MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quan hệ nghĩa vụ, hành vi của các chủ thể sẽ tác động vào một tài sản,
một cơng việc cụ thể nào đó. Những tài sản, cơng việc này chính là đối tượng của việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng quan hệ
nghĩa vụ cụ thể mà đối tượng của nó có thể là một tài sản, một công việc phải làm
hoặc một công việc không được làm. Công việc không được thực hiện là đối tượng
của nghĩa vụ trong những trường hợp, các bên thỏa thuận mà theo đó người có nghĩa
vụ khơng được thực hiện cơng việc theo nội dung mà các bên đã xác định. Nếu các
bên đã thỏa thuận một bên không thực hiện một cơng việc đã xác định mà bên có
nghĩa vụ lại thực hiện cơng việc đó thì được coi là vi phạm nghĩa vụ. Xuất phát từ
thực tế đó em xin chọn đề tài: “Kỹ năng đàm phán soạn thảo hợp đồng có đối tượng là
cơng việc” làm đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận của mình.
NỘI DUNG
Phần 1. Cơ sở lý luận về kỹ năng đàm phán soạn thảo hợp đồng có đối tượng là
cơng việc
1.1. Cơ sở lý luận về đàm phán hợp đồng
1.1.1. Khái niệm đàm phán hợp đồng
Đàm phán là quá trình tiến hành trao đổi, thảo luận giữa 2 hay nhiều bên để đạt
được những thỏa thuận. Quá trình đàm phán diễn ra khi có những mâu thuẫn, hoặc
những mối quan tâm chung cần giải quyết. Đàm phán được thực hiện khi và chỉ khi
cần sự thống nhất về quyền và lợi ích giữa các bên. Q trình đàm phán có thể diễn ra
trong thời gian ngắn (lương lượng), hoặc trong thời gian dài lên tới hàng năm trời.
1.1.2. Đặc điểm của đàm phán hợp đồng
Trong quá trình đàm phán cần xác định rõ mục tiêu đàm phán. Đồng thời bạn
phải điều nhu cầu, điều kiện để đạt được sự thống nhất. Và quan trọng nhất là đạt
được mục tiêu đã đề ra trước đàm phán.
Đàm phán phải có thoả mãn, hay ít nhất là chấp nhận, và có giới hạn lợi ích của
từng bên.
Q trình đàm phán xảy ra ln chịu sự chi phối vế thế và lực, sức mạnh về
tiềm lực giữa các bên đang nắm giữ.
Trong đàm phán các bên tham gia đều có sự chuẩn bị kĩ càng, nghiên cứu đối
thủ và mức giới hạn chấp nhận được.
1.1.3. Bản chất của đàm phán hợp đồng
Một là phải có ý định thực sự mong muốn giao kết hợp đồng (nếu các điều kiện
mà hợp đồng đưa ra thoả mãn lợi ích của mình). Nói cách khác, là phải “biết mình”.
Hai là phải có đầy đủ thơng tin về đối tượng của hợp đồng (phải biết giá của
loại áo mình định mua có giá khoảng bao nhiêu là vừa, và chất lượng của chiếc áo đó
như thế nào. Nói cách khác, là phải “biết người”. Như vậy, để “biết” thì phải nắm
thơng tin về đối tác, càng nhiều càng tốt. Bạn có thể hỏi câu ngược lại: “vậy có nên để
đối tác nắm thơng tin về mình hay khơng?”.
1.1.4. Nguyên tắc đàm phán hợp đồng
Dựa trên những gì đã phân tích ở trên, chúng ta có thể đúc kết lại một số
nguyên tắc đàm phán sau đây:
Thứ nhất, đàm phán là q trình đấu trí có mục đích. Mục đích đó là làm sao
kết quả đàm phán có lợi nhất cho mình. Có hai loại lợi ích: lợi ích trước mắt và lợi ích
lâu dài. Lợi ích trước mắt là những khoản lợi (tiền hay các lợi ích khác) mà mình có
được khi hợp tác. Lợi ích lâu dài là mối quan hệ tốt đẹp giữa đơi bên và uy tín mà
mình xây dựng được trên thị trường. Tuỳ từng loại hợp đồng mà chúng ta xây dựng lợi
ích trước mắt nhiều hơn hay lợi ích lâu dài nhiều hơn. Tuy nhiên, người muốn thành
công trên thương trường đơi khi phải biết bỏ những lợi ích trước mắt để hướng đến
những lợi ích lâu dài.
