các quy trình về cách
chúng được ấn định giá trị về mặt xã hội, nghĩa là về bản chất thẩm mỹ của chúng, khả
năng gây hại hoặc lợi ích, sự quan tâm của dư luận. Phạm trù này được chia thành ba danh
mục con:
10


11

Đánh giá
(Appreciation)

Phản ứng – Tác động

(Reaction – Impact)

Phản ứng – Chất lượng
(Reaction – Quality)

Tích cực (+)
(Positive [admire])

Tiêu cực (-)
(Negative [criticise])

arresting, captivating..;
exciting, moving…;
lively, dramatic…;
quyến rũ, lôi cuốn ...; hấp
dẫn, cảm động ...; sống
động, kịch tính, ...
okay, fine, good…;
lovely, beautiful…;
appealing, enchanting…
được, tốt ...; đáng yêu,
xinh đẹp...; hấp dẫn, mê
hoặc,...
balanced, harmonious...;
consistent, logical…;
shapely, curvaceous…
cân đối, hài hòa...; nhất
quán, hợp lý ...; tạo dáng..

boring, tedious…;

ascetic, uninviting…;
flat, predictable….;
buồn tẻ, nhàm chán...; khơ
khan, khổ hạnh, dễ đốn,
đơn điệu ...;
bad, nasty…;
plain, ugly, grotesque…;
repulsive, revolting…
xấu, khó chịu ...; đơn giản,
kỳ cục ...; phản cảm...

unbalanced, irregular…;
contradictory,
Kết cấu – Cân bằng
disorganized, shapeless..
(Composition
khơng cân bằng, bất hịa...;
Balance)
mâu thuẫn,...; vơ định hình,
méo mó ...
simple, pure, elegant…;
ornate, extravagant…;
lucid, clear, precise…;
unclear, woolly…;
Kết cấu – phức tạp
rich, detailed, precise…
plain, simplistic…
(Composition
đơn giản, tinh khiết, thanh ngông cuồng...; phức tạp,
Complexity)

lịch ...; sáng suốt, rõ không rõ ràng,...; đơn giản,
ràng...; phức tạp, phong nguyên khối...
phú, chi tiết, chính xác ...
penetrating, deep…;
shallow, insignificant…;
creative, original…;
dated, overdue…;
priceless, valuable….;
worthless, ineffective…;
unique,
helpful…
useless, fake…
Giá trị
thâm nhập, sâu sắc, sâu nông cạn, không đáng kể...;
(Valuation)
sắc ...; nguyên bản, sáng quá hạn, không kịp thời ...;
tạo ...; đặc biệt, độc đáo ...; vơ giá trị, kém chất lượng,
có giá trị, vô giá, đáng giá không hiệu quả, giả..
...; hữu ích, hiệu quả
Bảng 1.2. Các phạm trù con của Phán xét
1.1.3. Phán xét - Judgment
Phán xét (Judgement) đánh giá tích cực/tiêu cực về hành vi của con người và tính chất bằng
cách tham chiếu đến đạo đức/luân lý và các hệ thống chuẩn mực được quy ước hóa hoặc
thể chế hóa khác. Như đã đề cập, khía cạnh Phán xét (Judgement) được phân loại thành các
11


12

phạm trù bao gồm con (1) chuẩn tắc (2) năng lực (3) kiên định (4) tính Chân thành và (5)

tính đạo đức dựa trên tính chất về phương diện chuẩn y đạo đức xã hội và cá nhân (Social
Sanction vs. Social Esteem).
2.

