TRƯỜNG
DƯƠNG
ĐẠI
HỌC
HẢI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
KHOA CƠ BẢN
Hải Dương, ngày 20 tháng 02 năm 2022
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN TRIẾT HỌC
Bậc: Đại học; Ngành: Công nghệ thông tin
Ca thi: S2. Ngày 07 tháng 02 năm 2022. Hình thức thi: Tiểu luận
I.
PHẦN LÝ THUYẾT
ĐỀ 1
Câu 1 (1 điểm). Logic học là gì? Trình bày đối tượng nghiên cứu và ý
nghĩa của việc nghiên cứu logic học.
1. Định nghĩa logic học
Thuật ngữ “logic” được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại “logos”. Logos được
hiểu với nhiều nghĩa khác nhau như: “từ”, “trí tuệ”, “tư tưởng”, “lập luận”,
“chân lý”, “lời nói”, “quy luật”…
Cho đến nay, thuật ngữ logic được hiểu theo ba cách sau đây:
Thứ nhất, logic là một trật tự của thế giới khách quan (do vật chất, sự vận động
của thế giới vật chất quyết định) hay là tính quy luật trong sự vận động và phát
triển của thế giới khách quan. Đây chính là logic khách quan hay logic của sự
vật.
Thứ hai, logic là một trật tự trong tư duy của con người (tư duy này phản ánh
thế giới khách quan) hay tính quy luật trong tư tưởng, trong lập luận. Đây chính
là logic chủ quan hay logic của tư duy.
Thứ ba, logic là một kỹ thuật tư duy hay logic là khoa học nghiên cứu về tư duy
tiếp cận chân lý. Đây chính là logic học.
Trong chương trình đào tạo dành cho sinh viên không phải chuyên ngành
khoa học Mác - Lênin, sinh viên tiếp cận logic với nghĩa thứ ba, nghĩa là tiếp
cận logic với tư cách là khoa học nghiên cứu về các quy luật và hình thức của tư
duy hướng vào việc nhận thức đúng đắn hiện thực.
Như vậy có thể nói: Logic học là khoa học nghiên cứu về các quy luật và hình
thức của tư duy hướng vào việc nhận thức đúng đắn hiện thực.
2. Phân loại logic học
Dựa theo các tiêu chí, cơ sở khác nhau, người ta có thể chia logic học ra
nhiều loại khác nhau. Căn cứ trên cơ sở quá trình phản ánh của nhận thức, triết
học Mác xít chia logic học thành hai loại: logic học hình thức và logic học biện
chứng.
Logic học hình thức là khoa học nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư
duy nhằm đảm bảo tính chính xác về mặt kết cấu logic của tư duy trong quá
trình nhận thức chân lý.
Logic học hình thức có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, logic học hình thức chú trọng nhiều đến tính chính xác về mặt
hình thức của tư tưởng, lập luận (các sơ đồ tư duy đúng).
Ví dụ, ta xét suy luận sau đây:
Mọi kẻ tiến hành chiến tranh (A) là hủy diệt sự sống (B).
Người Mỹ (C) tiến hành chiến tranh (A).
Vậy, Người Mỹ (C) là hủy diệt sự sống (B).
Suy luận trên có hình thức logic là:
Mọi A là B
C là A
Vậy, C là A
Đây là sơ đờ suy ḷn đúng, bởi vì nó tuân thủ mọi quy luật, quy tắc của
logic học hình thức. Cho nên, ta nói suy ḷn này hồn tồn đúng về mặt hình
thức lập ḷn (hợp logic).
Hai là, logic học hình thức là logic phản ánh thế giới trong sự đứng yên, trong
sự ổn định tương đối về chất mà không phản ánh sự vật, hiện tượng trong sự
vận động, phát triển, biến đổi của chúng, không xem xét sự vật, hiện tượng
trong mối quan hệ của chúng với các sự vật, hiện tượng khác. Trong một không
gian xác định, một thời gian xác định, một quan hệ xác định với những điều
kiện xác định, thì sự vật dưới góc độ của logic hình thức tờn tại ổn định, bất
biến, theo đó, khi tư duy về chúng, chúng ta phải xem chúng là không vận động,
không thay đổi.
Ví dụ, ở khái niệm “dân tộc Việt Nam”: mặc dù qua nhiều thời kỳ khác
nhau, dân tộc Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, nhưng khái niệm “dân tộc Việt
Nam” vẫn luôn luôn đồng nhất với chính nó, không có gì thay đởi.
Logic học biện chứng là khoa học nghiên cứu các hình thức và các quy luật của
tư duy khi tư duy phản ánh sự vật trong sự vận động biến đổi của nó nhằm đạt
tới chân lý.
Logic học biện chứng vừa là học thuyết về sự vận động phát triển của tư
duy, vừa là lý luận về sự phát triển lý thuyết khoa học. Nội dung của khái niệm
logic học biện chứng được hiểu rất rộng. Logic học biện chứng khơng chỉ là
khoa học về những hình thức và quy luật vận động của tư duy nhận thức sự vật
trong tính tất yếu của nó, trong những mối quan hệ toàn diện của nó, trong sự
vận động mâu thuẫn của nó, mà còn là logic nghiên cứu của khoa học.
Logic học biện chứng có một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, logic học biện chứng nghiên cứu các quy luật và thao tác của tư
duy trong trạng thái vận động, biến đổi. Một đối tượng khi được phản ánh nó
vừa là nó, lại vừa không phải là nó. Nghĩa là không gian thay đổi, thời gian thay
đổi, mối quan hệ thay đổi, sự vật đó không thể là nó trong mọi nơi mọi lúc nên
khái niệm, phán đoán và suy luận về nó cũng phải biến đổi theo.
Ví dụ, đối tượng X ở không gian S1, thời gian T1 thì nó X1, nhưng khi ở
khơng gian S2, thời gian T2 thì nó là X2.