Thứ hai, khi đàm phán phải nắm rõ được mục đích và nếu có nhiều mục đích
thì phải biết ưu tiên mục đích nào là mục đích số một, mục đích nào là mục đích thứ
hai,…. Đàm phán khơng có mục đích, bài tốn rõ ràng dễ đi vào vịng luẩn quẩn và dễ
thất bại.
Thứ ba, khi đàm phán cần kiên định mục đích, song nên mềm dẻo về các
phương pháp có thể sử dụng để đạt được mục đích đó. Để có thể mềm dẻo được, cần
có nhiều thơng tin và biết cách đánh giá thông tin. Thông tin thường để dùng vào hai
mục đích trong đàm phán: đánh giá chiến lược của cả hai bên, và cung cấp thông tin
cho đối phương để xây dựng uy tín cho bản thân mình. Roger Fisher và William Ury
trong quyển Getting to Yes, đã nhận xét rằng để đàm phán thành công cần phải biết
tách con người ra khỏi vấn đề. Theo ông, là cần phải tập trung vào những lợi ích cụ
thể, không nên giận dữ khi đối tác đe dọa, không nên mềm yếu khi đối tác tỏ ra ngây
thơ,…. Điều đó tuy đúng trên lý thuyết song trên thực tế, chúng ta làm việc với con
người chứ không chỉ với vấn đề. Vì vậy, khơng thể tách hai cái ra, mà phải làm việc
với cả hai cùng một lúc. Đối với con người, mình phải tỏ ra là người có uy tín. Đối với
vấn đề, mình phải tỏ ra là người nắm thông tin và đánh giá được thông tin.
1.2. Khái quát về soạn thảo hợp đồng
1.2.1. Khái niệm soạn thảo hợp đồng
Khác với đàm phán hợp đồng, soạn thảo hợp đồng là giai đoạn sau khi hai bên
đã đàm phán hợp đồng thành công, chuẩn bị công việc ký kết hợp đồng. “Soạn thảo
hợp đồng là quá trình tạo lập/xây dựng các điều khoản, các quyền và nghĩa vụ theo
thỏa thuận của các bên phù hợp với các quy định của pháp luật tương ứng điều chỉnh
mối quan hệ mà các bên đã xác lập”. Các bước để soạn thảo hợp đồng hoàn chỉnh:
trước tiên phải hiểu rõ tính pháp lý và phạm vi áp dụng của hợp đồng; Sau đó, liệt kê
tất cả những điều khoản cần soạn thảo nên khuôn mẫu hợp đồng nhất định; Tiến hành
bổ sung chi tiết và chỉnh sửa bản hợp đồng thật cẩn thận; Đối chiếu, rà soát lại các
điều khoản với các quy định của pháp luật.
1.2.2. Đặc điểm của soạn thảo hợp đồng
Giống với đàm phán hợp đồng, khái niệm soạn thảo hợp đồng cũng đã phần
nào phản ánh được đặc điểm của giai đoạn này. Soạn thảo hợp đồng gồm 03 đặc trưng
chính sau: Chủ thể thực hiện công việc soạn thảo là một hoặc cả hai bên chủ thể giao
kết hợp đồng hoặc do hai bên cùng thống nhất thuê bên thứ ba soạn thảo hợp đồng;
Soạn thảo hợp đồng là quá trình ghi nhận những kết quả thỏa thuận đã thống nhất từ
đàm phán hợp đồng giữa các bên. Bản chất của soạn thảo là tạo lập các nội dung ghi
nhận sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trong giao dịch.
1.3. Khái quát về kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng
1.3.1. Khái niệm kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng
Nhìn chung, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng hay nói cách khác
kỹ năng khơng có một định nghĩa nào được thống nhất sử dụng. Theo tác giả Thái
Duy Tiên, “kỹ năng chính là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động”. Từ khái niệm
này có thể kết luận, kỹ năng chính là việc vận dụng kiến thức của mỗi cá thể để thực
hiện một hoạt động có mục đích nào đó. “Kỹ năng là năng lực hay khả năng vận dụng
có hiệu quả kiến thức, kinh nghiệm và phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh
hội để thực hiện nhiệm vụ tương ứng đạt mục đích đã đề ra trong thực tiễn”. Tương tự
như khái niệm kỹ năng nói chung, “Kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng là khả
năng hay năng lực vận dụng thành thạo những kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm để
đàm phán, soạn thảo hợp đồng với đối tác để bảo vệ được tốt nhất quyền và lợi ích
hợp pháp của mình trong quan hệ hợp đồng với đối tác”.