Các nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước
Trong những năm gần đây, lý thuyết đánh giá, đặc biệt ở phạm trù Thái độ (Attitude)

đã được sử dụng rộng rãi trong các thể loại khác nhau như nghị luận, báo chí, v.v... Li
(2016) đã dựa trên phạm trù Thái độ trong khung đánh giá để phân tích một số diễn ngôn
về nghị luận trong bài hát tiếng Anh. Thơng qua việc phân tích đặc điểm phân bố thái độ ở
khía cạnh nghị luận tiếng Anh, mục đích tìm ra đặc điểm ngôn ngữ trong các bài hát truyền
tải một thông điệp nhất định bằng tiếng Anh để người đọc hiểu được cảm xúc mà tác giả
bài hát thể hiện. Tác giả còn khẳng định tầm quan trọng của phương diện Thái độ trong
việc xây dựng quan hệ giữa các cá nhân giữa tác giả bài hát và độc giả.
Bên cạnh đó, sau khi phân tích những bài nghiên cứu hiện nay trên dựa trên Khung thẩm
định, Wen và cộng sự (2015) cũng đã đưa ra nhận định rằng Khung thẩm định là một lý
thuyết hiệu quả để phân tích thái độ được thể hiện và ý nghĩa giữa các cá nhân trong các
kiểu diễn ngôn khác nhau, chẳng hạn như tác phẩm văn học, tin tức, nghị luận pháp luật,
khoa học và học thuật.
Xiao-yan (2011) đã khám phá các chiến lược trong phần đánh giá quan trọng của
bài bình luận về sách học thuật tiếng Anh bằng cách thực hiện phân tích Thái độ. Trong bài
nghiên cứu, tác giả đã phân tích văn bản và thống kê phương thức sử dụng ngữ nghĩa, từ
vừng để biểu đạt Thái độ ở 10 bài bình luận về sách được chọn ngẫu nhiên từ hai tạp chí
hàng đầu về ngơn ngữ học và một nền tảng trực tuyến về ngôn ngữ học nổi tiếng ở Trung
Quốc. Kết quả cho thấy rằng chiến lược đánh giá của người bình luận chủ yếu nằm ở việc
vận dụng một cách tỉ mỉ tần suất của các yếu tố con ở phạm trù Thái độ (Tác động, Phán
xét, Đánh giá) và mối tương quan giữa khía cạnh tích cực và tiêu cực. Những chiến lược
này một mặt giúp người bình luận biết trước vai trị của mình và đưa ra đánh giá xác thực
cho bị thể, mặt khác làm cho bài đánh giá trở nên khách quan và tơn trọng, góp phần vào
sự liên kết với độc giả mà họ nhắm tới.

Ở trong nước cũng có những cơng trình nghiên cứu áp dụng Khung thẩm định để
phân tích cách hành văn cũng như cảm xúc và thái độ mà chủ thể phản hồi.
12


13

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Kết quả nghiên cứu
Kết quả sau khi được phân tích và thống kê theo phương pháp TKGK cho thấy những
điểm đáng chú ý về ngữ nghĩa Thái độ được thể hiện ở những bài báo về mặt tích cực (+)
và tiêu cực (+).
1.1. Đặc điểm ngữ nghĩa về Tác động (Affect)
Phạm trù này thể hiện cảm xúc như vui, buồn, hạnh phúc, hay lo lắng, đau khổ của
chủ thể đối với hoặc bị tác động bởi một đối tượng, sự việc cụ thể. Theo dõi từ những ví dụ
sau:
(1)

The swift and massive shock of the coronavirus pandemic and shutdown measures to

contain it have plunged the global economy into a severe contraction.
(Dịch: Cú sốc to lớn và nhanh chóng của đại dịch coronavirus và các biện pháp đóng cửa
để ngăn chặn nó đã đẩy nền kinh tế tồn cầu rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng.)
(2)

While the magnitude of disruption will vary from region to region, all EMDEs have

vulnerabilities that are magnified by external shocks.
(Dịch: Mặc dù mức độ gián đoạn sẽ khác nhau giữa các khu vực, nhưng tất cả các hiệu quả
kinh tế ở nhiều thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển đều có các lỗ hổng được

phóng đại bởi các cú sốc bên ngoài.)
(3)

Disruptions to global value chains can amplify the shocks of the pandemic on trade,

production, and financial markets.
(Dịch: Sự gián đoạn đối với chuỗi giá trị tồn cầu có thể làm tăng các cú sốc của đại dịch đối
với thương mại, sản xuất và thị trường tài chính.)
(4)

The shocks stemming from the pandemic will cause regional economic activity to

plunge

by

7.2%

in

2020.