Hai là, logic học biện chứng quan tâm chủ yếu đến nội dung của các khái
niệm, phán đoán, suy luận… của tư duy.
Ví dụ, trước suy luận “Mọi loài chim biết bay. Chim cánh cụt là một loài
chim. Vậy suy ra, chim cánh cụt biết bay”, logic học biện chứng xác định nội
dung của phán đoán “Mọi loài chim biết bay” là phán đoán sai, phán đoán này
không phù hợp với hiện thực khách quan, bởi vì trên thực tế có nhiều lồi chim
không biết bay. Từ hai tiền đề ấy mà có một tiền đề là sai sẽ dẫn đến kết luận
của suy luận là sai.
Như vậy, mỗi loại logic học đều phát hiện được những quy luật và hình
thức của tư duy phù hợp với hai trạng thái tồn tại của các sự vật, hiện tượng của
thế giới khách quan. Có thể nói, logic học hình thức là logic của trạng thái tĩnh,
còn logic học biện chứng là logic của trạng thái động hay logic của tư duy biện
chứng. “Logic học biện chứng không bác bỏ logic học hình thức, mà chỉ vạch ro
ranh giới của nó, coi nó như một hình thức cần thiết, nhưng không đầy đủ của tư
duy logic. Trong logic biện chứng, học thuyết về tồn tại và học thuyết về sự
phản ánh tồn tại trong ý thức liên quan chặt chẽ với nhau; logic biện chứng là
logic có tính chất nội dung…”.
3. Đối tượng nghiên cứu của logic học
Logic học bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của con người. Trong quá
trình lao động sản xuất, con người thu nhận được những kinh nghiệm, những
hiểu biết về thế giới khách quan và từ đó hình thành nhu cầu phải trao đổi kinh
nghiệm, truyền đạt hiểu biết cho người khác. Quá trình đó dần dần hình thành
một cách tự phát ở con người cách thức của sự suy nghĩ, những quy luật và hình
thức của tư duy. Khi đó, con người chưa có ý thức về các quy luật và hình thức
của tư duy, chưa có những quy tắc phán đoán, suy lý như một khoa học. Nhưng
trong quá trình hoạt động thực tiễn lặp đi, lặp lại nhiều lần, con người điều
chỉnh dần những quy tắc tư duy sao cho sự suy nghĩ phù hợp hơn với thế giới
khách quan, rút ra các suy lý, phán đoán.
Không phải chỉ có logic học mới nghiên cứu tư duy. Các khoa học khác
cũng nghiên cứu về tư duy như Triết học, Tâm lý học, Điều khiển học, Giáo dục
học, Sinh lý học thần kinh… Mỗi khoa học nghiên cứu tư duy ở một khía cạnh
xác định. Trong các ngành lấy tư duy làm đối tượng nghiên cứu gần nhất là triết
học và logic học. Nhiệm vụ cơ bản của logic học là làm sáng tỏ những điều kiện
nhằm đạt tới tri thức chân thực, phân tích kết cấu của quá trình tư tưởng, vạch ra
thao tác logic và phương pháp luận chuẩn xác.
Nhưng để nắm vững khoa học về tư duy phải hiểu được đối tượng của nó,
nắm chắc quá trình tư duy, các hình thức và quy luật của tư duy cũng như ý
nghĩa của logic học. Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét nhận thức là quá
trình ý thức của con người phản ánh hiện thực khách quan tờn tại bên ngồi và
khơng phụ thuộc vào ý thức. Thừa nhận thế giới bên ngoài và phản ánh thế giới
đó vào đầu óc con người là cơ sở của lý luận nhận thức của triết học duy vật
biện chứng.
Nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não của
con người, quá trình đó diễn ra “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”.
Trực quan sinh động (hay còn gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính) là giai đoạn
xuất phát của quá trình nhận thức. Nhận thức cảm tính diễn ra dưới ba hình thức
cơ bản: Cảm giác, tri giác và biểu tượng. Những hình ảnh do nhận thức cảm tính
đem lại là nguồn gốc duy nhất cho sự hiểu biết của chúng ta về thế giới bên
ngoài. Tuy nhiên, nhận thức cảm tính mới chỉ cung cấp cho ta tri thức về những
biểu hiện bề ngoài của sự vật. Để có thể phát hiện ra những mối liên hệ nội tại
có tính quy luật của chúng, cần phải tiến đến tư duy trừu tượng (giai đoạn nhận
thức lý tính) với các hình thức cơ bản: khái niệm, phán đoán, suy luận. Với tư
duy trừu tượng, con người chuyển từ nhận thức hiện tượng đến nhận thức bản
chất, từ nhận thức cái riêng đến nhận thức cái chung, từ nhận thức các đối tượng
riêng đến nhận thức mối liên hệ và các quy luật phát triển của chúng. Tư duy
trừu tượng là giai đoạn cao của quá trình nhận thức.
Tóm lại, logic học là khoa học nghiên cứu về các hình thức của tư duy
(khái niệm, phán đoán, suy luận), các quy luật của tư duy (quy luật đồng nhất,
quy luật cấm mâu thuẫn, quy luật loại trừ cái thứ ba, quy luật lý do đầy đủ) và
nghiên cứu về các nguyên tắc chung của tư duy đúng đắn.
4. Các phương pháp nghiên cứu logic học
Với tư cách là một khoa học về tư duy, logic học là một bộ phận của triết
học, nó thuộc khoa học triết học. Vì vậy, để nghiên cứu và nắm vững nội dung
môn logic học, cần phải vận dụng các phương pháp nhận thức biện chứng như
các phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch,
đi từ trừu tượng đến cụ thể… Đồng thời, phải sử dụng các phương pháp khác
như: hệ thống - cấu trúc, so sánh, thống kê, các phương pháp toán học.
Logic học là môn học liên quan đến một số khoa học cụ thể như toán học,
ngôn ngữ học, tâm lý học, sinh lý thần kinh, điều khiển học, tin học… Vì vậy,
con người cần phải theo doi, nắm bắt những thành tựu trong các lĩnh vực khoa
học trên và biết sử dụng các phương pháp liên ngành và chuyên ngành trong
nghiên cứu môn logic học.