1.3.2. Vai trò của kỹ năng đàm phán và soạn thảo hợp đồng
Vai trò của kỹ năng đàm phán hợp đồng:
Kết quả của đàm phán mà các bên hướng tới là tạo lập các giao dịch mang lại
lợi ích kinh tế cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Chính vì vậy, nếu các bên có
kỹ năng đàm phán tốt, sẽ nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của cuộc đàm phán.
Việc đàm phán hợp đồng thành công, các bên ký kết hợp đồng đúng với quy
định của pháp luật sẽ đảm bảo hiệu lực của hợp đồng. Kể từ khi hợp đồng có hiệu lực,
quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh, ràng buộc các bên phải nghiêm túc thực
hiện.
Bên nào có kỹ năng đàm phán hợp đồng tốt hơn, sẽ đem lại đến nhiều lợi ích
hơn cho mình.
Đàm phán hợp đồng là giai đoạn vô cùng quan trọng. Do đó, nếu các bên có kỹ
năng đàm phán tốt, đàm phán kỹ lưỡng, cẩn thận, có phương án giải quyết các vấn đề
có thể phát sinh từ thực tiễn thực hiện hợp đồng thì sẽ ngăn ngừa được các vi phạm
hợp đồng, tranh chấp hợp đồng.
Vai trò của kỹ năng soạn thảo hợp đồng:
Giống như giai đoạn đàm phán, công việc soạn thảo hợp đồng cũng hết sức
quan trọng. Nếu các bên vận dụng được kỹ năng soạn thảo hợp đồng, soạn thảo một
hợp đồng chặt chẽ, hợp lý sẽ bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, hạn chế rủi ro.
Soạn thảo hợp đồng là soạn các điều khoản pháp lý trong hợp đồng, giúp các
bên kiểm tra các căn cứ pháp lý để hạn chế rủi ro có thể phát sinh tranh chấp từ hợp
đồng.
1.4. Hợp đồng có đối tượng là công việc
1.4.1. Khái niệm hợp đồng
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
So với định nghĩa về hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 có thể nhận thấy định
nghĩa về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2015 có một sự tiến bộ đáng kể: Nếu
Điều 394 Bộ luật dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ “Khái niệm hợp đồng dân sự”
thì Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ đi cụm từ “dân sự” và chỉ để “Khái niệm
hợp đồng”. Định nghĩa này thể hiện sự tiến bộ và hợp lý bởi lẽ khái niệm hợp đồng
vừa thể hiện sự ngắn gọn, súc tích vừa mang tính khái quát cao được hiểu là bao gồm
tất cả các loại hợp đồng theo nghĩa rộng (hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp
đồng kinh tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ…) chứ không chỉ là các hợp đồng dân
sự theo nghĩa hẹp đơn thuần.
1.4.2. Khái niệm hợp đồng dân sự
Theo như quy định cũ trong “Bộ luật dân sự năm 2015” khái niệm hợp đồng
dân sự được thể hiện rõ, đến Bộ luật dân sự năm 2015 khái niệm hợp đồng dân sự
được thể hiện tại Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển giao quyền,
nghĩa vụ đó, Hợp đồng dân sự là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục
đích nhất định nên hành vi này mang tính ý chí của chủ thể tham gia hợp đồng với
mục đích nhất định.
Giao kết hợp đồng dân sự có thể hiểu là q trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa
các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật thừa
nhận nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đối với nhau.
1.4.3. Đặc điểm của hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là hình thức pháp lý quan trọng và phổ biến nhất thực hiện
bản chất là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý.
Hợp đồng dân sự có đặc điểm:
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của hai hoặc nhiều chủ thể
dân sự, Trong hợp đồng dân sự, ý chí của một bên địi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo
thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng. Quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng do các bên thỏa thuận (trừ các quyền và nghĩa vụ
do pháp luật quy định). Sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các chủ thể phải được
thực hiện dưới hình thức nhất định. Hình thức của hợp đồng có thể là bằng văn bản,
bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể.
Mục đích của hợp đồng là nhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự theo quy định của pháp luật. Sự thỏa thuận giữa các chủ thể là điều kiện cần
nhưng chưa đủ nếu khơng có mục đích làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền,
nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dân sự là hành vi có ý thức của các chủ thể nhằm đạt được
mục đích nhất định cho nên hợp đồng dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể
tham gia giao dịch.