(Dịch: Những cú sốc bắt nguồn từ đại dịch sẽ khiến hoạt động kinh tế khu vực giảm 7,2%
vào năm 2020.)
13


14

(5)


As the health and human toll grows, the economic damage is already evident

and represents the largest economic shock the world has experienced in decades.
(Dịch: Khi sức khỏe và dân số ngày càng gia tăng, thiệt hại kinh tế đã hiện rõ và là cú sốc
kinh tế lớn nhất mà thế giới phải trải qua trong nhiều thập kỷ.)
Từ ví dụ (1), (2), (3), (4) và (5), ta có thể thấy rằng, tác giả lựa chọn ngữ danh từ
“shock” (cú sốc) xuyên suốt các bài báo luận kinh tế. Điều này cho thấy thái độ bất ngờ và
lo lắng trước tình hình dịch bệnh xảy đến khơng được dự đốn trước, tạo nên những cú sốc
lớn đối với nền kinh tế hiện nay. Cái sự “sốc” không chỉ là với bản thân người viết, mà cái
‘sốc” đó cịn là của chung, của toàn thế giới. Cái “sốc” thể hiện sự đau đầu của người dân
trên Trái Đât về một đại dịch tuy không kết liễu đời người nhanh như Ebola, không vô
phương cứu chữa như AIDS/HIV, nhưng lại ảnh hưởng dai dẳng trong một thời gian dài.
Hệ lụy của nó có thể kéo được đến cả mai sau này nếu như chúng ta không hành động sớm.
VD

Từ/Cụm từ

Nghĩa

The swift and massive shock

(1)

(-)
external shocks.
(2)

(-)


(3), (4)

The shocks

(-)

(5)

largest economic shock

(-)

Bảng 1.1. Phân tích hiển ngôn Đánh giá
1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của Phán xét (Judgement)
Phạm trù Phán xét được trong bài báo được thể hiện qua những ngữ tính từ trong các ví dụ
dưới đây:
(1)

The blow is hitting hardest in countries where the pandemic has been the most severe

and where there is heavy reliance on global trade, tourism, commodity exports, and external
financing.

14


15

(Dịch: Địn tấn cơng đang ảnh hưởng nặng nề nhất ở các quốc gia nơi đại dịch xảy ra nghiêm
trọng nhất và nơi phụ thuộc chủ yếu vào thương mại tồn cầu, du lịch, xuất khẩu hàng hóa

và tài trợ bên ngoài.)
(2)

This is a deeply sobering outlook, with the crisis likely to leave long-lasting scars and

pose major global challenges,...
(Dịch: Đây là một cái nhìn hết sức nghiêm túc, với cuộc khủng hoảng có khả năng để lại
những vết sẹo lâu dài và đặt ra những thách thức toàn cầu lớn,..)
(3)

Should COVID-19 outbreaks persist, should restrictions on movement be extended

or reintroduced, or should disruptions to economic activity be prolonged, the recession
could

be

deeper.

(Dịch: Nếu các đợt bùng phát COVID-19 vẫn tiếp tục, nếu các hạn chế di chuyển được mở
rộng hoặc lưu thông trở lại, hoặc nếu kéo dài sự gián đoạn đối với hoạt động kinh tế, thì
suy thối có thể sâu hơn.)
(4)

The crisis highlights the need for urgent action to cushion the pandemic’s health and

economic consequences, protect vulnerable populations, and set the stage for a lasting
recovery.
(Dịch: Cuộc khủng hoảng nhấn mạnh hành động cấp bách của việc giải quyết các hậu quả
kinh tế và sức khỏe của đại dịch, bảo vệ các nhóm dân cư dễ bị thiệt hại và tạo tiền đề cho

sự phục hồi lâu dài.)
(5)

