lOMoARcPSD|11809813
CHƯƠNG I. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LENIN
Câu 2. Làm rõ đối tượng nghiên cứu, chức năng của Kinh tế chính trị Mác-Lenin?
Trả lời
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Thời kỳ trước Mác: Thời kì đầu, chủ nghĩa trọng thương xác định lưu thông là đối tượng nghiên cứu,
tiếp theo là chủ nghĩa trọng nông coi nông nghiệp là đối tượng nghiên cứu. . Kinh tế chính trị tư sản cổ
điển Anh thì xác định nguồn gốc của của cải và sự giàu có của các dân tộc là đối tượng nghiên cứu.
+ Quan điểm của C.Mác và Ph.Anghen: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là các
quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất
nhất định.
- Chức năng: (Giáo trình)
Câu 3. Quy luật kinh tế là gì? Quy luật kinh tế có đặc điểm gì chung và khác với quy luật tự
nhiên? Phân biệt và nêu mối quan hệ giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế?
Trả lời
- Quy luật kinh tế: là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại của các
hiện tượng và quá trình kinh tế.
- Sự giống và khác nhau giữa quy luật kinh tế và quy luật tự nhiên:
+ Giống nhau: đều mang tính khách quan và đều do con người nghiên cứu, vận dụng.
+ Khác nhau: quy luật kinh tế mang tính lịch sử, khơng tồn tại vĩnh viễn như quy luật tự nhiên, quy luật
kinh tế chỉ tồn tại thông qua các hoạt động kinh tế của con người.
- Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
+ Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người khơng thể
thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi ích của
mình. Khi vận dụng khơng phù hợp, con người phải thay đổi hành vi của mình chứ khơng thay đổi được
quy luật.
+ Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở vận dụng các quy
luật kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp, hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế khách
quan. Khi chính sách khơng phù hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban hành chính sách khác để
thay thế.
-> Mối quan hệ giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế: chính sách kinh tế được hình thành dựa trên
cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế.
Câu 4. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu Kinh tế chính trị Mác-Lenin trong q trình lao động và
quản trị quốc gia?
Trả lời
- Ý nghĩa của nghiên cứu Kinh tế chính trị Mác – Lenin:
- Kinh tế chính trị Mác-Lenin có vai trị quan trọng trong đời sống lao động, xã hội và quản trị của quốc
gia:
+ Kinh tế chính trị Mác – Lenin giúp con người hiểu được bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh
tế, nắm được các quy luật kinh tế chi phí sự vận động và phát triển kinh tế và vận dụng lý luận đó vào
thực tế. Q trình vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua điều chỉnh hành vi cá nhân
hoặc các chính sách kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo hướng tiến bộ.
+ Kinh tế chính trị Mác – Lenin cung cấp cho các luận cứ khoa học làm cơ sở để hình thành các chính
sách kinh tế, các đường lối, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu của các quy luật
khách quan và điều kiện cụ thể của đất nước ở từng thời kì nhất định.
+ Kinh tế chính trị Mác – Lenin giúp con người hiểu được các chính sách, đường lối kinh tế của Nhà
nước, tạo niềm tin sâu sắc vào con đường chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo động lực
để thúc đẩy từng các nhân và tồn xã hội khơng ngừng sáng tạo, từ đó cải thiện khơng ngừng đời sống
vật chất, tinh thần của toàn xã hội.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
CHƯƠNG II. HÀNG HOÁ, THỊ TRƯỜNG
Câu 1. Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá , đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá so với
sản xuất tự cung tự cấp? Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
* Khái niệm:
- Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu
của chính bản thân người sản xuất.
- Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm sản xuất ra nhằm mục đích trao đổi,
mua bán trên thị trường.
* Hai điều kiện ra đời và tồn tại sản xuất hàng hóa:
- Điều kiện thứ nhất, phân cơng lao động xã hội: Là sự chun mơn hóa người sản xuất vào những
ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, mỗi người chỉ sản xuất ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhưng nhu
cầu của họ lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau. Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu người ta phải trao đổi
sản phẩm cho nhau.
Trong lịch sử đã co 3 cuộc phân công lao động xã hội lớn
+ Lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
+ Lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
+ Lần thứ ba: Xuất hiện ngành thương nghiệp
- Điều kiện thứ hai, sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa:
Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sản xuất, là cho họ độc lập với nhau, sản
phẩm họ sản xuất ra là quyền thuộc sở hữu của họ. Mặt khác, phân công lao động xã hội lại kéo con
người ta xích lại gần nhau, phục vụ lẫn nhau. Từ đó dẫn đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa
Thiếu một trong hai điều kiện nói trên thì khơng thể xuất hiện sản xuất hàng hóa.