Bản chất của giao kết hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận. Trong đó, các bên thực
hiện sự bày tỏ và thống nhất ý chí nhằm hướng tới những lợi ích nhất định. Việc giao
kết hợp đồng dân sự cũng được xác lập trên cơ sở của sự thỏa thuận, thống nhất ý chí
giữa các bên. Qúa trình giao kết hợp đồng dân sự diễn ra với 2 yếu tố: sự bày tỏ ý chí
và sự chấp nhận ý chí. Qúa trình này có thể diễn ra nhanh chóng hay kéo dài; đơn giản
hay phức tạp; diễn ra đồng thời hay tiến triển ở nhiều giai đoạn khác nhau, phục thuộc
vào yếu tố như: ý chí của các bên về nội dung, hình thức biểu hiện của hợp đồng …
Các bên có thể sử dụng phương thức giao kết giao kết trực tiếp (gặp nhau, trao đổi,
đàm phán, thương lượng …) hoặc phương thức giao kết gián tiếp (thông qua công
văn, đơn chào hàng, các phương tiện điện tử …) để thỏa thuận, thống nhất ý chí với
tồn bộ nội dung của hợp đồng.
1.4.4. Phân loại hợp đồng
Căn cứ vào sự phụ thuộc về hiệu lực giữa các loại hợp đồng: Nếu căn cứ vào sự
phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực của hợp đồng thì ta có thể chia hợp đồng dân sự thành
2 loại hợp đồng: hợp đồng chính và hợp đồng phụ.
Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực của nó phát sinh độc lập không phụ
thuộc vào hợp đồng khác. Khi tham gia giao kết hợp đồng các bên tuân thủ nghiêm
chỉnh các điều kiện để đảm bảo cho hợp đồng hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với
các bên từ thời điểm giao kết hợp đồng. (khoản 3 Điều 402 Bộ luật dân sự năm 2015)
Hợp đồng phụ là hợp đồng có hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Để hợp
đồng phục có hiệu lực thì phải tn thủ các điều kiện sau đây: trước hết hợp đồng phụ
phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng như điều kiện về chủ
thể, nội dung, hình thức… Thứ 2, hợp đồng chính của hợp đồng phụ phải có hiệu lực.
Sau khi tuân thủ các điều kiện có hiệu lực nói trên thì hợp đồng phụ cịn phải phụ
thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính. Ví dụ: trong hợp đồng vay có thế chấp tài sản
thì nếu hợp đồng vay là hợp đồng chính vơ hiệu thì hợp đồng thế chấp tài sản là hợp
đồng phụ cũng sẽ vô hiệu.
Căn cứ vào mối liên kết giữa quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể: Nếu căn
cứ vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng ta có thể phân
thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ.
Hợp đồng song vụ: là hợp đồng căn cứ theo quy định tại Điều 410 Bộ luật dân
sự năm 2015 đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng
như đã thỏa thuận, chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền
đồng ý. Ví dụ hợp đơng vận chuyển, hợp đồng thêu tài sản.
Hợp đồng đơn vụ: là hợp đồng căn cứ theo quy định tại Điều 409 Bộ luật dân
sự năm 2015 mà trong đó chỉ có một bên có nghĩa vụ, bên kia chỉ hưởng quyền mà
khơng thực hiện nghĩa vụ gì. Trong hợp đồng đơn vụ, bên có quyền khơng phải thực
hiện bất cứ một nghĩa vụ nào đới với bên có nghĩa vụ. Ngược lại, bên có nghĩa vụ
khơng có một quyền nào đối với bên có quyền. Ví dụ hợp đồng tặng cho tài sản, bên
tặng cho có nghĩa vụ cịn bên nhận tặng cho khơng có.
Căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng:
Hợp đồng thực tế: là hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực của nó phát sinh
tại thời điểm chuyển giao tài sản. Ví dụ: hợp đồng cầm cố, hợp đồng tặng cho..
Hợp đồng ưng thuận: là hợp đồng phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên
ngau sau khi các bên thỏa thuận sơ lược xong về nọi dung chủ yếu của hợp đồng, hiệu
lực phát sinh khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản hoặc tại thời điểm thỏa
thuận. Ví dụ: A kí hợp đồng mua bán tài sản với B thỏa thuận hợp đồng phát sinh tại
thời điểm phát sinh tài sản…
Căn cứ vào tính chất có đi có lại về lợi ích giữa các bên chủ thể: Nếu căn cứ
vào tính chất ‘có đi, có lại’ của các bên trong hợp đồng ta có thể phân hợp đồng dân sự
ra thành 02 loại là hợp đồng có đền bù và hợp đồng khơng có đền bù.