However, the outlook is highly uncertain and downside risks are predominant,

including the possibility of a more protracted pandemic, financial upheaval, and retreat from
global trade and supply linkages.
(Dịch: Tuy nhiên, số liệu này rất thất thường và rủi ro giảm chiếm ưu thế hơn, bao gồm khả
năng đại dịch kéo dài hơn, biến động tài chính và sự rút lui khỏi các liên kết thương mại và
cung ứng toàn cầu.
VD

Từ/Cụm từ

Nghĩa
15


16

(1)

heavy
(+)
deeply sobering

(2)

(+)


(3)

deeper

(-)

(4)

vulnerable population

(-)

(5)

high uncertain

(+)

predominant
Bảng 1.2. Phân tích hiển ngơn Phán xét.
1.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của Đánh giá (Appreciation)
Đặc điểm ngữ nghĩa về mặt Đánh giá ở các bài báo được thể hiện như sau:
(1)

The swift and massive shock of the coronavirus pandemic and shutdown measures to

contain

it


have

plunged

the

global

economy

into

a

severe

contraction.

(Dịch: Cú sốc to lớn và nhanh chóng của đại dịch coronavirus và các biện pháp đóng cửa để
ngăn chặn nó đã đẩy nền kinh tế tồn cầu rơi vào tình trạng suy thối nghiêm trọng.)
Việc sử dụng từ nghiêm trọng ở đây cho ta thấy một cái nhìn tiêu cực hơn về nguy cơ cho sự
sụp đổ của nền kinh tế. Tác giả đã đánh giá được mức độ nghiêm trọng của việc các hoạt động
kinh tế đi xuống do bị đình trệ. Sự kết hợp của một từ thuộc phạm trù tác động- “sốc” cũng
bổ trợ cho ý nghĩa của từ “nghiêm trọng”.
(2)

The baseline forecast envisions a 5.2 percent contraction in global GDP in 2020, using

market exchange rate weights—the deepest global recession in decades, despite the
extraordinary efforts of governments to counter the downturn with fiscal and monetary

policy

support.

(Dịch: Dự báo cơ sở dự đốn GDP tồn cầu sẽ giảm 5,2% vào năm 2020, sử dụng tỷ giá hối
đoái thị trường - cuộc suy thối tồn cầu sâu sắc nhất trong nhiều thập kỷ, bất chấp những nỗ
16


17

lực phi thường của các chính phủ nhằm chống lại suy thối với sự hỗ trợ của chính sách tài
khóa



tiền

tệ.)

Trong ví dụ này, tác giả đánh giá rằng nỗ lực của chính phủ trong việc phịng chống
dịch là rất đáng được tơn trọng vì nó rất chỉn chu. Tuy nhiên, dù nó mang nghĩa tích cực,
nhưng lại được đặt trong một hoàn cách tương đối tiêu cực. Hoàn cảnh ở đây đó chính là sự
đình trệ chậm trễ của nền kinh tế vẫn diễn ra dù cho nỗ lực của chính phủ có “phi thường”
đến đâu đi chăng nữa.
(3)

The June 2020 Global Economic Prospects describes both the immediate and near-

term outlook for the impact of the pandemic and the long-term damage it has dealt to

prospects

for

growth.

(Dịch: Viễn cảnh Kinh tế Toàn cầu tháng 6 năm 2020 mô tả cả triển vọng trước mắt và
ngắn hạn đối với tác động của đại dịch và thiệt hại lâu dài mà nó gây ra đối với triển vọng
tăng

trưởng.)

Một vài từ ngữ mang ý nghĩa tích cực sau một loạt các từ có phạm trù đánh giá tiêu cực.
Những từ như “ triển vọng trước mắt” hay “ngắn hạn” gợi cho người khác một sự hy vọng
nhất định vào tương lai phía trước.
(4)

That weakness will spill over to the outlook for emerging market and developing

economies, who are forecast to contract by 2.5 percent as they cope with their own domestic
outbreaks

of

the

virus.

