Tải bản đầy đủ (.doc) (41 trang)

TIEU LUAN CAO HỌC_ một số quan điểm cơ bản của v i lênin về công tác tư tưởng và sự vận dụng ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (268.83 KB, 41 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG.......................................................................................................3
Chương 1. QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CHUNG CỦA CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG......................................................3
1.1. Quan điểm của V.I.Lênin về vai trị cơng tác tư tưởng.........................3
1.2. Quan điểm của V.I.Lênin về tính đảng và tính khoa học trong
công tác tư tưởng.............................................................................................4
1.3. Quan điểm của V.I.Lênin về các bộ phận của công tác tư tưởng
...........................................................................................................................5
1.4. Quan điểm của V.I.Lênin về hiệu quả công tác tư tưởng.....................8
Chương 2. QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CÔNG TÁC TƯ
TƯỞNG..........................................................................................................10
2.1. Quan điểm của V.I.Lênin về lý luận và công tác lý luận.....................10
2.1.1. Về bản chất, vị trí, vai trị của lý luận và công tác lý luận...................10
2.1.2. Về nhiệm vụ của công tác lý luận và cán bộ lý luận.............................13
2.2. Quan điểm của V.I.Lênin về công tác tuyên truyền và cổ động
.........................................................................................................................16
2.2.1. Khái niệm, vai trò tuyên truyền và cổ động..........................................16
2.2.2. Nguyên tắc tuyên truyền và cổ động.....................................................17
2.2.3. Nội dung, hình thức và phương tiện tuyên truyền và cổ động..............17
2.2.4. Mối quan hệ giữa công tác tuyên truyền và cổ động............................18
Chương 3. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ
CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Ở VIỆT NAM....................................................20
3.1. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của Cơng tác tư tưởng.....................20
3.2. Những nguyên tắc cơ bản của Công tác tư tưởng...............................25
3.3. Phương châm Công tác tư tưởng..........................................................28
KẾT LUẬN....................................................................................................35


TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................37




MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một
chính đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần
chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể tư tưởng.
Cơng tác tư tưởng dưới chủ nghĩa xã hội là hoạt động có mục đích của
Đảng cộng sản và Nhà nước nhằm phát triển, truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ
nghĩa, biến hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị
trong đời sống tinh thần xã hội, động viên cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng
tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Công tác tư tưởng gồm 3 quá trình cơ bản: quá trình sáng tạo hệ tư
tưởng và vận dụng hệ tư tưởng để đề ra đường lối, chính sách; q trình
truyền bá hệ tư tưởng và đường lối, chính sách (tái sản xuất hệ tư tưởng); quá
trình biến hệ tư tưởng, đường lối, chính sách thành hiện thực (“vật chất hóa”
hệ tư tưởng). Ba quá trình này được V.I.Lênin gọi một cách tương ứng là công
tác lý luận, công tác tuyên truyền và cơng tác cổ động. Cũng có thể gọi đó là 3
bộ phận hợp thành công tác tư tưởng. Công tác lý luận là quá trình hình thành,
phát triển sáng tạo hệ tư tưởng và vận dụng hệ tư tưởng để đề ra đường lối
chiến lược, sách lược. Công tác tuyên truyền và cổ động tương ứng với quá
trình truyền bá hệ tư tưởng và đường lối, chính sách trong quần chúng, thúc
đẩy quần chúng tích cực hành động nhằm hiện thực hóa hệ tư tưởng và đường
lối, chính sách ấy. Tất cả các yếu tố, các bộ phận trên đây tác động, quy định
lẫn nhau và hình thành nên hệ thống công tác tư tưởng. Hệ thống này vận
hành theo những quy luật của lĩnh vực tư tưởng.
Thực tế cho thấy, V.I.Lênin rất quan tâm và đưa ra nhiều quan điểm về
công tác tư tưởng và những quan điểm của ông về vấn đề này có ý nghĩa sâu
sắc đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó, nên em đã
chọn đề tài Tiểu luận của mình là: “Một số quan điểm cơ bản của V.I.Lênin

về công tác tư tưởng và sự vận dụng ở Việt Nam” với mong muốn mình
1


nắm được rõ hơn các quan điểm của V.I.Lênin về vị trí, vai trị của cơng tác
tư tưởng.
2. Mục đích nghiên cứu
Giúp cho những người nghiên cứu và học tập hiểu rõ hơn một số quan
điểm cơ bản của V.I.Lênin về lý luận và công tác lý luận
3. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp logic,
phương pháp so sánh, tổng hợp, tác giả còn sử dụng các phương pháp chủ yếu
là đọc, phân tích nội dung trong tài liệu, đưa ra một số ý kiến.
4. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận có
kết cấu gồm 3 chương và 6 tiết.

2


NỘI DUNG
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA
CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
1.1. Quan điểm của V.I.Lênin về vai trị cơng tác tư tưởng
V.I.Lênin cho rằng bộ phận cấu thành hết sức quan trọng trong hoạt
động của Đảng Cộng sản là cơng tác tư tưởng, mà mục đích cao nhất của nó
là luận giải về mặt lý luận đường lối của đảng, xây dựng con người phát triển
toàn diện và có đời sống tinh thần phong phú, khơng ngừng nâng cao ý thức
giác ngộ giai cấp của họ. Cơng tác tư tưởng là vũ khí mạnh mẽ của đảng trong

cuộc đấu tranh nhằm xây dựng xã hội mới.
V.I.Lênin rất coi trong hoạt động lý luận, tuyên truyền và cổ động của
đảng vơ sản. Trong tác phẩm “Làm gì?”, V.I.Lênin đã nêu luận điểm nổi
tiếng: “Khơng có lý luận cách mạng thì cũng khơng thể có phong trào cách
mạng” [4, tr.30-32]. Người còn chỉ rõ rằng vấn đề chủ yếu trong công tác tư
tưởng của đảng là nâng cao ý thức giác ngộ chính trị của cơng nhân và toàn
thể nhân dân lao động, làm cho họ hiểu rõ những nhiệm vụ cụ thể trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản: “nhiệm vụ chủ yếu của đảng là giáo dục
chính trị cho giai cấp cơng nhân, xây dựng ý thức cho giai cấp vô sản, cải tiến
việc tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động”. Trong bài báo “”những bài
học của cuộc khởi nghĩa Mátxcơva” V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Nâng cao sự
giác ngộ của quần chúng hiện nay cũng như bất cứ lúc nào, vẫn là nền tảng và
nội dung chủ yếu của tồn bộ cơng tác của chúng ta” [7, tr.472].
V.I.Lênin khẳng định rằng công tác tư tưởng trước hết phải có lý luận
mác – xít chân chính và làm cho lý luận đó thâm nhập vào phong trào công
nhân trở thành kim chỉ nam dẫn đường cho chính đảng của giai cấp cơng nhân
thì mới làm trịn vai trị của chiến sĩ tiên phong góp phần bảo vệ lợi ích của
giai cấp mình: “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong dẫn đường, đảng đó
mới có khả năng làm trịn vai trị chiến sĩ tiên phong” [4, tr.189].
3