Câu 2 (1,5 điểm). Phân tích nội dung, yêu cầu của Quy luật đồng nhất,
viết công thức chung và lấy VD minh họa.
a. Nội dung quy luật đồng nhất
Quy luật đồng nhất được phát biểu như sau:
Một tư tưởng (khái niệm, phán đoán…) khi đã định hình, phải ln là
chính nó trong một q trình tư duy.
Hay có thể định nghĩa như sau: “Một sự vật phải luôn là chính nó”.
Quy luật đồng nhất phản ánh tính xác định, tính ổn định của tư duy. Điều
này có nghĩa là trong quá trình hình thành của mình, một tư tưởng (khái niệm,
phán đoán, lý thuyết, giả thuyết…) có thể thay đởi, nhưng khi đã hình thành
xong thì không được thay đổi nữa.
b. Yêu cầu của quy luật đồng nhất
Nội dung của quy luật đồng nhất có thể được diễn giải cụ thể hơn thông
qua những yêu cầu sau:
Yêu cầu thứ nhất, một từ chỉ được dùng trong suy luận với một nghĩa duy
nhất. Không được phép dùng một từ hoặc một biểu thức ngôn ngữ nói chung lúc
thì với nghĩa này, lúc thì với nghĩa khác trong cùng một quá trình suy luận.
Trong cùng một quá trình suy ḷn thì một khái niệm, một tư tưởng… khơng
được thay đởi nội dung của mình. Nếu một tư tưởng xuất hiện nhiều lần trong
một quá trình tư duy thì tất cả những lần xuất hiện đó phải có cùng một nội
dung, phải có giá trị chân lý như nhau.
Ví dụ, có người thanh niên dạo chơi trong công viên và gặp một em bé
cùng đi với người mẹ trẻ, đẹp. Thanh niên này liền làm quen với hai mẹ con.
Một lúc sau, người thanh niên đề nghị với em bé:
- Này cháu, cho chú hôn má cháu nhé!
Em bé trả lời:
- Chú muốn hôn bao nhiêu và hôn kiểu gì cũng được!
Thanh niên này quay sang người mẹ trẻ hỏi:
Chị ạ! Tôi đã xin hôn má cháu, cháu nói hơn bao nhiêu và hơn kiểu gì
cũng được, ý chị thế nào?”
Người mẹ trả lời:
- Cháu đã đờng ý thì anh cứ việc!
Thanh niên này lập tức hôn “má” cháu mà không hề hôn má cháu. Người
mẹ trẻ đã phản ứng bằng hành động nhưng không thể phản ứng bằng lý lẽ.
Yêu cầu thứ hai, những từ ngữ khác nhau nhưng có nội dung như nhau,
những tư tưởng tương đương với nhau về mặt logic, nghĩa là bao giờ cũng có
giá trị chân lý như nhau, phải được đồng nhất với nhau trong quá trình suy luận.
Vi phạm yêu cầu này, ta sẽ không rút ra được thông tin cần thiết.
Ví dụ, người ta cho biết rằng, tác giả Truyện Kiều là người làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và hỏi quê quán của nhà thơ Nguyễn Du.
Nếu ta không đồng nhất nhà thơ Nguyễn Du với tác giả Truyện Kiều thì ta
khơng thể trả lời được cho câu hỏi này và ta cũng khơng thể suy ḷn được.
Vì tư duy phản ánh hiện thực khách quan nên thông qua quy luật đồng
nhất của tư duy ta thấy có ba loại đồng nhất khác nhau:
Một là, đồng nhất tư tưởng với tư tưởng.
Hai là, đồng nhất tư tưởng với đối tượng trong hiện thực.
Ba là, đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực.
Cần lưu ý rằng ở đây thông qua sự đồng nhất tư tưởng với tư tưởng ta
mới có thể đồng nhất đối tượng trong hiện thực với đối tượng trong hiện thực.
Điều này làm cho phạm vi ứng dụng của quy luật này được mở rộng hơn nhiều.
Quy luật đồng nhất là quy ḷt vơ cùng quan trọng của logic hình thức.
Nếu như các quy luật khác có thể đúng trong một số hệ logic hình thức và
khơng đúng trong một số hệ logic hình thức khác thì cho đến nay chưa ai xây
dựng được hệ logic hình thức nào có giá trị mà trong đó quy luật đồng nhất
không đúng.
Sau đây là một số trường vi phạm luật đồng nhất:
Trường hợp thứ nhất, vi phạm quy luật đồng nhất khi sử dụng từ đồng âm
nhưng khác nghĩa như sau:
“Bà già đi chợ Cầu Đông.
Bói xem một vẻ có chồng lợi chăng.
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng chẳng còn”.
Ở đây, cùng một chữ “lợi” nhưng được hiểu hai nghĩa khác nhau.
Trường hợp thứ hai, vi phạm quy luật đồng nhất khi dịch văn bản từ tiếng
Pháp sang tiếng Việt nhưng không còn nguyên ý nghĩa bản gốc như sau:
Có câu tiếng Pháp sau: “Mon père est mort il y a une semaine, dit-elle.
Un cancer de l'intestin”.
Có người đã dịch sang tiếng Việt là: “Bố em chết cách đây một tuần”,
nàng nói. “Ung thư tử cung”.
Câu dịch đúng phải là: “Bố em chết cách đây một tuần”, nàng nói. “Ung
thư đường ruột”.
Trường hợp thứ ba, vi phạm quy luật đờng nhất khi thay đởi ḷn đề trong
quá trình lập ḷn như sau: Ơng A và ơng B đã tranh luận về chủ đề: “Thế nào
là vẻ vang?”.