Tính chất đền bù lợi ích được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của
quan hệ pháp luật dân sự. Tính chất đền bù đó được thể hiện một cách rõ nét nhất
trong chế định hợp đồng dân sự. Hợp đồng mang tính đến bù là những hợp đồng mà
trong đó một bên sau khi thực hiện nghĩa vụ cho bên đối tác sẽ nhận được những lợi
ích vật chất ngược lại từ phía bên kia. Việc phân tích tính chất đền bù giúp xác định
bản chất pháp lý của từng hợp đồng, từ đó áp dụng các quy định pháp luật để giải
quyết tranh chấp pháp sinh một cách chuẩn xác.
Dựa vào tính chất đền bù mà hợp đồng dân sự được chia thành 2 loại: nhóm
các hợp đồng khơng đền bù và nhóm hợp đồng đền bù. Việc xếp mỗi hợp đồng thuộc
nhóm nào dựa trên các quy phạm định nghĩa được quy định trong Bộ luật dân sự năm
2015:
Hợp đồng có đền bù: (Điều 472 Bộ luật dân sự năm 2015) Các hợp đồng đền
bù đó là: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng thuê tài sản,
hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển. Hợp
đồng có đền bù là hợp đồng mà bên này nhận lợi ích thì cũng đưa cho bên kia lợi ích
tương ứng. Ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ,
hợp đồng gia công…
Hợp đồng khơng có đền bù: hợp đồng thực hiện khi có thỏa thuận hoặc pháp
luật có quy định. Là loại hợp đồng mà trong đó một bên nhận được từ bên kia một lợi
ích mà khơng phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào tương ứng với phần lợi ích mà
mình đã nhận được. Bên cạnh việc dùng hợp đồng làm phương tiện, bản cam kết cho
giao dịch về lợi ích của các bên, các chủ thể cịn dùng nó làm phương tiện để giúp đỡ
nhau. Vì vậy, hợp đồng khơng có đền bù thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và
tinh thần tương trợ lẫn nhau. Ví dụ: hợp đồng vay-mượn tài sản bằng tín chấp , hợp
đồng giữ tài sản..
Căn cứ vào đối tượng của hợp đồng:
Hợp đồng có đối tượng là tài sản: bao gồm hợp đồng chuyển quyền sở hữu như
hợp đồng vay tài sản, hợp động giữ tài sản và hợp đồng chuyển quyền sử dụng hư hợp
đồng thuê, mượn tài sản.
Đối với hợp đồng mượn tài sản thì Điều 494 Bộ luật lao động năm 2015 quy
định: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn
giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên
mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.”
Tính chất không đền bù của hợp đồng mượn tài sản thể hiện ở chỗ bên mượn không
phải trả tiền cho việc sử dụng tài sản đó.
Hợp đồng có đối tượng là cơng việc phải thực hiện ví dụ như hợp đông dịch vụ,
gia công, bảo hiểm, ủy quyền…
Hợp đồng dân sự hỗn hợp: là hợp đồng khi kí kết, cùng làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ là nội dung của hai hay nhiều hợp đồng khác.
Phần 2. Kỹ năng đàm phán soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc
2.1. Kỹ năng đàm phán hợp đồng có đối tượng là cơng việc
Khơng nhìn chăm chăm vào mắt của đối tác khi trao đổi: điều này sẽ khiến đối
tác cảm thấy khơng thoải mái, mình là người khơng thân thiện, khơng đáng tin.
Khơng có kế hoạch cụ thể: cuộc đàm phán mà khơng có kế hoạch cụ thể, chuẩn
bị sẵn nội dung thì sẽ bị rơi vào thế yếu và kết thúc đàm phán sẽ khó đạt được những
điều mình mong muốn.
Khơng thơng báo trước nội dung đàm phán: nếu không thông báo trước nội
dung sẽ đàm phán thì bên phía đối tác sẽ bị nhầm nội dung đàm phán và cử người
không đúng chuyên môn tham gia đàm phán. Như vậy cuộc đàm phán dễ dàng đi đến
thất bại.
Đưa hết tất cả các thông tin, lý lẽ cần trình bày ngay từ lúc bắt đầu buổi đàm
phán: đối tác cần có thời gian tiếp nhận thông tin nên ta cần sử dụng lần lượt từng
thông tin một cho từng nội dung. Nếu đưa hết thơng tin, lý lẽ ngay từ lúc đầu thì
chẳng khác nào bạn bắn hết đạn ngay khi cuộc chiến mới bắt đầu, như vậy sẽ rất bất
lợi cho bạn trong quá trình đàm phán.