* Đặc trưng của sản xuất hàng hố:
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
+ Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán. Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì trong lịch sử lồi
người tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung, tự cấp (tự túc, tự cấp) và sản xuất
hàng hóa. Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công
xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến... Trong khi đó,
sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải là
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.
+ Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội. Lao động của
người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của
người khác trong xã hội. Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là cơng việc riêng,
mang tính độc lập của mỗi người. Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc khơng phù hợp với tính
chất xã hội. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa. Theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì mâu
thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế
hàng hóa.
+ Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải giá trị sử dụng.
* Ưu thế của sản xuất hàng hố:
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt cản bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. So
với sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa có những đặc trưng và ưu thế cơ bản sau đây:
- Sản xuất hàng hóa là sản xuất cho người khác, cho xã hội, sản xuất để bán, vì mục tiêu lợi nhuận, do
đó nó tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Cịn sản xuất tự cung tự cấp với
mục đích sản xuất ra những giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất,
nên không tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Sản xuất hàng hóa đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá
phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để
tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi
nhuận ngày càng nhiều hơn. Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Trong sản xuất tự cung tự cấp, quy mơ nhỏ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có của tự nhiên, nhu cầu
thấp, trình độ dân trí thấp nên khơng có cạnh tranh, khơng tạo ra động lực mạnh mẽ phát triển khoa học
- công nghệ để phát triển kinh tế có hiệu quả.
- Sản xuất hàng hóa với năng suất lao động cao, chất lượng hàng hóa tốt và khối lượng ngày càng
nhiều, chủng loại đa dạng và phong phú làm cho thị trường được mở rộng, giao lưu kinh tế - xã hội giữa
các vùng, các miền, các địa phương và quốc tế phát triển, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu vật chất
và tinh thần ngày càng cao cũng như sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi thành viên trong xã hội.
Ngược lại với sản xuất tự cung tự cấp, sản xuất kém phát triển, mang tính khép kín, sản phẩm sản xuất
ra khơng đủ tiêu dùng vì thế đời sống vật chất và tinh thần của người lao động thấp, khơng có điều kiện
để mở rộng hoạt động giao lưu kinh tế - xã hội giữa các vùng miền...
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực như đã nêu trên, sản xuất hàng hố cũng có những mặt trái của nó như
phân hoá giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hố, tiềm ẩn những khả năng khủng hồng kinh
tế - xã hội, phá hoại môi trường sinh thái, V.V..
* Ý nghĩa nghiên cứu sự ra đời của sản xuất hàng hố:
Câu 2. Hàng hố và hai thuộc tính của hàng hóa, mối liên hệ giữa chúng? Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
* Khái niệm hàng hóa:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của
con người. Nó được sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường.
Hàng hóa có thể là những sản phẩm hữu hình như nhà cửa, thuốc men cũng có thể là những sản
phẩm vơ hình như dịch vụ, các phát minh khoa học...
* Hai thuộc tính của hàng hóa:
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Hàng hóa có 2 thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng:
Một là: Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là cơng dụng của sản phẩm, nó thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người.
Nhu cầu cho sản xuất: Máy móc, nguyên vật liệu
Nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân: Lương thực, thực phẩm....
Đặc điểm của giá trị sử dụng:
- Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của vật quyết định.
(Do tính chất hóa học của than mà nó có thể dùng làm nhiên liệu, chất đốt, do tinh chất tự nhiên
của gạo mà nó dùng để làm lương thực ni sống con người....) Khoa học càng phát triển ngươì ta càng
phát hiện ra nhiều thuộc tính tự nhiên của vật cũng như giá trị sử dụng của nó. ( Có thể lấy thêm một số
ví dụ để minh họa)
- Giá trị sử dụng được thể hiện ra trong khi tiêu dùng.
- Giá trị sử dụng được xác định về mặt chất và mặt lượng. Mặt chất do thuộc tính tự nhiên của
vật quyết định cịn mặt lượng nó được đo bằng các đơn vi đo lường khác nhau như lít, mét, kilogam...
- Giá trị sử dụng là nội dung vật chất của của cải xã hội.
- Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn.
Trong nền kinh tế hàng hóa giá trị sử dụng đồng thời là cái mang giá trị trao đổi.
Hai là: Giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa là một phạm trù trừu tượng nhưng được biểu hiện ra ở giá trị trao đổi, bởi vậy
để nhận biết giá trị ta phân tích từ giá trị trao đổi. (Đây là phương pháp trừu tượng hóa khoa học)
Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ trao đổi giữa giá trị sử dụng này lấy giá trị sử dụng khác.
Ví dụ: 1 m vải = 5 kg thóc
Nhìn vào phương trình trao đổi trên ta thấy
Tại sao vải và thóc lại có thể so sánh ngang bằng nhau?
Tại sao 2 giá trị sử dụng khác nhau lại có thể đổi được với nhau?
Đổi được cho nhau tức là nếu so sánh với nhau về lượng thì giữa chúng phải có một cơ sở
chung.