Ông A: Ôi dào, vẻ với chẳng vang. Tôi cho rằng có tiền thì vẻ vang,
khơng tiền thì đừng nói tới vẻ vang, thật đơn giản. Có tiền mới làm được việc,
không tiền thì chẳng làm được gì cả. Cậu cứ vào quày hàng mà mua đi, thiếu
một xu thì đừng có mà mua. Mà vào rạp chiếu phim, thiếu một hào cũng đừng
nghĩ đến chuyện vào làm gì.
Ơng B: Lý do cậu nêu ra khơng nói lên được có tiền thì vẻ vang, chỉ nói
lên cái tác dụng của đờng tiền…
Ơng A: Tiền đương nhiên là có tác dụng rồi! Có tiền thì sai khiến được cả
ma quỷ kéo cối xay!
Ơng B: Cái đó tớ không đồng ý! Trên thế giới làm gì có ma quỷ, vậy thì
làm sao có thể nói tới việc sai ma quỷ kéo cối xay?
Ông A: Ai bảo không có ma quỷ? Nếu không có ma quỷ thì sao xưa nay
trong nước ngồi nước bao người nói về ma quỷ?”.
Như vậy, ông A và ông B từ tranh luận chủ đề “Thế nào là vẻ vang” đã
chuyển sang tranh luận chủ đề “Có ma quỷ hay không có ma quỷ”.
c. Công thức chung của quy luật đồng nhất
Nếu ký hiệu A là tư tưởng bất kỳ thì quy luật này được hình thức hóa như
sau:
A≡A
Đọc là: “A đồng nhất với A” hay “A là A”
Giá trị logic của quy luật được xác định như bảng sau:
A
A
A≡A
Đ
Đ
Đ
S
S
Đ
d. Ý nghĩa của quy luật đồng nhất
Một là, nghiên cứu quy luật này sẽ giúp cho tư duy của chúng ta chính
xác, mạch lạc, ro ràng; tự giác hơn khi chọn từ, xác định khái niệm… trong quá
trình lập luận.
Hai là, nghiên cứu và nắm vững quy luật đồng nhất giúp chúng ta phát
hiện ra sự ngụy biện, thủ thuật vi phạm các yêu cầu của quy luật đồng nhất.
Ba là, vận dụng các quy luật đồng nhất có thể tạo ra những câu chuyện
cười hóm hỉnh bằng cách cho nhân vật vi phạm các yêu cầu của quy ḷt đờng
nhất một cách ngây thơ; hoặc tạo tình huống để người đọc, người nghe, người
xem tự vi phạm các yêu cầu của quy luật đồng nhất.
Câu 3 (1,5 điểm). Trình bày các loại phán đoán đơn cơ bản. Lấy VD.
1. Phán đoán đơn
Phán đoán đơn là phán đoán chỉ có một cụm chủ vị (chỉ có một chủ từ và
một vị từ), nó được tạo thành từ sự liên kết hai khái niệm lại với nhau.
Ví dụ, từ hai khái niệm “kim loại” và “dẫn điện” ta có thể liên kết hai
khái niệm này để tạo ra một phán đoán như sau: “Mọi kim loại đều dẫn điện”.
Các dạng phán đoán đơn cơ bản:
Mọi phán đoán đều phản ánh tính chất hay mang đặc trưng chất (khẳng
định hay phủ định) và số lượng (chung hay riêng) của đối tượng được bao hàm
trong chủ từ S. Căn cứ vào chất và lượng của phán đoán như trên, người ta chia
phán đoán đơn thuộc tính làm bốn loại cơ bản:
- Phán đốn khẳng định chung (tồn thể) là phán đốn vừa khẳng định
về chất, vừa chung về lượng.
Ký hiệu của phán đoán khẳng định chung: A.
Hình thức logic của phán đoán khẳng định chung là: “Tất cả S là P” hoặc
“S là P”.
Ví dụ, “Mọi người đều phải chết”, “Tất cả trùm mua bán ma túy là người
xấu”, “Bác Hồ là Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Aristote là nhà tư tưởng thiên tài
thời cổ đại”...
- Phán đốn khẳng định riêng (bợ phận) là phán đoán vừa khẳng định
về chất, vừa là riêng về lượng.
Ký hiệu của phán đoán khẳng định riêng: I.
Hình thức logic của phán đoán khẳng định riêng là: “Một số S là P”.
Ví dụ, “Một số động vật sống dưới nước”, “Một số sinh viên là người
Bình Dương”…
- Phán đốn phủ định chung (tồn thể) là phán đốn vừa phủ định về
chất, vừa là chung về lượng.
Ký hiệu của phán đoán phủ định chung: E.
Hình thức logic của phán đoán phủ định chung là: “Tất cả S Không là P”
hay “S không là P”.
Ví dụ, “Mọi người không nghiện rượu”, “Hegel khơng phải là nhà triết
học duy vật”...
- Phán đốn phủ định riêng (bợ phận) là phán đốn vừa phủ định về
chất, vừa là riêng về lượng.
Ký hiệu của phán đoán phủ định riêng: O.
Hình thức logic của phán đoán phủ định bộ phận là: “Một số S không là
P”.
Ví dụ, “Một số công nhân không phải là công nhân xây dựng”, “Đa số
sinh viên khơng sử dụng ma túy”...
Tính chu diên và quan hệ giữa các thuật ngữ (S, P) trong phán đoán
đơn cơ bản:
Khi tiến hành các thao tác logic đối với các phán đoán đơn cơ bản, chúng
ta cần tính chu diên của các thuật ngữ (S và P).
Tính chu diên của các thuật ngữ S (chủ từ), P (vị từ) trong phán đoán đơn
cơ bản là sự xác định ngoại diên của chủ từ (S), vị từ (P) có được thể hiện đầy
đủ hay không đầy đủ và xác định mối quan hệ giữa ngoại diên của chủ từ (S)
với ngoại diên của vị từ (P) khi ta tiến hành các thao tác logic trên các phán
đoán.