Lảng tránh ý kiến phản đối hay nghi ngờ từ phía đối tác: khi bạn bỏ qua ý kiến
phản đối hay nghi ngờ của đối tác thì càng làm cho họ cảm thấy mối quan tâm đó của
họ là đúng từ đó sẽ tạo ra định kiến, rào cản trong suốt quá trình đàm phán. Lúc này
bạn nên hỏi lại câu hỏi của đối tác và kiên nhẫn trả lời tất cả các thắc mắc đó.
2.2. Thực trạng kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là công việc hiện nay
Sau khi đàm phán thành công bước cuối cùng là cần phải soạn thảo hợp đồng
có đối tượng là công việc và ký giữa các bên. Việc soạn thảo hợp đồng có đối tượng là
cơng việc cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc cụ thể để làm sao có được hợp đồng
có đối tượng là công việc vừa chuyên nghiệp vừa logic. dưới đây là kỹ năng cần phải
có trong soạn thảo hợp đồng có đối tượng là công việc:
Thứ nhất: Kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc về mặt luật
học. Các yếu tố luật học không chỉ nằm ở việc thuộc lòng các quy định, điều khoản
pháp luật, mà cịn cần phải có tư duy pháp lý một cách vững chắc, cũng như nắm chắc
các vấn đề về lý luận. Ví dụ: Kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc ở
khía cạnh tư duy pháp lý thể hiện ở chỗ, trước khi soạn thảo hợp đồng có đối tượng là
công việc, cần xác định rõ quan hệ hợp đồng có đối tượng là cơng việc là gì để tránh
nhầm lẫn về mặt quan hệ. Ví dụ: nhầm lẫn giữa quan hệ về đặt gia công với quan hệ
về đặt hàng sản xuất; hoặc nhầm lần giữa quan hệ mua tài sản và quan hệ thuê mua tài
sản …. Hoặc, kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là công việc trong việc áp
dụng nguyên tắc thứ tự hiệu lực văn bản điều chỉnh hợp đồng và nội dung của hợp
đồng. Kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc về mặt luật học cịn thể
hiện ở việc nắm chắc các quy định pháp luật chung, quy định của pháp luật chuyên
ngành và biết cách vận dụng một cách nhuần nhuyễn vào từng quan hệ hợp đồng cụ
thể.
Thứ hai: Kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là công việc về mặt ngôn
ngữ. Trong số các kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc thì kỹ năng
về sử ngơn ngữ là cực kì quan trọng. Ngơn ngữ hợp đồng có đối tượng là công việc
nên ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và phổ thông, gần gủi với hai bên. Tránh trường hợp sử
dụng nhiều thuật ngữ, từ ngữ chuyên ngành gây khó hiểu cho cả hai bên, cho những
người trực tiếp thực hiện Hợp đồng có đối tượng là cơng việc về sau. Kỹ thuật soạn
thảo hợp đồng có đối tượng là công việc là điều rất quan trọng và cần được vận dụng
một cách cụ thể, khéo léo trong quá trình soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng
việc.
Thứ ba: Kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là công việc về mặt quản trị
chiến lược. Chiến lược ở đây thực ra là khơng q phức tạp. Nó đơn giản là chỉ cách
thức mà người soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc phải triển khai cơng việc
của mình có tính tốn, có hệ thống và có hiệu quả. Người có kỹ năng soạn thảo hợp
đồng có đối tượng là cơng việc tốt là người biết vạch ra trình tự và chiến lược, chiến
thuật và kịch bản cụ thể cho việc xây dựng hợp đồng có đối tượng là cơng việc. Ví dụ:
chiến lược soạn thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc theo hình thức áp đặt, tức là
một bên soạn thảo và không cho bên kia cơ hội về mặt thời gian để rà soát kĩ; hoặc
chiến lược tung tin hoả mù trước khi tham gia thảo luận về kế hoạch soạn thảo và ký
kết hợp đồng có đối tượng là cơng việc. Hợp đồng có đối tượng là cơng việc sử dụng
cho nhiều giao dịch với cùng nội dung sẽ khác với hợp đồng có đối tượng là cơng việc
chỉ cho một giao dịch cụ thể và một lần…. Một vấn đề khác trong kỹ năng soạn thảo
hợp đồng có đối tượng là cơng việc, đó là thơng tin về hai bên. Bên chủ động đưa ra
bản dự thảo hợp đồng có đối tượng là cơng việc nên có sự tìm hiểu và hiểu biết đầy
đủ, cụ thể về bên còn lại, cũng như hiểu rõ và khả năng nội tại của chính bản thân
mình. Kinh nghiệm của chúng tơi cho thấy, có nhiều trường hợp cán bộ đàm phán hợp
đồng có đối tượng là cơng việc của doanh nghiệp hoặc thuê Luật sư soạn thảo hợp
đồng có đối tượng là cơng việc kinh doanh thương mại nhưng khơng hiểu rõ chính
bản thân mình, dẫn tới đàm phán và kí “lấy được”, nhưng sau đó khơng thể thực hiện
bởi tiềm lực yếu hoặc không đủ kinh nghiệm triển khai.