V.I.Lênin cho rằng, công tác tư tưởng là một công tác hết sức quan
trọng, bởi vì một học thuyết, một đường lối chủ trương của đảng chỉ có thể đi
vào quần chúng, vào cuộc sống thông qua các công tác chính trị - tư tưởng.
Cơng tác này là trách nhiệm của đảng cộng sản cầm quyền “bất cứ một chính
đảng nào có trọng trách với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy
được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình” [11, tr.294].
1.2. Quan điểm của V.I.Lênin về tính đảng và tính khoa học trong
công tác tư tưởng

Khi tiến hành công tác tư tưởng thì địi hỏi đảng cộng sản phải thực
hiện đúng ngun tắc tính đảng, đây là nguyên tắc cơ bản, là thước đo đánh
giá người tuyên truyền, cổ động, đánh giá các binh chủng trên mặt trận tư
tưởng – văn hóa.
V.I.Lênin cho rằng: “Trong bất kỳ trường hợp nào điều quan trọng là
phương hướng chính trị - tư tưởng” [14, tr.481], và Người cũng u cầu:
“phải giữ vững tính đảng khơng chỉ trên lời nói mà cả trên việc làm” [14,
tr.497]. Như vậy, mọi nội dung trong công tác tư tưởng phải đứng trên lập
trường tư tưởng của đảng.
Để chính đảng của giai cấp vơ sản hồn thành sứ mệnh lịch sử của
mình, thì bên cạnh việc xác lập hệ tưởng mác – xít trong phong trào cơng
nhân cịn phải chú ý đến việc đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, phi vô
sản và chống lại các tư tưởng lạc hậu, lỗi thời. Tuy nhiên, trong cuộc đấu
tranh này đòi hỏi đảng cộng sản phải thừa kế và phát triển những hạt nhân
hợp lý trong các tư tưởng đó. Bởi vì, theo V.I.Lênin: “Dù học thuyết phản
động nhất cũng phải lấp lãnh những hạt trí tuệ” [14, tr.119]. Do đó: “Chúng ta
phải biết phát triển nó nếu khơng muốn lạc hậu với cuộc sống” [14, tr.121]. Vì
thế, cơng tác tư tưởng của đảng phải có nhiệm vụ kế thừa và phát triển các hạt
nhân hợp lý.

4


Cơng tác tư tưởng cịn phải được tiến hành dựa trên cơ sở khoa học,
trong đó triết học duy học biện chứng là cơ sở khoa học quan trọng nhất, đóng
vai trị phương pháp luận quyết định. Nó được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, những ý thức xã hội
có vai trị độc lập trong sự phát triển của xã hội.
Thứ hai, tư tưởng của con người phải gắn liền với lợi ích của họ.
Thứ ba, nhận thức của con người vốn có tính biện chứng. Q trình tư

tưởng diễn ra trong mâu thuẫn và thông qua các mâu thuẫn.
Thứ tư, con người là một thực thể sinh vật – tâm lý – xã hội.
1.3. Quan điểm của V.I.Lênin về các bộ phận của công tác tư tưởng
Khi xem xét cơng tác tư tưởng như một q trình bao gồm từ việc sáng
tạo ra hệ tư tưởng và vận dụng tư tưởng để đề ra đường lối chiến lược, sách
lược của một giai cấp, một chính đảng đến việc truyền bá hệ tư tưởng vào
trong quần chúng, thúcn đẩy quần chúng hành động một cách tích cực,
V.I.Lênin xác định ra bộ phận cấu thành công tác tư tưởng của đảng vô sản là:
công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động. Ba bộ phận (hình
thái) đó tương ứng với các q trình tư tưởng sau: cơng tác lý luận tương ứng
với q trình sáng tạo ra hệ tư tưởng, công tác tuyên truyền tương ứng với q
trình truyền bá hệ tư tưởng và cơng tác cổ động tương ứng với q trình vật
chất hóa hệ tư tưởng (biến tư tưởng thành hành động). Lần đầu tiên trong tác
phẩm “Những người bạn dân là như thế nào” V.I.Lênin đề cập đến công tác lý
luận và công tác thực tiễn tuyên truyền và cổ động: “Trong khi nhấn mạnh
như thế sự cần thiết, tầm quan trọng và quy mô rộng lớn của công tác lý luận
của những người dân chủ - xã hội, tôi không hề muốn nói rằng cơng tác đó
phải được đặt vào vị trí hàng đầu trước cơng tác thực tiễn”… “Trái lại, công
tác thực tiễn tuyên truyền và cổ động nhất thiết bao giờ cũng phải ở vị trí
hàng đầu, vì một là, công tác lý luận chỉ giải đáp được những vấn đề do công
tác thực tiễn nêu ra. Hai là, những người dân chủ - xã hội, vì những tình hình
khơng phụ thuộc vào họ, thường buộc phải chỉ làm công tác lý luận thôi, nên
5


khơng thể khơng hết sức coi trọng những lúc có thể làm công tác thực tiễn”
[1, tr.381]. Ở luận điểm này, V.I.Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công
tác thực tiễn tuyên truyền và cổ động trong phong trào cách mạng, thậm chí
ơng cịn đặt cị trí tun truyền và cổ động lên hàng đầu so với công tác lý
luận. Bởi lẽ, xét từ nguồn gốc thì mọi nhu cầu sáng tạo lý luận đều xuất phát

từ những địi hỏi thực tiễn cách mạng. Do đó, lý luận đã được sáng tạo tất yếu
phải trở về phục vụ thực tiễn thông qua công tác tuyên truyền và cổ động.
Cũng bàn về ba loại hình hoạt động của cơng tác tư tưởng, trong tác
phẩm “Làm gì?” V.I.Lênin cũng đưa ra luận điểm: “Những nhà lý luận thảo
những bản nghiên cứu về chính sách thuế, trong đó họ “kêu gọi”, chẳng hạn,
đấu tranh địi ký các hiệp ước bn bán và địi tự do bn bán; người tun
truyền cũng viết như thế trên các tạp chí, và người cổ động cũng nói như thế
trong các cuộc diễn thuyết trước cơng chúng” [4, tr.85]. Để tiến hành cơng tác
tư tưởng, địi hỏi cần có sự tác động của cả ba hình thái lý luận, tuyên truyền
và cổ động, thiếu một trong ba hoạt động này chắc chắn công tác tư tưởng
không đạt hiệu quả, thậm chí thất bại. Đồng thời, ba hình thái này cần thống
nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau để cùng thực hiện một quá trình tư tưởng và
giải quyết những vấn đề cấp bách do thực tiễn cách mạng đặt ra.
Các bộ phận cấu thành của cơng tác tư tưởng của đảng có mối quan hệ
thống nhất hữu cơ và tác động lẫn nhau như những quá trình bộ phận của
cùng một quá trình tư tưởng chung thống nhất, mặc dù chúng có chức năng,
đặc điểm riêng của mình. Giống như quá trình sản xuất vật chất, mắt khâu đầu
tiên của quá trình tư tưởng là sự sản xuất tư tưởng, tức công tác lý luận. Công
tác lý luận được coi là khâu trọng yếu hàng đầu của cơng tác tư tưởng. Nó
quyết định phương hướng, nội dung của công tác tuyên truyền và cổ động và
là cơ sở, nền tảng của công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng phát triển đúng
hướng, mang lại hiệu quả cao là tiền đề, điều kiện thuận lợi cho công tác
tuyên truyền và cổ động. Công tác tuyên truyền và cổ động hoạt động càng
mạnh mẽ càng đặt ra nhu cầu, động lực phát triển lý luận và tư duy lý luận.
6


Trái lại, nếu cơng tác lý luận giáo điều, trì trệ thì cơng tác tun truyền
cũng khó khăn, thiếu sức sống, thậm chí bế tắc mà biểu hiện của nó là nói
khơng đi đơi với làm. Nếu cơng tác lý luận sai lầm thì cịn cực kỳ nguy hiểm.