Thuật ngữ (S, P) được gọi là chu diên (Ký hiệu là dấu +) khi thuật ngữ
(S, P) có ngoại diên đầy đủ trong phán đoán.
Thuật ngữ (S, P) được gọi là không chu diên (Ký hiệu là dấu -) khi thuật
ngữ S, P có ngoại diên khơng đầy đủ trong phán đốn.
Hay chúng ta có thể hiểu theo cách khác: Thuật ngữ được gọi là chu diên
nếu trong phán đoán nói về tất cả các đối tượng được bao hàm trong thuật ngữ
này. Thuật ngữ được gọi là không chu diên nếu trong phán đoán chỉ đề cập đến
một số đối tượng được bao hàm trong thuật ngữ này.
Từ định nghĩa trên, ta có thể kết luận về tính chu diên của chủ từ (S) và vị
từ (P) trong các phán đoán đơn cơ bản A, E, I, O như sau:
Phán đoán
A
E
I
O
Thuật ngữ
Chủ từ (S)
+
+
+
Vị từ (P)
+
+
+
+
+
Tổng hợp tính chu diên, quan hệ giữa chủ từ (S) và vị từ (P) trong các
phán đoán đơn cơ bản A, E, I, O, ta có:
- Phán đoán khẳng định chung (A) có hai trường hợp:
Một là, khi chủ từ S chu diên (S +), vị từ P khơng chu diên (P -) thì S và P có quan
hệ bao hàm (Ngoại diên của P bao hàm ngoại diên của S).
PS+
Ví dụ, “Tê giác là loài động vật có nguy cơ bị diệt chủng”.
S+ P+
Hai là, khi chủ từ S chu diên (S +), vị từ P chu diên (P +) thì S và P có quan
hệ đồng nhất (Ngoại diên của S và P đồng nhất).
Ví dụ, “Bác Hờ là Hờ Chí Minh”.
- Phán đốn khẳng định riêng (I) có hai trường hợp:
Một là, khi chủ từ S không chu diên (S -), vị từ P khơng chu diên (P -) thì S
và P có quan hệ giao nhau (Ngoại diên của S và P giao nhau).
SP-
Ví dụ, “Nhiều sinh viên trường đại học Thủ Dầu Một là người Bình
Phước”.
Hai là, khi chủ từ S không chu diên (S -), vị từ P chu diên (P+) thì S và P
có quan hệ bao hàm (Ngoại diên của S bao hàm ngoại diên của P).
SP+
Ví dụ, “Một số sinh viên là sinh viên tiên tiến”.
- Phán đoán phủ định chung (E) chỉ có một trường hợp:
S+
Chủ từ S chu diên (S+), vị từ P chu diên (P+), quan hệ giữa S và P là quan
hệ tách rời (Ngoại diên của S tách rời ngoại diên của P).
P+
Ví dụ, “cá không là động vật sống trên cạn”.
- Phán đoán phủ định riêng (O) có hai trường hợp:
Một là, khi chủ từ S không chu diên (S-), vị từ P chu diên (P+), S với P
không có quan hệ giống lồi với nhau thì S với P có quan hệ giao nhau (Ngoại
diên của S và P giao nhau).
SP+
Ví dụ: “Nhiều sinh viên trường Đại học Sư phạm khơng là người Bình
Phước”.
Hai là, khi chủ từ S khơng chu diên (S -), vị từ P chu diên (P +), S với P có
quan hệ giống loài với nhau (S là khái niệm giống, P là khái niệm loài) thì S với
P có quan hệ bao hàm.
SP+
Ví dụ: “Một số sinh viên không là sinh viên tiên tiến”.
BẢNG TÍNH CHU DIÊN VÀ QUAN HỆ CỦA S, P TRONG PHÁN ĐOÁN ĐƠN CƠ BẢN
Phán
đoán
Ky
hiệu
Cấu trúc
logic
Khẳng
định
chung
A
Mọi S là P;
S là P
Tính chu diên S, P
S+
P+
Mối quan hệ giữa S và P
S
Phủ định
chung
Khẳng
định
riêng
Phủ định
riêng
E
I
O
Mọi S
không là P
+
P
-
S+
P+
S-
P-
Một số S
là P
Một số S
khơng là P
S+
SS-
S-
P+
-
+
S
S-
P
P+
S-
S-
Quan hệ giữa các phán đốn đơn cơ bản trong “hình vng logic”:
Hình vng logic là hình vng mà ở tại các đỉnh là các phán đoán A, I,
E, O có cùng chủ từ và vị từ, còn các cạnh và các đường chéo thể hiện mối
quan hệ giữa các phán đoán đó.
Ví dụ, từ chủ từ “sinh viên” và vị từ “sinh viên sống ở nông thôn”, ta có
bốn phán đoán đơn cơ bản A, I, E, O như sau:
Phán đoán A: Tất cả sinh viên sống ở nông thôn.
Phán đoán I: Một số sinh viên sống ở nông thôn.
Phán đoán E: Tất cả sinh viên không sống ở nông thôn.
Phán đoán O: Một số sinh viên không sống ở nông thôn.
Phụ thuộc
Đối lập chung
Phụ thuộc
Quan hệ giữa các phán đoán đơn cơ bản A, I, E, O được thể hiện qua
“Hình vng logic” hay “Bàn cờ logic”.
Đối lập riêng
Để làm ro cụ thể mối quan hệ giữa các phán đơn cơ bản A, I, E, O trong
“hình vng logic”, ta phải sử dụng ít nhất ba cặp chủ từ và vị từ khác nhau để
xây dựng ba bộ phán đoán đơn cơ bản như sau:
Thứ nhất, từ cặp chủ từ “người” và vị từ “chết”, ta xây dựng được bộ
phán đoán thứ nhất như sau:
Phán đoán A1: Tất cả người rồi sẽ chết.
Phán đoán I1: Một số người rồi sẽ chết.
Phán đoán E1: Mọi người không chết.
Phán đoán O1: Một số người không chết.