Phần 3. Kiến nghị nhằm nâng cao kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối tượng là
cơng việc
Viết ra rõ ràng các suy nghĩ: Việc viết ra các suy nghĩ sẽ giúp bạn hệ thống lại
được các vấn đề tồn tại trong giao dịch, từ đó dễ dàng tìm ra các vấn đề hệ trọng và
giảm tỷ lệ bỏ lỡ các chi tiết cần thiết. Trên thực tế, việc viết ra các dữ liệu, các suy
nghĩ và lập kế hoạch cho các điều khoản cũng như các nội dung của giao dịch cũng là
việc bạn dồn hết các khó khăn của cả q trình xem xét, soạn thảo và quản trị rủi ro
hợp đồng vào hết giai đoạn đầu tiên. Cũng bởi việc này mà bạn có thể tiết kiệm đáng
kể thời gian cho việc soạn thảo hợp đồng và tạo ra một sản phẩm rõ ràng, dễ hiểu cho
các bên tham gia.
Trước khi bạn bắt đầu viết ra, hãy xem xét: Mục tiêu giao kết của bên bạn; Mục
tiêu giao kết của bên liên quan; Cách bạn dự định soạn thảo hợp đồng của mình (mẫu,
hình thức, cấu trúc, và các quy ước/nguyên tắc mà bạn dự định sẽ áp dụng)
Tóm tắt và tìm kiếm thơng tin: Nguyên nhân của nhiều nội dung sơ suất trong
hợp đồng có thể bắt nguồn từ một sự sai lầm hoặc thiếu cẩn trọng trong việc tương tác
các bên liên quan để thu thập đầy đủ và rõ ràng các thông tin. Nếu bất kỳ vấn đề nào
vẫn chưa rõ ràng, bạn nên tìm kiếm làm rõ. Hãy nắm rõ các thông tin trước khi bắt
đầu soạn thảo hợp đồng. Đừng bắt đầu làm khi cịn điều gì đó bạn chưa thực sự hiểu
rõ trong thỏa thuận này! Nếu không thể tự thu thập các thông tin, hãy ghi chú cẩn thận
lại toàn bộ các điểm cần làm rõ, rồi tương tác với các bên, có thể bằng điện thoại, có
thể tổ chức cuộc họp. Khi bạn đã nắm bắt đủ các yếu tố cần thiết, hãy tóm tắt chúng
bằng văn bản để các bên liên quan xác nhận về các thơng tin đó trước khi bạn chính
thức đánh giá và đưa vào soạn thảo.
Xác định các điều khoản cần thiết: Việc xác định các điều khoản cũng như việc
bạn lên dàn ý tổng quan cho một bài viết. Định vị rõ các tiêu đề/đề mục cũng chính là
xác định rõ tên của các điều khoản sẽ có. Việc list ra tất cả các điều khoản cần thiết
cũng là việc bạn tạo ra cơ hội để mình rà sốt và bảo đảm rằng tất cả các điều khoản
đưa vào hợp đồng sẽ hợp pháp và khơng có Quy định pháp lý nào có thể ảnh hưởng
đến hiệu lực. Bạn có thể tham khảo Checklist Điều khoản hợp đồng để có thêm các
cân nhắc! Với Hợp đồng thương mại, có một điểm chung là thường thấy có chứa 06
điều khoản.