Trong trường hợp này, nếu công tác tuyên truyền, cổ động càng hoạt động sơi
nổi thì những kết luận của cơng tác lý luận càng tác hại cho cách mạng. Mặt
khác, những tác hại ấy đơi khi rất khó lường trước và rất khó khắc phục trong
một thời gian ngắn. Về điểm này, V.I.Lênin đã chỉ rõ “Giải quyết đúng đắn về
mặt lý luận đảm bảo những thắng lợi vững chắc trong cơng tác cổ động” [5,
tr.341] và khơng có nội dung tư tưởng rõ ràng, sâu sắc thì cơng tác cổ động
chỉ là văn hóa sao chép.
Cơng tác tun truyền và cổ động có một cơ sở chung là chủ nghĩa Mác,
đều nhằm giải quyết một nhiệm vụ thống nhất là nâng cao ý thức giác ngộ của
quần chúng nhưng mỗi cơng tác có sự khác biệt tương đối. V.I.Lênin đã phân
biệt sự khác nhau giữa nội dung, phương pháp công tác tuyên truyền và công
tác cổ động trong tác phẩm “Làm gì?”. Ơng cho rằng: “Người tun truyền,
nếu bàn về vấn đề thất nghiệp chẳng hạn thì phải giải thích bản chất tư bản chủ
nghĩa của các cuộc khủng hoảng, vạch rõ cái gì làm cho các cuộc khủng hoảng
là không thể tránh khỏi trong xã hội hiện đại, vạch rõ sự cần thiết phải cải tiến
xã hội ấy thành xã hội chủ nghĩa v.v… Nói tóm lại, người tuyên truyền phải nói
“nhiều ý”…”[4, tr.84-85]. Cịn với người cổ động: “Cũng nói một vấn đề ấy,
người cổ động sẽ lấy một ví dụ nào nổi bật nhất và được thính giả biết rõ nhất,
- ví dụ như một gia đình thất nghiệp bị chết đói, nạn ăn mày tăng lên, v.v…- rồi
dựa vào sự việc mà tất cả mọi người đều biết ấy, người cổ động sẽ đem hết sức
ra làm cho “quần chúng” có một ý niệm duy nhất: ý niệm về sự mâu thuẫn phi
lý giữa sự tăng thêm của cải và sự tăng thêm nghèo khổ; người cổ động sẽ ra
sức khêu gợi sự bất bình, sự phẫn nộ của quần chúng đối với sự bất công rõ rệt
ấy…” [4, tr.84-85]. Theo quan niệm này của V.I.Lênin, thì sự khác nhau cơ bản
giữa tuyên truyền và cổ động là người tuyên truyền thường dùng phương pháp
truyền đạt nhiều ý cho một người hay số ít người, cịn cổ động thì truyền đạt
7


chỉ một ý hay một vài ý, nhưng cho số đơng người. Bên cạnh đó, V.I.Lênin

cũng đã làm sáng tỏ không chỉ đặc điểm của phương pháp tuyên truyền, cổ
động mà cịn cho thấy tính chất chính trị, tính chất điển hình và vai trị của kỹ
năng lựa chọn sự kiện trong hai cơng tác này.
Tóm lại, cơng tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động
vừa có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động biện chứng với nhau, vừa có tính
độc lập tương đối. Cho nên, trong thực tiễn công tác tư tưởng không nên lẫn
lộn hình thái này với hình thái kia, nhất là giữa tuyên truyền với cổ động.
1.4. Quan điểm của V.I.Lênin về hiệu quả công tác tư tưởng
Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của con người, cần thiết
phải xem xét về tính hiệu quả. Trong bài “Việc gì đã xảy ra ở nước Nga” (báo
“Tiến lên” số 4 ngày 31/01/1905), V.I.Lênin đã đề cập tới vấn đề là công tác
lý luận phải tạo điều kiện để mở rộng phong trào cách mạng thực tiễn giúp
quần chúng nhân dân lựa chọn hình thức, phương pháp cách mạng có khả
năng “thu được kết quả nhiều nhất, vững chắc nhất mà lại ít tốn sức nhất” [6,
tr.258]. Kết quả cao chưa nhất thiết đưa lại hiệu quả cao. Hiệu quả cao chỉ khi
cùng một kết quả nhưng chi phí thấp nhất. Cho nên, trong công tác tư tưởng
phấn đấu đạt hiệu quả cao không phải bằng mọi giá, mà phải bằng cách sử
dụng những phương pháp công tác tốt nhất, chi phí hợp lý nhất.
Để đánh giá hiệu quả cơng tác tư tưởng cần thơng qua ba tiêu chuẩn:
trình độ hiểu biết, niềm tin, hoạt động thực tiễn về vấn đề tác động tư tưởng.
Ở đây V.I.Lênin quan tâm đến tiêu chuẩn hoạt động thực tiễn, hành động là
tổng hợp của sự hiểu biết và niềm tin, là đặc trưng nổi bật nhất của hiệun quả
công tác tư tưởng. Đánh giá con người khơng chỉ bằng lời nói mà bằng hành
động của họ, khi bàn về vấn đề này V.I.Lênin cho rằng: “Chúng ta căn cứ cái
gì để xét đốn những tư tưởng tình cảm thực của những cá nhân có thực? Tất
nhiên, căn cứ đó chỉ có thể những hoạt động của những cá nhân đó, và một
khi vấn đề chỉ là tư tưởng và tình cảm xã hội thì cần phải nói thêm, những
hoạt động xã hội của những cá nhân, tức là những sự kiện xã hội” [9, tr.28].
8



Ngồi ra, V.I.Lênin cịn bàn đến những yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng, hiệu quả công tác tư tưởng. Trong những yếu tố thì ơng đặc biệt quan
tâm đến vai trị của đội ngũ cán bộ làm cơng tác tư tưởng. Ông cho rằng: “tài
nghệ của người tuyên truyền và một người cổ động là chỗ ảnh hưởng một
cách tốt nhất đến một giá trị nhất định, làm cho một chân lý nào đó đối với họ
trở nên có sức thuyết phục mạnh nhất dễ hiểu nhất, để lại ấn tượng rõ ràng sâu
sắc nhất” [9, tr.38]. Người cịn nói: “Nếu khơng có đội ngũ cán bộ ấy thì mọi
chỉ thị, nghị quyết của Đảng chỉ là mớ giấy lộn” [9, tr.38]