Thứ hai, từ cặp chủ từ “sinh viên” và vị từ “nghiện rượu”, ta xây dựng
được bộ phán đoán thứ hai:
Phán đoán A2: Tất cả sinh viên đều nghiện rượu.
Phán đoán I2: Một số sinh viên là nghiện rượu.
Phán đoán E2: Tất cả sinh viên không nghiện rượu.
Phán đoán O2: Một số sinh viên không nghiện rượu.
Thứ ba, từ cặp chủ từ “con người” và vị từ “bất tử”, ta xây dựng được bộ
phán đoán thứ ba:
Phán đoán A3: Tất cả con người đều bất tử.
Phán đoán I3: Một số con người là bất tử.
Phán đoán E3: Mọi con người không bất tử.
Phán đoán O3: Một số con người không bất tử.
Đối với các phán đoán có cùng chủ từ và vị từ như vậy, tồn tại bốn loại
quan hệ khác nhau: Quan hệ mâu thuẫn, quan hệ đối lập chung, quan hệ đối lập
riêng và quan hệ phụ thuộc.
- Quan hệ mâu thuẫn.
Quan hệ mâu thuẫn là quan hệ giữa các phán đoán không cùng chất và
không cùng lượng.
Quan hệ mâu thuẫn tồn tại ở hai cặp phán đoán: A với O; I với E. Trong
quan hệ mâu thuẫn, nếu phán đoán này đúng hoặc sai thì phán đoán mâu thuẫn
với nó sẽ có giá trị là sai hoặc đúng và ngược lại.
Phán đoán A có giá trị đúng a Phán đoán O có giá trị sai
Phán đoán A có giá trị sai a Phán đoán O có giá trị đúng
Phán đoán O có giá trị đúng a Phán đoán A có giá trị sai
Phán đoán O có giá trị sai a Phán đoán A có giá trị đúng
Phán đoán E có giá trị đúng a Phán đoán I có giá trị sai
Phán đoán E có giá trị sai a Phán đoán I có giá trị đúng
Phán đoán I có giá trị đúng a Phán đoán E có giá trị sai
Phán đoán I có giá trị sai a Phán đoán E có giá trị đúng
- Quan hệ đối lập chung.
Quan hệ đối lập chung là quan hệ giữa hai phán đoán chung có cùng chủ
từ, vị từ và có chất trái ngược nhau.
Quan hệ đối lập chung tồn tại ở cặp phán đoán A với E. Trong quan hệ
đối lập chung, hai phán đoán này không cùng đúng, nhưng có thể cùng sai, ít
nhất một trong hai phán đoán đó có giá trị sai, nếu biết một trong hai phán đoán
có giá trị đúng thì chắc chắn phán đoán còn lại có giá trị sai.
Phán đoán A có giá trị đúng a Phán đoán E có giá trị sai
Phán đoán A có giá trị sai a Phán đoán E có giá trị đúng hoặc sai
Phán đoán E có giá trị đúng a Phán đoán A có giá trị sai
Phán đoán E có giá trị sai a Phán đoán A có giá trị đúng hoặc sai
- Quan hệ đối lập riêng.
Quan hệ đối lập riêng là quan hệ giữa hai phán đoán riêng có cùng chủ từ,
vị từ và có chất trái ngược nhau.
Quan hệ đối lập riêng tồn tại ở cặp phán đoán I với O. Trong quan hệ đối
lập riêng, hai phán đoán này không cùng sai, nhưng có thể cùng đúng, ít nhất
một trong hai phán đoán đó có giá trị đúng, nếu biết một trong hai phán đoán có
giá trị sai thì chắc chắn phán đoán còn lại có giá trị đúng.
Phán đoán I có giá trị sai a Phán đoán O có giá trị đúng
Phán đoán I có giá trị đúng a Phán đoán O có giá trị đúng hoặc sai
Phán đoán O có giá trị sai a Phán đoán I có giá trị đúng
Phán đoán O có giá trị đúng a Phán đoán I có giá trị đúng hoặc sai
- Quan hệ phụ thuộc.
Quan hệ phụ thuộc là quan hệ giữa các phán đoán có cùng chất nhưng
không cùng lượng.
Quan hệ phụ thuộc tồn tại ở hai cặp phán đoán là: A với I; E với O. Trong
quan hệ phụ thuộc: Nếu phán đoán chung là đúng thì phán đoán riêng sẽ đúng;
Nếu phán chung là sai thì giá trị của phán đoán riêng là không xác định; Nếu
phán đoán riêng có giá trị sai thì phán đoán chung cũng có giá trị sai: Nếu phán
đoán riêng có giá trị đúng thì giá trị của phán đoán chung là không xác định.
Phán đoán A có giá trị đúng a Phán đoán I có giá trị đúng
Phán đoán A có giá trị sai a Phán đoán I có giá trị đúng hoặc sai
Phán đoán I có giá trị sai a Phán đoán A có giá trị sai
Phán đoán I có giá trị đúng a Phán đoán A có giá trị đúng hoặc sai
Phán đoán E có giá trị đúng a Phán đoán O có giá trị đúng
Phán đoán E có giá trị sai a Phán đoán O có giá trị đúng hoặc sai
Phán đoán O có giá trị sai a Phán đoán E có giá trị sai
Phán đoán O có giá trị đúng a Phán đoán E có giá trị đúng hoặc sai
Để thể hiện đầy đủ các loại quan hệ giữa các phán đoán đơn trong “hình
vng logic”, ta có thể khái quát bằng hình vẽ dưới đây:
S
S
Đ
Đ
S
S
S
Đ
Đ
S
E
A
S
S
Đ
Đ
Đ
S
S
S
S
Đ
S
Đ
Đ
S
S
Đ
S
Đ
Đ
S
Đ
S
S
S
Đ
Đ
Đ
S
S
Đ
Đ
S
S
Đ
Đ
Đ
O
I
2. Phán đoán phức
S
Đ
Đ
S
Đ
S
S
Đ
Đ
Đ
Trong quá trình tư duy, khơng phải lúc nào người ta cũng sử dụng các
phán đoán đơn độc lập mà thông thường phải sử dụng sự liên kết các phán đoán
đơn lại với nhau để diễn đạt nội dung của tư tưởng. Sự liên kết các phán đoán
đơn đó sẽ hình thành nên phán đoán phức.