Xác định các Điều khoản loại trừ trách nhiệm hoặc dự phòng rủi ro: Một trong
những kỹ năng quan trọng đối với một người làm hợp đồng là có khả năng phân tích
giao dịch và dự liệu ra được tất cả những trường hợp mà rủi ro có thể xảy ra. Sau đó,
bạn sẽ đưa ra các giải pháp xử lý đối với các tình huống rủi ro dự liệu đó để bảo vệ
quyền lợi đúng cách cho Doanh nghiệp của bạn. Các điều khoản này thường là: Điều
khoản bất khả kháng, Điều khoản cam kết, Điều khoản xác định mức thiệt hại ấn định,
…
Checklist các bẫy và cạm bẫy:
Bẫy: Thuế - Các khía cạnh thuế của giao dịch là gì? Đăng ký - Các thơng tin
cần thiết phải đăng ký với cơ quan nhà nước như Danh tính các bên, Giá hàng hóa
phải cơng bố giá với Cục quản lý giá, Lưu hành hàng hóa phải xác nhận công bố hoặc
cấp số lưu hành với cơ quan nhà nước, Dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều
kiện phải có Giấy phép hoặc Giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước? Thẩm quyền Các bên tham gia và đại diện của các bên tham gia đã có đủ các thẩm quyền cần thiết
chưa? Các giai đoạn/khoảng thời gian - Tất cả các khoảng thời gian và điểm mốc thời
gian trong giao dịch này là gì? Điều khoản miễn trừ trách nhiệm - Hợp đồng có chứa
điều khoản nào về miễn trừ trách nhiệm chưa? Nó đưa ra các trường hợp nào và phạm
vi trách nhiệm được miễn trừ đã được xem xét kỹ lưỡng chưa?
Cạm bẫy: Tính thực tiễn - Bạn đã xem xét luồng hay quy trình của giao dịch sẽ
diễn ra chưa? và có khó khăn thực tế nào trong hành trình đó khơng? Mất khả năng
thanh tốn - Điều gì sẽ xảy ra nếu một bên mất khả năng thanh toán? Chấm dứt Trong trường hợp nào thì hiệu lực của Hợp đồng sẽ chấm dứt? Thất bại - Mục tiêu hay
kết quả của giao dịch là gì và như thế nào được coi là một bên/các bên không đạt được
mục tiêu? Sửa đổi/Bổ sung - Với các thỏa thuận trong q trình bằng miệng hoặc các
cơng cụ giao tiếp khác, nếu có sự khác biệt so với thỏa thuận ban đầu, trường hợp nào
nó được ghi nhận và có hiệu lực? Bồi thường thiệt hại, Phạt, Thanh lý - Bạn có muốn
áp dụng một khoản thiệt hại ấn định trước không? Các trường hợp dẫn đến việc phạt
hợp đồng và mức phạt tương ứng? Việc bồi thường thiệt hại xảy ra hay phạt hợp đồng
có liên quan như thế nào đến quyền chấm dứt hợp đồng? Các điều khoản giới hạn và
loại trừ - Hãy đảm bảo rằng các điều khoản này đã rõ ràng và khơng có khả năng bị vô
hiệu.
Lập kế hoạch trước khi soạn thảo: Lập kế hoạch hợp đồng là một việc nên làm
trước khi bạn bắt đầu. Từ những sự hiểu biết đúng đắn về giao dịch, bạn có thể vạch ra
một phác thảo và xác định các điều khoản mà hợp đồng của bạn nên có. Sau đó, bạn
có thể sắp đặt theo thứ tự hợp lý và phù hợp với quy trình thực thi tự nhiên của giao
dịch. Bắt đầu với các tiêu đề/tên điều khoản chính và một khi bạn có cấu trúc thiết yếu
cho hợp đồng của mình, hãy mở rộng các tiêu đề thành các mệnh đề. Định nghĩa là
một trong những phần nội dung thách thức nhất để soạn thảo và thường được quy định
chính xác nhanh chóng nhờ việc lập kế hoạch cẩn thận. Nếu bạn làm theo quy trình
này, các điều khoản liên quan đến một khía cạnh cụ thể sẽ được nhóm lại với nhau
một cách hợp lý và không bị phân tán ngẫu nhiên trong suốt hợp đồng. Hơn nữa, q
trình này sẽ khơng chỉ cung cấp cho bạn một quy trình để làm việc mà cịn có thể chỉ
ra những phần nội dung/vấn đề mà trước đây bạn không biết.
KẾT LUẬN
Trong thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay hầu hết các công ty ở
các nước phát triển ln đề cao quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng, hợp đồng có
đối tượng là cơng việc của họ rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huống
hiếm khi xảy ra. Trong khi đa số các Công ty của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm
nhiều đến vấn đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu - “năm
câu ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi
thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng.
Tình trạng này do nhiều ngun nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơn trọng lý, quy
mơ kinh doanh cịn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thương quốc tế nên chưa
sợ… đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo hợp đồng có đối
tượng là cơng việc.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự 2015
2. Luật dân sự 2017 sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự 2015
3. />4. />5. />