(Dịch: Điểm yếu đó sẽ ảnh hưởng đến triển vọng thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang
phát triển, những người được dự báo sẽ giảm 2,5% khi họ đối phó với đợt bùng phát virus

trong nước)
(5)

The crisis highlights the need for urgent action to cushion the pandemic’s health

and economic consequences, protect vulnerable populations, and set the stage for a lasting
recovery.
Dịch: Cuộc khủng hoảng nhấn mạnh sự cấp bách của việc giải quyết các hậu quả kinh tế
và sức khỏe của đại dịch, bảo vệ các nhóm dân cư dễ bị thiệt hại và tạo tiền đề cho sự phục
hồi

lâu

dài.

Vấn đề kinh tế sau Covid và các hậu quả của nó được đánh giá là “ cấp bách”, nếu
không phải quyết sớm, việc phục hồi nền kinh tế sẽ là chuyện gần như bất khả thi. Nên
17


18

phải nhanh chóng hành động để có được sự bền vững kinh tế “lâu dài”

(6)

Emerging market and developing economies will be buffeted by economic

headwinds from multiple quarters: pressure on weak health care systems, loss of trade and
tourism, dwindling remittances, subdued capital flows, and tight financial conditions

amid

mounting

debt.

(Dịch: Thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển sẽ phải đối mặt với những khó
khăn kinh tế từ nhiều quý: áp lực lên hệ thống chăm sóc sức khỏe yếu kém, thương mại
suy yếu và du lịch, kiều hối thu hẹp, dịng vốn giảm và điều kiện tài chính eo hẹp trong
bối cảnh nợ nần chồng chất.)
(7) However, even after demand recovers, adverse impacts on energy exporters may
outweigh

any

benefits

to

activity

in

energy

importers

(Dịch: Tuy nhiên, ngay cả sau khi nhu cầu phục hồi, các tác động bất lợi đối với các nhà
xuất khẩu năng lượng có thể lớn hơn bất kỳ lợi ích nào đối với hoạt động của các nhà nhập
khẩu năng lượng.)

(8) In the face of this disquieting outlook, the immediate priority for policymakers is to
address

the

health

crisis

and

contain

the

short-term

economic

damage

(Dịch: Trước viễn cảnh đáng lo ngại này, ưu tiên trước mắt của các nhà hoạch định chính
sách là giải quyết cuộc khủng hoảng sức khỏe và ngăn chặn những thiệt hại kinh tế ngắn
hạn.)
(9) Over the longer horizon, the pandemic is expected to leave lasting scars through lower
investment, an erosion of human capital through lost work and schooling, and
fragmentation

of


global

trade

and

supply

linkages.

(Dịch: Trong thời gian dài hơn, đại dịch dự kiến sẽ để lại những tổn thất lâu dài do đầu tư
thấp hơn, xói mịn nguồn nhân lực do mất việc làm và nghỉ học, và sự phân mảnh của các
mối liên kết cung ứng và thương mại toàn cầu.)
(10) Per capita incomes are expected to decline by 3.6%, which will tip millions of people
into extreme poverty this year.
(Dịch: Thu nhập bình quân đầu người dự kiến sẽ giảm 3,6%, khiến hàng triệu người rơi vào
cảnh nghèo cùng cực trong năm nay.)
18


19

Từ cùng cực (10) được sử dụng như một sự mơ tả cấp độ nghèo đói trong tương lai
sắp tới. Chúng ta có những cấp độ của sự nghèo đói và thiếu thốn, nhưng từ ngữ đánh giá sự
nghèo đói mang ý nghĩa tương đối tiêu cực và khốn khổ.
(11)