Phán đoán phức là phán đoán được tạo thành từ hai hay nhiều phán đoán
đơn nhờ sử dụng các liên từ logic.
Ví dụ, “Nếu mọi người khơng tn thủ pháp ḷt thì xã hội sẽ loạn”. Đây
là một phán đoán phức, bởi vì phán đoán này được tạo thành từ hai phán đoán
đơn: “mọi người không tuân thủ pháp luật” và “xã hội sẽ loạn”. Hai phán đoán
đơn này được liên kết với nhau bởi liên từ logic “nếu…thì…”.
Các phán đoán đơn hợp thành phán đoán phức được gọi là các phán đoán
thành phần.
Phân loại phán đoán phức
Ở trong các phán đoán phức, cái làm nên sự khác nhau cơ bản về nội dung, ý
nghĩa và giá trị giữa các phán đoán phức chính là cách thức liên kết giữa các
phán đoán đơn thành phần. Cách thức liên kết này được quy định bởi các liên từ
logic. Vì vậy, người ta dựa vào các liên từ logic để phân chia phán đoán phức ra
thành các loại cơ bản sau đây:
a. Phán đoán phức liên kết (phán đốn phức hợi)
Phán đoán phức liên kết là phán đoán phức được tạo thành từ các phán
đoán đơn nhờ phép toán hội.
Trong ngôn ngữ tự nhiên, phép toán này được biểu thị bằng các từ hay
cụm từ: “và”, “….vừa là…vừa là”, “đồng thời”, “nhưng”, “mà”, “song”, “vẫn”,
dấu phảy…
Ký hiệu của phép hội: ˄
Ví dụ, “Giáo viên là người phải có năng lực sư phạm và đạo đức tốt”.
Đây là phán đoán liên kết vì nó được tạo thành hai phán đoán đơn “Giáo
viên là người phải có năng lực sư phạm” và “Giáo viên là người phải có đạo đức
tốt”.
Bảng giá trị logic (bảng giá trị chân lý) của phán đoán phức liên kết:
A
B
A˄ B
Đ
Đ
Đ
Đ
S
S
S
Đ
S
S
S
S
Như vậy, ta thấy giá trị logic của phán đoán phức liên kết chỉ đúng khi các phán
đoán đơn thành phần đều đúng, các giá trị logic còn lại của phán đoán phức liên
kết có giá trị sai.
b. Phán đoán phức lựa chọn (phán đoán phức tuyển)
Phán đoán lựa chọn là phán đoán phức được tạo thành từ các phán đoán
đơn nhờ phép toán tuyển.
Trong ngôn ngữ tự nhiên, phép toán này được biểu thị bằng các từ hay
cụm từ “hay”, “hay là”, “hoặc”, “hoặc là” và các cấu trúc ngôn ngữ tương
đương khác.
Phán đoán lựa chọn được chia ra làm hai loại:
Một là, phán đốn phức lựa chọn tương đới hay phán đốn phức tuyển
tương đối (phép tuyển yếu).
Phán đoán phức lựa chọn tương đối là phán đoán phức mà trong đó thể
hiện quan hệ lựa chọn tồn tại giữa các phán đoán thành phần, nhưng sự tồn tại
của một phán đoán thành phần này không loại trừ sự tồn tại của các phán đoán
thành phần khác.
Ký hiệu của phép tuyển yếu: “˅”.
Ví dụ, “Bạn Hà học giỏi do thông minh hoặc chăm chỉ”; “Lợi nhuận của
doanh nghiệp tăng nhờ nâng cao năng suất lao động hoặc giảm các chi phí sản
xuất”.
Bảng giá trị logic của phán đoán phức lựa chọn tương đối:
A
B
A˅B
Đ
Đ
Đ
Đ
S
Đ
S
Đ
Đ
S
S
S
Như vậy, ta thấy giá trị logic của phán đoán phức lựa chọn tương đối chỉ đúng
khi có ít nhất một phán đoán đơn thành phần là đúng, giá trị logic còn lại của
phán đoán phức lựa chọn tương đối có giá trị sai.
Hai là, phán đoán phức lựa chọn tụt đới hay phán đốn phức tuyển
tụt đới (phép tuyển mạnh).
Phán đoán phức lựa chọn tuyệt đối là phán đoán phức trong đó thể hiện
quan hệ lựa chọn tồn tại giữa các phán đoán thành phần, trong đó chỉ có một
phán đoán thành phần là tồn tại và sự tồn tại của nó loại trừ sự tồn tại của các
phán đoán thành phần khác.
Ký hiệu của phép tuyển mạnh: ˅
Ví dụ 1, “Đúng 7 giờ sáng ngày mai, hoặc ông Bình sẽ có mặt tại Vịnh Hạ
Long hoặc ơng Bình sẽ có mặt tại Vũng Tàu”.
Bảng giá trị logic của phán đoán phức lựa chọn tuyệt đối:
A
B
A˅ B
Đ
Đ
S
Đ
S
Đ
S
Đ
Đ
S
S
S
Ví dụ 2, “Trong tam giác ABC hoặc góc A vuông, hoặc góc B vuông, hoặc
góc C vuông”.
Bảng giá trị logic của phán đoán phức lựa chọn tuyệt đối:
A
B
C
A˅ B ˅ C
Đ
Đ
Đ
S
Đ
Đ
S
S
Đ
S
Đ
S
Đ
S
S
Đ
S
Đ
Đ
S
S
Đ
S
Đ
S
S
Đ
Đ
S
S
S
S
Như vậy, ta thấy giá trị logic của phán đoán phức lựa chọn tuyệt đối chỉ
đúng khi chỉ có duy nhất một phán đoán đơn thành phần là đúng, các giá trị
logic còn lại của phán đoán phức lựa chọn tuyệt đối có giá trị sai.
c. Phán đoán phức điều kiện (phán đoán phức kéo theo)
Phán đoán phức điều kiện là phán đoán phức được tạo thành từ các phán
đoán đơn nhờ phép toán kéo theo.