9


Chương 2
QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
2.1. Quan điểm của V.I.Lênin về lý luận và công tác lý luận
Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển
sang chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư
sản bộc lộ hoàn toàn sự phản động của nó. Mâu thuẫn giữa giai cấp cơng nhân
với giai cấp tư sản, giữa giai cấp tư sản với giai cấp tư sản, giữa giai cấp tư
sản với nhân dân các nước thuộc địa…trở nên gay gắt. Đây cũng là thời kỳ nổ
ra cách mạng vô sản, giành chính quyền đã đến gần và chín muồi, song các
đảng của Quốc tế II (sau khi Ăngghen mất) không đủ sức mạnh, tư cách và uy
tín lãnh đạo cách mạng vô sản.
Yêu cầu cấp bách và nặng nề đặt ra là kế thừa, phát triển, sáng tạo
những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về lý luận và công tác lý luận để xây
dựng các nguyên lý đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và áp dụng vào
thực tiễn để xây dựng đảng đủ sức lãnh đạo cách mạng vô sản giành thắng lợi.
Công tác lý luận được V.I.Lênin đề cập là cơng tác lý luận – chính trị. Theo
V.I.Lênin, chính trị liên quan đến số phận hàng triệu người, Nó liên quan đến

vận mệnh quốc gia, dân tộc, đến lợi ích mọi giai cấp, đến mọi tầng lớp xã hội.
Do đó, đặc điểm của cơng tác lý luận của Đảng là sự thống nhất hữu cơ giữa
nó với chính trị. Lý luận ở đây là phục vụ trực tiếp chính trị; nó là cơ sở khoa
học của chính trị, thậm chí quan điểm lý luận nhiều khi trực tiếp đã là chính
trị. Do đó, cơng tác lý luận địi hỏi đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực
này phải rất vững vàng, nhạy bén về chính trị, đồng thời phải có kiến thức sâu
rộng, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, có năng lực tư duy khái quát và có
tác phong làm việc tỉ mỉ, cẩn trọng.
2.1.1. Về bản chất, vị trí, vai trị của lý luận và cơng tác lý luận
Khi nói về vai trị mở đường của lý luận đối với phong trào cácha mạng,
cách đây hơn một thế kỷ, Ph.Ăngghen cho rằng, nếu trước kia cách mạng bắt
10


đầu trong đầu óc của những người thầy tu, thì bây giờ cách mạng bắt đầu trong
đầu óc của các nhà triết học. Để đưa các cuộc cách mạng đến thắng lợi hồn
tồn thì phát triển lý luận trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. Xuất
phát từ quan niệm đó của Ph.Ăngghen, trong tác phẩm “Làm gì?” V.I.Lênin đã
nêu luận điểm nổi tiếng: “Khơng có lý luận cách mạng thì cũng khơng thể có
phịng trào cách mạng” [4, tr.30]. Luận điểm đó khẳng định vai trị, động lực to
lớn, vai trò kim chỉ nam của lý luận đối với phong trào cách mạng.
Lịch sử đấu tranh của giai cấp vô sản đã chứng minh rằng, họ chỉ trở
thành giai cấp “vì mình” khi có lý luận của chủ nghĩa Mác soi đường.
V.I.Lênin đã khái quát quy luật về sự ra đời của các đảng cộng sản là sự kết
hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào cơng nhân. V.I.Lênin đã
nhấn mạnh vai trị to lớn của lý luận cách mạng đối với các đảng của giai cấp
công nhân và phong trào vô sản, Người khẳng định: “…chỉ đảng nào có được
một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến
sĩ tiên phong” [4, tr.32].
Nhấn mạnh tầm quan trọng của lý luận, V.I.Lênin khẳng định: “Việc

xây dựng lý luận đó càng tiến lên thì chủ nghĩa dân chủ - xã hội sẽ càng phát
triển nhanh chóng, vì những người bảo vệ giảo quyệt nhất chế độ hiện tại, đều
bất lực không thể ngăn nổi việc thức tỉnh tư tưởng của giai cấp vô sản” [1,
tr.380-381]. Rõ ràng trong bối cảnh mâu thuẫn giai cấp gay gắt, việc phát
triển lý luận và biến nó thành vũ khí đấu tranh sẽ góp phần thức tỉnh quần
chúng nhân dân tiến bộ và đấu tranh chống lại giai cấp tư sản đang trở nên lỗi
thời và phản động.
V.I.Lênin coi công tác lý luận là một trong những hình thức đấu tranh
giai cấp hết sức quan trọng của Đảng vô sản. Đảng phát triển một cách sáng
tạo lý luận khoa học, và trên cơ sở đó, đề ra đường lối chính trị để lãnh đạo
kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa, tổ chức việc giáo dục cộng sản chủ
nghĩa cho nhân dân lao động. V.I.Lênin khẳng định: “Không thể có một đảng
xã hội chủ nghĩa vững mạnh, nếu khơng có lý luận cách mạng” [3, tr.232].
11


Đảng cộng sản là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức
chặt chẽ nhất, cách mạng nhất và giác ngộ nhất của giai cấp cơng nhân. Khi
có chính quyền, đảng là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chun chính vơ sản
và là một bộ phận của hệ thống đó. Để hồn thành sứ mệnh cao cả của mình,
Đảng phải có lý luận tiên phong dẫn đường, chỉ lối, mới giải quyết được
những nhiệm vụ cách mạng thực tiễn đặt ra. Hơn nữa, phát triển lý luận sẽ
giúp đảng khắc phục hai khuynh hướng: giáo điều và kinh nghiệm. Chủ nghĩa
giáo điều có biểu hiện là thoát ly thực tế, vận dụng máy móc kinh nghiệm
hoặc những kết luận có tính lý luận của nước ngồi, khơng phát huy tinh thần
độc lập, sáng tạo của mình, chưa đi sâu nghiên cứu thực tế đất nước để làm
cho công tác lý luận được phong phú, sinh động. Cịn chủ nghĩa kinh nghiệm
có biểu hiện là coi thường lý luận, tách rời thực tiễn với lý luận; phân tích,
phê phán tư tưởng sai lầm một cách gò ép, hời hợt, sức thuyết phục yếu.
V.I.Lênin còn khẳng định vai trò và mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác

lý luận với công tác tuyên truyền và cổ động. Người viết: Nếu không phát
triển được công tác lý luận “…thì sẽ khơng tiến được một bước nào trong
công tác tuyên truyền và cổ động” [8, tr.359]. Giống như quá trình sản xuất
vật chất, mắt khâu đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình tư tưởng là sự sản
xuất tư tưởng, tức là công tác lý luận. Công tác lý luận quyết định phương
hướng, nội dung của công tác tuyên truyền, cổ động và là cơ sở, nền tảng của
công tác tư tưởng. Công tác lý luận phát triển đúng hướng sẽ là tiền đề, điều
kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền và cổ động. Ngược lại nếu cơng tác
giáo dục lý luận giáo điều, trì trệ thì cơng tác tun truyền và cổ động sẽ gặp
khó khăn, thiếu sức sống, thậm chí bế tắc. Do đó, vai trị của lý luận là hết sức
quan trọng, và trong hoạt động thực tiễn công tác tư tưởng cần phối hợp sử
dụng cả ba hình thái sao cho phù hợp với các quá trình tư tưởng và hoạt động
thực tiễn đang diễn ra.
Đối với V.I.Lênin, phát triển lý luận và công tác lý luận là yêu cầu
khách quan, lý luận chính là khoa học đấu tranh cách mạng, giác ngộ cho giai
12


cấp công nhân và quần chúng lao động về lý tưởng, mục tiêu của sự nghiệp
cách mạng nhằm xóa bỏ ách áp bức, bóc lột và nơ dịch của chủ nghĩa tư bản,
tiến tới xác lập quyền làm chủ xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động. Lý
luận, đó là những tri thức khoa học vũ trang cho giai cấp công nhân và quần
chúng lao động trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người,
giúp họ hành động tự giác, có tổ chức, nắm vững quy luật trong cách mạng
giành chính quyền và tổ chức xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.
2.1.2. Về nhiệm vụ của công tác lý luận và cán bộ lý luận
Đối với V.I.Lênin, công tác lý luận là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác
tư tưởng. Người viết: “Công tác lý luận của họ sẽ phải hướng vào việc nghiên
cứu cụ thể hết thảy mọi hình thức của sự đối kháng kinh tế ở nước Nga, vào
việc nghiên cứi những mối liên hệ và sự phát triển lơgic của các hình thức đó”

[1, tr.380]. Điều kiện kinh tế suy cho cùng có tính chất quyết định, do đó
nghiên cứu những lý luận về bản chất của kinh tế sẽ là tiền đề, là điều kiện để
giải quyết tốt những yêu cầu cách mạng đặt ra.
Một nhiệm vụ hết sức quan trọng của lý luận được V.I.Lênin nhấn
mạnh đó là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý luận, chống lại những phái
cơ hội, chống chủ nghĩa tự do, xét lại. Trong tác phẩm “Làm gì?” V.I.Lênin
viết: “Cần tiến hành đấu tranh tích cực chống “phái phê bình” hợp pháp, nó
đã làm trụy lạc đầu óc con người đến cùng cực” [4, tr.25]. Cũng trong tác
phẩm này, Người đã nêu ra quan điểm của C.Mác để lên án, phê phán những
kẻ “tìm cách làm giảm ý nghĩa của lý luận”, Người viết: “…nếu thực sự cần
phải liên hiệp thì cứ ký kết những thỏa hiệp nhằm đạt những mục tiêu thực
tiễn của phong trào, nhưng chớ có bn bán ngun tắc, chớ có “nhân
nhượng” về lý luận”.
V.I.Lênin đã nhận thức sâu sắc cuộc đấu tranh lý luận là một cuộc đấu
tranh hết sức gay gắt, trong cuộc đấu tranh này giai cấp tư sản đang tìm mọi
cách để thủ tiêu hệ thống lý luận tiến bộ, tìm cách phê phán, phủ nhận, bơi
nhọ, xun tạc dưới nhiều hình thức khác nhau. Để nhấn mạnh hơn tầm quan
13


trọng của lý luận trong cuộc đấu tranh này, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định quan
điểm của Ăngghen: “…cuộc đấu tranh vĩ đại của đảng dân chủ - xã hội không
chỉ có hai hình thức (chính trị và kinh tế)…mà có ba hình thức”, và xếp “hình
thức đấu tranh lý luận ngang với hai hình thức đấu tranh trên” [4, tr.32]. Như
vậy, kế thừa quan điểm của C.Mác – Ph.Ănghen, V.I.Lênin đã chứng minh
rằng “sức mạnh và sự vô địch” của lý luận, chính trị và kinh tế, trong đó lý
luận được coi là vũ khí tấn cơng sắc bén nhất.
Khơng chỉ nêu rõ nhiệm vụ của công tác lý luận đối với sự phát triển
của phong trào cách mạng, đối với cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – lý
luận; xuyên suốt trong các tác phẩm của mình, V.I.Lênin còn nhấn mạnh tới

nhiệm vụ của các nhà lý luận là phải phát triển công tác lý luận và vận dụng
nó vào thực tiễn cách mạng.
Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của các nhà lý luận là phải tổng
kết thực tiễn: “Chúng ta phải cố gắng theo kịp các sự kiện xảy ra, tổng kết lại,
rút ra các kết luận… Chúng ta phải làm công việc thường xuyên của các nhà
chính luận – Viết lịch sử hiện đại và cố gắng viết như thế nào để trang sử do
chúng ta viết ra có thể giúp đỡ đắc lực cho những người trực tiếp tham gia
phong trào” [6, tr.258]. Thực tiễn ln biến đổi khơng ngừng, địi hỏi các nhà
lý luận phải coi đây là công việc thường xuyên, cần phát triển lý luận cho phù
hợp với hoàn cảnh thực tế đất nước. Hơn nữa, phải phát triển lý luận ngang
tầm phong trào cách mạng: “Cao trào tự phát của quần chúng càng tăng lên và
phong trào càng mở rộng thì sự cần thiếtn có một ý thức cao trong cơng tác lý
luận, chính trị và tổ chức của đảng dân chủ - xã hội càng phải tăng lên vơ
cùng nhanh chóng hơn” [4, tr.67]. Trong thực tiễn cách mạng, những người
cán bộ lý luận phải ý thức rõ về mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận, chính trị
và tổ chức, coi đó là điều kiện đảm bảo sức sống và hiệu lực của công tác tư
tưởng. Đặc biệt trong bối cảnh phong trào cách mạng của quần chúng đang
phát triển, nhiệm vụ của những nhà tư tưởng phải giác ngộ cho họ ý thức về
mối quan hệ và thức tỉnh họ đấu tranh một cách tự giác.
14


Bản thân V.I.Lênin là một nhà lý luận, do đó Người luôn quan niệm
rằng phải thường xuyên bổ sung và phát triển lý luận, không thể đứng im hay
lùi lại so với thực tiễn đang diễn ra từng ngày, từng giờ. Người viết: “Chúng
ta không hề coi lý luận của C.Mác như là một cái gì đã xong xi hẳn và bất
khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho mơn
khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về
mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” [4, tr.232].
Với quan niệm này, V.I.Lênin đã khẳng định lý luận, dù là của các nhà kinh