A downside scenario could lead the global economy to shrink by as much as 8% this

year, followed by (12) a sluggish recovery in 2021 of just over 1%, with output in EMDEs

contracting by almost 5% this year.
(Dịch: Một kịch bản đi xuống có thể khiến nền kinh tế tồn cầu thu hẹp tới 8% trong năm
nay, tiếp theo là (12) sự phục hồi chậm chạp vào năm 2021 chỉ hơn 1%, với sản lượng trong
các EMDE giảm gần 5% trong năm nay.)
Tác giả dùng từ “đi xuống” (11)ở đây để thể hiện cho sự xuống dốc của nền kinh tế
toàn cầu. Và việc xuống dốc này sẽ kéo theo hệ lụy, đó là sự hồi phục “ chậm chạp”của những
nền kinh tế dù lớn hay nhỏ, bằng chừng tương đối rõ ràng, các con số đã nói lên những điều
này,
VD
(1)

Từ/Cụm từ

Nghĩa

severe
(-)
extraordinary

(2)

(+)

immediate
(+)

(3)
near-term

(+)


(4)

(5)

weakness

(-)

19


20

(6)

urgent

(-)

(7)

lasting

(+)

(8)

weak


(-)

(9)

dwindling

(-)

(10)

subdued

(-)

(11)

tight

(-)

(12)

mounting

(-)

(13)

adverse


(-)

(14)

disquieting

(-)

(15)

lasting

(+)

(16)

extreme

(-)

(17)

downside

(-)

(18)

sluggish


(-)
20


21

Bảng 1.3. Phân tích hiển ngơn Đánh giá.
2.Kết quả nghiên cứu

Biểu đồ 2.1. Tần suất sử dụng các phạm trù Thái độ trong bài báo.
Từ bảng phân tích số lượng trên, ta có được kết quả là Phạm trù Đánh giá chiếm 50% số
lượng từ ngữ. Theo sau đó là Phạm trù Tác động, chiếm 30% và cuối cùng là Phạm trù
phán xét, 20%. Phạm trù Đánh giá được thể hiện nhiều trong các bài báo, chiếm đến 50%
tổng số phạm trụ thái độ được phân tích trong các bài báo. Việc sử dụng số lượng lớn các
từ Đánh giá sẽ góp phần giúp người đọc nắm bắt rõ ràng quan điểm thái độ đánh giá tích
cực và cả tiêu cực của tác giả về một vấn đề, hiện tượng cụ thể, trong trường hợp này là
các bài bình luận về ảnh hưởng của Covid-19 đối với nền kinh tế tồn câu. Phạm trụ tác
động được sử dụng ít hơn, tác giả muốn lồng ghép mức độ “sốc” của thế giới đối với đại
dịch Covid-19, ngồi những từ đó, tác giả không đưa vào them những từ chỉ phạm trù tác
động khác. Nguyên nhân là vì tác giả muốn sự khách quan nhất có thể, vì đây là một bài
bình luận về tác động mang nhiệm vụ truyền đạt thông tin đến với độc giả. Phạm trù phán
xét được hạn chế đưa vào các bài báo. Đây là bài báo thiên về vấn đề toàn cầu hơn là vấn
đề con người, trong khi đó, phạm trù Phán xét thiêng nhiều hơn về việc đánh giá và phán
xét con người dựa trên các chuẩn mực hoặc chế tài xã hôi.
21