Trong ngôn ngữ tự nhiên phép toán này được biểu thị bằng các từ và cụm
từ: “nếu…thì…”, “…kéo theo…”, “từ…suy ra…” và các cấu trúc ngôn ngữ
tương đương khác.
Ký hiệu của phép kéo theo: →
Ví dụ, “Nếu có lửa thì có khói”.
Bảng giá trị logic của phán đoán phức điều kiện:
A
B
A→B
Đ
Đ
Đ
Đ
S
S
S
Đ
Đ
S
S
Đ
Như vậy, ta thấy giá trị logic của phán đoán điều kiện chỉ sai khi phán đoán đơn
nguyên nhân là đúng nhưng phán đoán đơn kết quả là sai, các giá trị logic còn
lại của phán đoán phức điều kiện có giá trị đúng.
d. Phán đoán phức tương đương (phán đoán phức đẳng trị)
Phán đoán phức tương đương là phán đoán phức được tạo thành từ các
phán đoán đơn nhờ phép toán tương đương.
Trong ngôn ngữ tự nhiên phép toán tương đương thường được phát biểu
nhờ các liên từ: “tương đương”, “khi và chỉ khi”, “điều kiện cần và đủ”, “kéo
theo và bị kéo theo bởi”, “nếu và chỉ nếu”…
Ký hiệu của phép tương đương: ↔.
Ví dụ, “Một số chia hết cho 3 khi và chỉ khi tổng các chữ số của nó chia
hết cho 3”.
Bảng giá trị logic của phán đoán phức tương đương:
A
B
A↔B
Đ
Đ
Đ
Đ
S
S
S
Đ
S
S
S
Đ
Như vậy, ta thấy giá trị logic của phán đoán phức tương đương chỉ đúng khi các
phán đoán đơn thành phần có giá trị logic giống nhau (hoặc cùng đúng hoặc
cùng sai), các giá trị logic còn lại của phán đoán phức tương đương có giá trị
sai.
e. Phủ định phán đoán phức
Phủ định phán đoán phức là một thao tác logic nhằm chuyển giá trị logic
của phán đoán sang một giá trị logic mới đối lập với phán đoán ban đầu ấy.
Như vậy, khi dùng phép phủ định của một phán đoán đã cho, ta thu được
một phán đoán mới có giá trị logic ngược với giá trị logic của phán đoán xuất
phát ấy. Qua hai lần phủ định, giá trị của phán đoán sẽ trở lại giá trị ban đầu.
Bảng giá trị logic của phủ định phán đoán phức:
A
Đ
S
Ᾱ
S
Đ
Lưu ý:
Ᾱ
Đ
S
- Nếu phán đoán phức có hai phán đoán thành phần (hai biến số) và mỗi
phán đoán có hai giá trị logic (đúng – ký hiệu là Đ và sai – ký hiệu là S), nên
bảng trên có 22 = 4 dòng.
- Nếu phán đoán phức có ba phán đoán thành phần thì ta có 23 = 8 dòng.
- Nếu phán đoán phức có bốn phán đoán thành phần thì ta có 2 4 = 16
dòng...
Ví dụ, ở phán đoán phức: “Ơng Nam là cơng dân Việt Nam, là người
siêng năng và là người giàu có”.
Ta đặt: A = Ơng Nam là cơng dân Việt Nam.
B = Ông Nam là người siêng năng.
C = Ông Nam là người giàu có.
Cơng thức của phán đốn phức ở trên là:
A˄B˄C
Bảng giá trị logic của phán đoán phức ở trên sẽ là:
A
Đ
Đ
Đ
Đ
S
S
S
S
B
Đ
Đ
S
S
Đ
Đ
S
S
C
Đ
S
Đ
S
Đ
S
Đ
S
A˄B
Đ
Đ
S
S
S
S
S
S
II.
A˄ B˄ C
Đ
S
S
S
S
S
S
S
PHẦN BÀI TẬP
Câu 1 (0,5 điểm)
Từ khái niệm "Tranh chấp lao động" được định nghĩa dưới đây:
"Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh
giữa các bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp
lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp
lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động".
Anh/chị hãy:
a) Chỉ ra nội hàm của khái niệm.
b) Chỉ ra ngoại diên của khái niệm.
Bài làm
a, “ Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát
sinh giữa các bên trong quan hệ lao động” là nội hàm của khái niệm
b, “ Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người
lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể
lao động với người sử dụng lao động” là ngoại diên của khái niệm.
Câu 2 (0,5 điểm)
Từ khái niệm "Công an nhân dân" được định nghĩa dưới đây:
"Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu
tranh phòng, chống tội phạm. Công an nhân dân gồm lực lượng An ninh nhân
dân, lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an xã".
Anh/chị hãy:
a) Chỉ ra nội hàm của khái niệm.
b) Chỉ ra ngoại diên của khái niệm.
Bài làm
a, "Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu
tranh phòng, chống tội phạm" là nội hàm của khái niệm.
b, “Công an nhân dân gồm lực lượng An ninh nhân dân, lực lượng Cảnh
sát nhân dân và Công an xã" là ngoại diên của khái niệm.
Câu 3 (0,5 điểm)
Anh/chị hãy:
a) Mở rộng và thu hẹp khái niệm “Hoạt động dạy học” ít nhất hai bậc.
b) Dùng sơ hình vẽ mơ tả mối quan hệ về ngoại diên của các khái niệm
sau: “A. Nhà khoa học”, “B. Giáo sư”, “C. Nhà quản lý”, “D. Giám đốc”.
Bài làm
a,