điển cũng không phải là bất biến, là tuyệt đối mà cần bổ sung, phát triển và
hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện của thực tiễn. Để làm được cơng việc
đó, u cầu đối với cán bộ lãnh đạo – những người trực tiếp hoạch định
cương lĩnh, đường lối phải không ngừng học tập và nghiên cứu. Bàn về nội
dung này, V.I.Lênin viết: “Riêng đối với những người lãnh đạo, nhiệm vụ của
họ là phải học tập, ngày càng nhiều hơn, tất cả các vấn đề lý luận; phải tự giải
thoát, ngày càng nhiều hơn, khỏi ảnh hưởng của những câu cổ truyền của thế
giới quan cũ, và không bao giờ được quên rằng chủ nghĩa xã hội, từ khi đã trở
thành một khoa học, đòi hỏi phải được coi là một khoa học, nghĩa là phải
được nghiên cứu” [4, tr.34].
Trong lịch sử loài người, các giai cấp có hệ tư tưởng, thơng qua đội ngũ
các nhà tư tưởng và hệ thống các thiết chế tư tưởng tìm mọi cách tác động, chi
phối các quan hệ tư tưởng và quá trình tư tưởng nhằm biến hệ tư tưởng của
giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong đời sống tinh thần xã hội,
động viên, cổ vũ mọi thành viên trong xã hội tích cực hành động để xây dựng
và bảo vệ chế độ. Xuất phát từ thực tế đó, V.I.Lênin cũng đã nêu ra quan
điểm: lý luận do các nhà tư tưởng đại diện lợi ích giai cấp tạo ra. “Học thuyết
xã hội chủ nghĩa thì phát sinh ra từ các lý luận triết học, lịch sử, kinh tế do
những người có học thức trong các giai cấp hữu sản, những trí thức xây dựng
lên” [4, tr.38] hay “Ở nước Nga cũng thế, học thuyết lý luận của đảng xã hội –
dân chủ xuất hiện một cách hoàn toàn độc lập đối với sự phát triển của phong
15


trào cơng nhân; nó là kết quả tự nhiên, khơng tránh được của sự phát triển tư
tưởng trong số những nhà trí thức cách mạng xã hội chủ nghĩa” [4, tr.38-39].
Hệ tư tưởng ra đời là sự đúc kết từ hệ thống lý luận của các nhà tư tưởng đại
diện cho lợi ích giai cấp. Trong hệ tư tưởng và thông qua quan hệ tư tưởng,
giai cấp (với các nhà tư tưởng của chính mình) tự ý thức về nó trong xã hội có
giai cấp, mỗi người đều thuộc về một giai cấp nhất định, nhưng chỉ những

phần tử tiên tiến nhất, giác ngộ nhất về địa vị và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
mới là những thành viên nắm vững hệ tư tưởng giai cấp.
2.2. Quan điểm của V.I.Lênin về công tác tuyên truyền và cổ động
2.2.1. Khái niệm, vai trò tuyên truyền và cổ động
Theo V.I.Lênin, tuyên truyền với tư cách là một bộ phận cấu thành trong hoạt
động tư tưởng của đảng, có nghĩa là truyền bá và giải thích sâu sắc cho quần chúng
lạo động hiểu rõ lý luận của chủ nghĩa Mác và đường lối của đảng, trang bị cho quần
chúng những tri thức về sự phát triển của xã hội, và trên cơ sở đó, xây dựng niềm tin
vững chắc vào chủ nghĩa cộng sản, nâng cao tính tích cực sáng tạo của quần chúng
trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản.
Cổ động là kích thích quần chúng để đi đến những hành động tự giác và tính
tích cực để thực hiện đường lối, chính sách của đảng bằng cách giải thích những
nhiệm vụ mà đảng đề ra, các sự kiện trong nước và quốc tế, và những tấm gương
trong lao động và sản xuất. V.I.Lênin đã nói: “cơng tác cổ động quần chúng là một
địn bẩy lãnh đạo chính trị quan trọng của đảng đối với quần chúng. Nó thực hiện
những chức năng thơng tin - giải thích và động viên, đây là cơng tác khơng gì có thể
thay thế được”.
Khẳng định vai trị to lớn của cơng tác cổ động, V.I.Lênin nhấn mạnh: “...Sự
cải tạo mà chủng ta muốn tiến hành càng sâu sắc thì càng cần phải có hứng thú và
thái - độ tự giác đối với sự cải tạo đó, càng phải thuyết phục được thêm hàng triệu và
hàng chục triệu người tin tưởng vào sự cần thiết đó. Trong nhiều tác phẩm của mình,
V.I.Lênin đã xác định vai trị, vị trí cơng tác cổ động, tính chất, nội dung, nguyên tắc,
và các phương tiện, hình thức tiến hành công tác này, Người yêu cầu phải đi vào
16


phong trào quần chúng nhân dân “với tư cách là những nhà lý luận, người tuyên
truyền, người cổ động và người tổ chức”.
2.2.2. Nguyên tắc tuyên truyền và cổ động
Về nguyên tắc trong tuyên truyền và cổ động, V.I.Lênin đưa rạ hai nguyên tắc

tính khoa học và tính thực tiễn, dựa vào đó để xem xét phương hướng tư tưởng chính
trị và đánh giá chính xác hiệu quả cơng tảc tư tưởng, về tính khoa học trong tuyên
truyền, cổ động, V.I.Lênin đưa ra quan điểm: “Tài nghệ của mỗi một người tuyên
truyền và mỗi một người cổ động là ở chỗ ảnh hưởng một cách tốt nhất đến một
thính giả nhất định, làm cho một chân lý nào đó đối với họ trở nên có sức thuyết phục
mạnh nhất, dễ hiểu nhất, để lại những ấn tượng rõ ràng nhất, sâu sắc nhất”. Tính khoa
học thể hiện trước hết là chủ thể tuyên truyền phải gây ảnh hưởng đến một đối tượng
nhất định bằng những luận cứ, luận chứng khoa học, đảm bảo tính chân thực và phù
hợp với trình độ giác ngộ của đối tượng. Người tuyên truyền, cổ động phải kết hợp
được tính khoa học và nghệ thuật trong hoạt động của mình, phần ánh đúng hiện thực
mà tuyên truyền vô sản gây được niềm tin khoa học cho quần chúng, tạo cơ sở khách
quan để đập tan những luận điệu xuyên tạc, phản tuyên truyền cùa giai I cấp tư sản.
Một biểu hiện khác của tính khoa học là tính chân thực, cũng được Lênin đề cập tới
trong tác phẩm Bàn về nhiệm vụ của Quốc tế III.
Để đạt được hiệu quả công tác tư tưởng, trong tuyên truyền và cổ động nhất
thiết phải gắn với thực tiễn phong trào cách mạng, với cuộc sống để kịp thời phát
hiện những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, những kinh I nghiệm hay để tổng
kết và phổ biến nhân rộng, về vấn đề này, Lênin cũng nêu ra quan điểm cùa mình:
“Người cơng nhân kém giác ngộ nhất cũng hiểu được tư tưởng đó (đấu tranh chính
trị), cố nhiên với điều kiện là người cán bộ cổ động hay người cán bộ tuyên truyền
phải biết cách đến với anh ta để truyền cho anh ta tư tưởng ấy, trình bày với anh ta tư
tưởng ấy bằng những lời lẽ dễ hiểu và bằng cách dựa vào những sự việc trong đời
sống hàng ngày, những sự việc quen thuộc với anh ta”.
2.2.3. Nội dung, hình thức và phương tiện tuyên truyền và cổ động
Một trong những yếu tố quan trọng, quyết định thành công trong hoạt động
17