22

3. Bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch về việc sử dụng các phạm trù thái độ
trong các bài bình luận kinh tế được chọn. Bài viết này có tỉ lệ sử dụng số lượng từ ngữ
đánh giá cao, cao hơn so với hai loại phạm trù cịn lại. Từ loại chủ yếu được sử dụng đó
chính là tính từ, đặc tả những vấn đề và đánh giá nó trong bài viết. Khi nói đến các chủ đề
của Covid-19, bài viết này sử dụng hiểu ngôn đánh giá các tác động tiêu cực lẫn tích cực.
Tác giả đưa ra một ý kiến khách quan cho phép người đọc có cái nhìn mở rộng lớn hơn về
vấn đề phổ biến toàn cầu này. Tác giả ưu tiên sử dụng loại thái độ này nhất trong 3 loại
phạm trù. Được sử dụng xuyên suốt những bài báo, phạm trù đánh giá cho thấy những chính
kiến của tác giả, những chính kiến này mang ý nghĩa khách quan và cung cấp thông tin. Kết
quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, vị trí thứ hai thuộc về phạm trù tác động. Ví dụ (1) ,(2),
(3), (4) và (5) là ví dụ về Tác động (Affect). Danh từ và cụm danh từ được sử dụng tương
đối nhiều, nhưng ngạc nhiên, nó chỉ về sự “sốc”. Sốc trong nền kinh tế, Y tế, đơi khi là cả
yếu tổ chính trị cũng bị “sốc” trong những bài luận về kinh tế này.
Ta có thể thấy rằng, tần suất sử dụng hiển ngôn Phán xét chiếm thấp nhất trong các
bài bình luận với 5 đặc điểm ngữ nghĩa được sử dụng (với 3 tính từ, 2 cụm tính từ và 1 cụm
danh từ), chủ yếu đánh giá về năng lực và chuẩn tắc. Kết quả này củng cố cho giả thuyết
khoa học (1) mà chúng tơi đưa ra, đó là tác giả sẽ có xu hướng sử dụng hiển ngôn Đánh giá
và Tác động hơn là sử dụng Phán xét. Quá trình nghiên cứu cũng đã đem lại kết quả bất
ngờ cho chúng tôi, chứng minh rằng phán đốn của chúng tơi về việc các tác giả sẽ ưu tiên
sử dụng hiển ngôn Tác động nhất, điều đã được đề cập ở giả thuyết khoa học (2) là khơng
chính xác. Bởi tần suất sử dụng hiển ngôn Đánh giá mới là cao nhất. Tác giả đánh giá một
cách tiêu cực về tình hình co thắt kinh tế trong đại dịch Covid-19; cụ thể có 13 trên tổng số
18 đặc điểm ngữ nghĩa được đánh giá tiêu cực).

22


23

PHẦN III: KẾT LUẬN

Những bài phân tích kinh tế trong thời điểm dịch Covid-19 là những món ăn tinh
thần khơng thể thiếu cho người dân trên tồn thế giới, nó khơng chỉ đóng vai trị cập nhật
thơng tin, nó cịn giữ vai trò cung cấp tri thức về đại dịch cũng như tuyên truyền những
thông điệp ý nghĩa đến cho người đọc, vì vậy việc lựa chọn loại ngơn ngữ phù hợp khi viết
bài là cần thiết. Trong bài viết này, tỉ lệ các loại thái độ trong câu từ có sự chênh lệch về số
lượng một cách rõ ràng. Tùy trường hợp, một loại thái độ sẽ được dùng nhiều hơn loại kia
để thể hiện rõ quan điểm của tác giả cũng như loại “ năng lượng” mà họ muốn truyền đến
cho độc giả của họ.
Khung đánh giá của White và Martin (2005) đã cung cấp sự đánh giá toàn diện về
mặt ngữ nghĩa của các bài báo. Kết luận, bài báo sử dụng một lượng tương đối từ đánh giá
mang hàm ý tiêu cực khi nói đến chủ đề Covid-19. Việc này cho ta thấy cảm quan không
mấy lạc quan của các chuyên gia về nền kinh tế toàn cầu. Họ đưa ra những ý kiến khách
quan để người đọc có thể có một cái nhìn rộng mở hơn về đại dịch toàn cầu này. Đánh giá
tiêu cực cũng là tự tồn tại, nó phải tồn tại để mọi người biết sự nghiêm trọng của vấn đề
đang hình thành trong cuộc sống này. Đôi khi, những từ ngữ mang tính khích lệ nhưng tiêu
cực này lại mang ý nghĩa giúp người đọc phấn đấu hơn là những từ tích cực. Họ sẽ có nhận
thức về những điều gì khơng nên làm, những điều gì sắp xảy ra trong tương lai. Ngồi ra,
bài bình luận này sử dụng một ngôn ngữ đánh giá kinh tế nhằm giúp người đọc có thể hiểu
được giá trị của việc chống lại dịch Covid-19, đẩy lùi dịch bệnh. Thơng qua đó, người đọc
hiểu rằng, bản thân họ cũng là người nên góp phần vào việc chống dịch, bằng nhận thức
của bản thân. Việc nâng cao nhận thức một cách tiêu cực này giúp người viết có thể truyền
đến một thơng điệp đơn giản nhưng hiệu quả đến cho mọi người. Nhưng một bài báo nếu
chỉ mang hàm ý khích lệ tiêu cực, khả năng cao sẽ gây ác cảm và cảm xúc không tốt đối
với bài báo. Ngồi những từ ngữ mang tính đánh giá tiêu cực, những từ ngữ tích cực cũng
được đề cập để mô tả cho một tương lai đầy hứa hẹn, đánh giá tiềm năng kinh tế trong
tương lai khi đại dịch toàn cầu này qua đi. Việc sử dụng các từ ngữ này cũng khiến người
đọc có cảm giác dễ chịu khi đọc, thay vì cảm giác rằng khơng gì có thể cứu vãn được tình
23