cơng tác tư tưởng đó là nội dung tun truyền, cổ động phải phù hợp với nhiệm vụ
từng giai đoạn cách mạng cụ thể. Khi chưa giành chính quyền, nội dung tuyên truyền

là: “tuyên truyền học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, là truyền bá trong công nhân
một quan niệm đúng đắn về chế độ xã hội và kinh tế hiện nay, về những cơ sở và sự
phát triển của chế độ đó, về các giai cấp khác nhau trong xã hội Nga, về mối quan hệ
giữa các giai cấp đó, về cuộc đấu tranh giữa những giai cấp đó với nhau, về vai trị
của giai cấp cơng nhân trong cuộc đấu tranh đó... về nhiệm vụ lịch sử của phong trào
dân chủ - xã hội quốc tế và của giai cấp công nhân Nga.
Cùng với việc lựa chọn phương pháp phù hợp, Người cũng cho rằng phương
tiện có tác dụng nhất đối với công tác tuyên truyền và cổ động lúc bấy giờ đó là sử
dụng báo chí như một công cụ đắc lực. Người viết; “một cuộc cổ động mà chúng ta
không thể tiến hành được nếu khơng có một tờ báo cho tồn nước Nga, xuất bản
thường kỳ và được phổ biến một cách đung đắn”. “Tờ báo không chỉ là người tuyên
truyền tập thể và người cổ động, mà lại còn là người tổ chức tập thể nữa”.
Để tiến hành công tác tư tưởng Đảng cần sử dụng nhiều hình thức và phương
tiện để tuyên truyền và cổ động, nhưng trong đó phải đặc biệt chú ý đến tuyên truyền
và cổ động bằng miệng vì nó thích nghi với mọi đối tượng, mọi hồn cảnh, khơng
gian và thời gian. Nó nối dài trí tuệ người tuyên truyền và cổ động, rút ngắn khoảng
cách giữa chủ thể và khách thể, cán bộ và đảng viên; tăng cường mối quan hệ tình
cảm dân - Đảng. V.I.Lênin cho rằng: “Dù phương tiện thơng tin đại chúng có hiện đại
đến đâu cũng không bỏ được tuyên truyền cổ động bằng miệng”. Đồng thời,
V.I.Lênin khẳng định “tuyệt đối cần tổ chức ngày càng nhiều và ngày càng rộng rãi
những hội nghị đảng viên, đi đôi với những biện pháp khác, nhằm phát huy tính chủ
động của các đảng viên.
2.2.4. Mối quan hệ giữa công tác tuyên truyền và cổ động
Không chỉ nhấn mạnh vai trò của lý luận đối với sự nghiệp cách mạng và đối
với công tác xây dựng đảng, trong các tác phẩm của mình V.I.Lênin cịn thể rõ sâu
sắc mối quan hệ giữa công tác tuyên truyền và cổ động, coi đó là bộ phận trọng yếu
trong công tác tư tưởng. Theo Người, tuyên truyền và cổ động có một cơ sở chung là
18



chủ nghĩa Mác, đều nhằm giải quyết một nhiệm vụ thống nhất là nâng cao ý thức
giác ngộ của quần chúng. Do đó, cơng tác tun truyền và cổ động phải có mối quan
hệ khăng khít, gắn bó chặt chẽ vói nhau: “Gắn liền khăng khít với cơng tác tun
truyền thì có cơng tác cổ động trong cơng nhân là công tác, đương nhiên; phải đặt lên
hàng đầu do những điều kiện chính trị hiện nay của nước Nga và do trình độ phát
triển của quần chúng cơng nhân”. Trong quan hệ với cơng tác cổ động thì tun
truyền đóng vai trò xây dựng cơ sở nhận thức, thái độ và xu hướng tình cảm, tạo điều
kiện để cổ động thúc đẩy hành động của con người. Tuyên truyền càng rộng rãi, sâu
sắc thi cổ động càng thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Tuyên truyền phải có khả năng
chuyển sang cổ động, tạo điều kiện cho cổ động đạt hiệu quả. Bên cạnh đó, VI.Lênin
cũng nhấn mạnh tuyên truyền phải gắn với cổ động : “Chỉ giải thích cho cơng nhân
hiểu họ bị áp bức về chính trị thì chưa đủ... Phải làm công tác cổ động mỗi khi có
biểu hiện cụ thể của sự áp bức ấy...”. Cổ động là khâu cuối cùng quyết định việc
chuyển hóa lý luận đã được nhận thức, niềm tin đã được xây dựng và củng cố thành
hành động cách mạng. Thiếu sự nối tiếp của cơng tác cổ động thì cơng tác lý luận và
tun truyền khơng đạt tới mục đích thực tiễn của mình. Ngược lại nếu chỉ có cơng
tác lý luận và tuyền truyền thi sẽ khơng hiện thực hóa được lý luận trong thực tiễn và
không khơi đậy được hành động tích cực trong quân chúng. Hơn nữa, do cơng tác cổ
động gắn bố chặt chẽ vói hoạt động của con người, với thực tiễn cách mạng cho nên
thông qua cơng tác cổ động, bằng kết quả của nó có thể kiểm nghiệm tính khoa học,
tính khả thi của lý luận và công tác tuyên truyền.
Tuyên truyền và cổ động cũng cỏ tính độc lập tương đối.
Sự khác nhau giữa hoạt động tuyên truyền và cổ động:
V.L Lênin, ngay từ thời kì trước cách mạng, đã chú ý đến những khác biệt
trong phương pháp công tác của người tuyên truyền và người cổ động.
V.I. Lênin đã chỉ rõ, “nếu như người tun truyền nói nhiều ý, trình bày
một cách sâu sắc bản chất và những nguyên nhân của một hiện tượng xã hội,
thì người cổ động sẽ lấy một ví dụ, một sự việc nào đó nổi bật nhất và được
thính giả biết rõ nhất nhằm chứng minh một ý, một tư tưởng quan trọng để
khêu gợi sự bất bình, sự phẫn nộ của quần chúng đối với sự bất công rõ rệt ấy

và kêu gọi họ đi đến hành động”.
19


Chương 3
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CÔNG TÁC TƯ
TƯỞNG Ở VIỆT NAM
3.1. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của Cơng tác tư tưởng
* Mục đích cơng tác tư tưởng và phương thức tác động để đạt mục đích
Mục đích cơng tác tư tưởng là sự phản ánh những kết quả mong muốn
đạt được của các quá trình tư tưởng, là sự dự báo trước về kết quả tương lai
của hoạt động tư tưởng.
Mục đích cơng tác tư tưởng là yếu tố cơ bản nhất có tính quyết định
trong hệ thống các yếu tố cấu thành công tác tư tưởng, do đó, nó là phạm trù
cơ bản nhất trong hệ thống các phạm trù của khoa học công tác tư tưởng. Mục
đích cơng tác tư tưởng quy định nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức
quá trình tác động tư tưởng, quy định tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá hiệu
quả công tác tư tưởng. Hiệu quả công tác tư tưởng cao hay thấp tùy thuộc vào
việc chủ thể cơng tác tư tưởng có xác định đúng đắn mục đích hay khơng, có
ý thức được đầy đủ vai trò quan trọng chiến lược của việc xác định mục đích
đối với việc giải quyết các nhiệm vụ của cơng tác tư tưởng hay không.
* Chức năng cơ bản của công tác tư tưởng
Chức năng của công tác tư tưởng mang tính khách quan và được quy
định bởi hệ tư tưởng và mục đích của cơng tác tư tưởng. Cơng tác tư tưởng có
các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng lý luận - tư tưởng
Chức năng cơ bản đầu tiên của công tác tư tưởng là nghiên cứu để đề
xuất lý luận - tư tưởng, hình thành, phát triển và bảo vệ lý luận đó.
Để thực hiện chức năng lý luận - tư tưởng, cần tập trung giải quyết các
vấn đề lớn sau đây: + Nghiên cứu, bảo vệ, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin

trong điều kiện mới. Khẳng định và làm rõ những nguyên lý cơ bản, xác định
những vấn đề cần nhận thức lại, cần bổ sung, điều chỉnh và phát triển chủ nghĩa
20


Mác - Lênin. Nghiên cứu tồn diện và có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
cùng với những tinh hoa trí tuệ của dân tộc, của thời đại.
+ Tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận cách mạng. Nâng
cao trình độ vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để
nghiên cứu những vấn đề về thời đại, về việc xác định mô hình và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, về đường lối đổi mới kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phịng, đối ngoại...
+ Nghiên cứu lý luận công tác tư tưởng nhằm nanag cao trình độ khoa
học của quá trình phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành
hoạt động tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thân của xã hội, nâng cao hiệu
quả hoạt động tư tưởng của Đảng, góp phần hồn thành tốt nhiệm vụ chính trị
trong mỗi thời kỳ cách mạng.
+ Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, bảo vệ và chống sự xuyên
tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh
chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội dưới mọi
màu sắc.
- Chức năng giáo dục - tư tưởng
Chức năng giáo dục - tư tưởng thể hiện qua các nội dung sau: + Giáo
dục lý luận, hình thành năng lực, trình độ, phương pháp tư duy lý luận.
+ Giáo dục thế giới quan, hình thành thế giới quan khoa học.
+ Giáo dục chính trị - tư tưởng, hình thành văn hóa chính trị.
+ Giáo dục lao động, hình thành thái độ mới đối với lao động.
+ Giáo dục kinh tế, hình thành văn hóa kinh tế.
+ Giáo dục đạo đức, hình thành văn hóa đạo đức.

+ Giáo dục hình thành khả năng “miễn dịch” của quần chúng đối với
ảnh hưởng của hệ tư tưởng thù địch, của các tư tưởng phản động, lạc hậu, đối
với phản tuyên truyền của các lực lượng phản cách mạng. Nội dung chức

21


năng này rất phong phú, đa dạng. Việc thực hiện chúng địi hỏi phải có quan
điểm tổng hợp.
- Chức năng nhận thức - học vấn
Để thực hiện chức năng này, cơng tác tư tưởng cần hồn thành các
nhiệm vụ sau: + Truyền bá cho nhana dân lao động những tri thức khoa học
(tự nhiên, xã hội), tri thức về lĩnh vực chính trị - xã hội, về những quy luật
vận động và phát triển xã hội bằng mọi phương pháp, phương tiện của công
tác tư tưởng.
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cần hướng chức năng này vào việc
truyền bá những kiến thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
về văn hóa, khoa học và công nghệ... phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
+ Góp phần nâng cao trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp cho người
lao động.
+ Bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp, kích thích sự sáng tạo, sự
say mê tìm tịi, khám phá, khơi dậy, cổ vũ sự ham hiểu biết của con người,
trước hết là của thế hệ trẻ.
- Chức năng tổ chức
Vận động, thuyết phục quần chúng, tập hợp quần tham gia xây dựng và
bảo vệ chế độ là mục đích của công tác tư tưởng. Cho nên, tổ chức là một
chức năng cơ bản của công tác tư tưởng. Nếu không thực hiện chức năng tổ
chức thì chức năng lý luận - tư tưởng và giáo dục - tư tưởng về cơ bản khơng
được thực hiện hóa và do đó, khơng có ý nghĩa thực sự.

- Chức năng phê phán
Thực hiện chức năng này, công tác tư tưởng hiện nay cần tập trung phê
phán những quan điểm tư tưởng sau đây: + Phê phán quán triệt và với thái độ
khách quan, biện chứng mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại
và mọi trào lưu tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của
giai cấp công nhân.
22


+ Phân tích, phê phán những tàn dư, ảnh hưởng của tư tưởng và hành vi lỗi
thời, lạc hậu còn rơi rớt trong xã hội, khơng cịn phù hợp với thực tiễn hiện nay.
+ Phê phán triệt để trên cơ sở làm rõ nguồn gốc và nội dung của những
biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong đời sống xã hội, những biểu hiện lệch lạc,
xa lạ, trái với quan điểm, đường lối của Đảng.
+ Đấu tranh chống mọi thủ đoạn “diễn biến hịa bình” mà kẻ địch đang
sử dụng để ráo riết chống lại chế đọ ta, âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa
mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng.
- Chức năng dự báo
+ Góp phần xác định quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.
Tham gia trực tiếp vào việc hoạch định đường lối cách mạng nói chung và các
quan điểm, đường lối, bước đi của sự nghiệp đổi mới hiện nay nói riêng.
+ Thông qua việc nắm tâm trạng quần chúng, nắm dư luận xã hội mà
dự báo khả năng thực thi các chủ trương, đường lối và đề xuất, bổ sung, điều
chỉnh chủ trương, kế hoạch cho phù hợp để hoạt động cách mạng thực tiễn đạt
được hiệu quả. Dự báo diễn biến và xu hướng vận động, biến đổi của tình
hình tư tưởng quần chúng dưới tác động của mơi trường xã hội và của công
tác tư tưởng.
+ Dự báo các khả năng chống phá tư tưởng của các thế lực thù địch và
diễn biến của cuộc đấu tranh tư tưởng để chủ động xây dựng kế hoạch cho
cuộc đấu tranh đó.

Các chức năng cơ bản trên của cơng tác tư tưởng nằm trong sự thống
nhất biện chứng, chúng tác động lẫn nhau và được thực hiện thông qua việc
sử dụng tổng hợp các phương tiện tác động tư tưởng, các hình thức, phương
pháp giáo dục tư tưởng, thơng qua hệ thống tổ chức và tất cả các cơ quan tư
tưởng trong toàn xã hội.
Các chức năng đều quan trọng như nhau vì mỗi chức năng giữ một vai
trị riêng, khơng thể thay thế được khi thực hiện mục đích công tác tư tưởng.
* Nhiệm vụ của công tác tư tưởng
23


×