24

huống này. Một chút sự lo lắng kèm theo sự khích lệ về tương lai tươi đẹp và khiến người
đọc có hy vọng, thu hút họ tiếp tục tìm hiểu về đại dịch này.
Tuy nhiên, họ cũng sử dụng những từ ngữ mang tính biểu cảm để có thể đưa ra quan
điểm chủ quan của mình về dịch Covid. Ngồi việc thu hút độc giả bằng thông tin và nhận
thức, họ phải dựa vào cảm xúc của mình để đặc tả cảm xúc người đọc. Qua đó, lấy được sự
đồng tình cũng như hài lịng của người đọc dành cho bài viết của mình. Một lẽ hiển nhiên,
tác giả khơng thể làm hài lòng tất cả những độc giả của mình vì mỗi người sẽ có những
biểu cảm và suy nghĩ của riêng mình. Tác giả biết cách nắm bắt cảm xúc của bản thân, đồng
thời nắm được tâm lý của độc giả. Khi nào, họ sẽ hình thành được sự biểu cảm riêng cho
bài báo, sự chỉn chu náy sẽ khiến bài báo khơng chỉ là một bài bình luận khơ khan, mà cịn
là một bài luận được lồng ghép cảm xúc. Người đọc không phải ai cũng là người mong
muốn có một bài báo mang tính biểu cảm, nhưng ít ra, tác giả đã cho họ thấy được một góc
nhỏ của quan điểm chủ quan của họ thơng qua những từ ngữ biểu cảm này. Những góc nhìn
chủ quan thường sẽ không được lồng ghép vào bài báo luận về kinh tế, việc thêm một vài
từ biểu cảm, tuy khơng nhiều, nhưng vẫn làm tăng tính chân thật của nó rất nhiều. Nghệ
thuật dùng từ ngữ phán xét cũng được đưa vào một cách khéo léo, tác giả hạn chế một số
lượng từ phán xét nhất định để bài bình luận được khách quan hết mức có thể. Việc lồng
một vài từ ngữ phán xét thể hiện được quan điểm cá nhân của người viết về việc họ suy
nghĩ như thế nào về vấn đề đó.
Về kiến nghị, có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để thực hiện nghiên cứu khoa học
trong các lĩnh vực cùng ngành như Ngôn ngữ học, ngôn ngữ ứng dụng vào giảng dạy các
kĩ năng Đọc hiểu phán xét và Viết nghị luận. Bên cạnh đó, chúng ta có thể đưa kết quả
nghiên cứu vào việc giảng dạy tính tồn diện và chuyên môn của Khung đánh giá phát triển
bởi Martin và White (2005) trong ứng dụng thực tiễn.

24



×