Cơ sở chung đó khơng phải là giá trị sử dụng vì nếu giá trị sử dụng mà giống nhau thì người ta
khơng phải trao đổi cho nhau.
Sở dĩ hai hàng hóa có thể trao đổi được cho nhau là vì trước hết chúng đều là sản phẩm của lao
động. Nếu ta gạt bỏ các hình thức cụ thể của lao động cũng như các yếu tố vật chất để sản xuất ra sản
phẩm thì cái cịn lại của sản phẩm chỉ là sự hao phí lao động nói chung của con người, (Chúng đều là
những vật kết tinh đồng nhất cái hao phí lao động nói chung của con người). Đó chính là giá trị hàng
hóa.
Như vậy: Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa.
Đặc điểm của giá trị hàng hóa:
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
- Giá trị hàng hóa là do lao động tạo ra, vật gì khơng do lao động tạo ra thì khơng phải là hàng
hóa tuy rằng có giá trị sử dụng (nước tự nhiên, khơng khí....)
- Giá trị hàng hóa được thể hiện ra trong khi trao đổi. Giá trị hàng hóa là nội dung là cơ sở của
giá trị trao đổi cịn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Khi giá trị thay đổi thì giá trị trao
đổi cũng thay đổi theo.
C.Mác nghiên cứu giá trị hàng hóa bắt đầu từ giá trị trao đổi tức là từ hình thức (trực quan)
đến bản chất (trừu tượng).
- Giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử (chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa).
- Giá trị hàng hóa biểu hiện là quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất vì: Giá trị hàng hóa
là một phạm trù trừu tượng nhưng được biểu hiện ra trong khi trao đổi, thực chất của hoạt động trao
đổi chính là trao đổi lao động cho nhau.
* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn với nhau:
Một mặt: Chúng thống nhất với nhau vì hàng hóa phải có hai thuộc tính, thiếu một trong hai
thuộc tính, sản phẩm khơng phải là hàng hóa.
Ví dụ, nước trong tự nhiên có giá trị sử dụng nhưng khơng có giá trị vì khơng do lao động tạo
ra nên khơng phải là hàng hóa. Một quả dưa hấu hỏng có giá trị vì nó do lao động tạo ra nhưng khơng
có giá trị sử dụng nên khơng trở thành hàng hóa....
Mặt khác: Chúng mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn này thể hiện ở chỗ:
- Người sản xuất hàng hóa trong tay có giá trị sử dụng của hàng hóa nhưng mục đích của họ là
giá trị của hàng hóa.
- Người mua trong tay có giá trị của hàng hóa (Tiền) nhưng mục đích lại là giá trị sử dụng của
hàng hóa.
Khi nào hàng hóa bán được trên thị trường, người bán thực hiện được giá trị còn người mua thực
hiện được giá trị sử dụng thì mâu thuẫn được giải quyết, nếu khơng mâu thuẫn vẫn tồn tại.
Mâu thuẫn này thể hiện rõ trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế của CNTB. Các nhà tư bản chạy
theo lợi nhuận ra sức sản xuất (sản xuất vơ hạn độ) trong khi đó giai cấp cơng nhân bị thất nghiệp, bần
cùng dẫn đến thu nhập giảm sút, khơng có tiền để mua hàng. Như vậy hàng hóa sản xuất ra khơng bán
được, giai cấp tư sản khơng thực hiện được giá trị hàng hóa cịn giai cấp cơng nhân thì khơng thực hiện
được giá trị sử dụng của hàng hóa.
Người sản xuất quan tâm tới giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trị bắt buộc họ cũng phải
chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùng quan tâm tới giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu
tiêu dùng của mình.
Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó. Nếu khơng thực hiện
giá trị sẽ khơng có giá trị sử dụng. Mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị hàng hố cũng chính là một
trong những ngun nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa.
* Ý nghĩa nghiên cứu hai thuộc tính của hàng hố đối với việc phát triển KTTT nước ta hiện nay
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Nước ta là 1 nc có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tức là nền kinh tế nhiều tphan, sản
xuất đa dạng các loại HH nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và trao đổi, mua bán trên thị trường thế
giới. Hàng hóa là sản phẩm phổ biến trên thị trường hiện nay, vì vậy nắm rõ các thuộc tính cơ bản và
bản chất của hàng hóa là nội dung quan trọng, đặt ra sự hiệu quả trong quá trình trao đổi thúc đẩy sản
xuất.
+ Đẩy mạnh phan cơng lao động để phát triển kinh tế hàng hố, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú
của xã hội.
+ Phải coi trọng cả hai thuộc tính của hàng hố để khơng ngừng cải tiến mẫu mã, nõng cao chất lượng,
hạ giá thành.
Câu 3. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá?
Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị là bởi vì lao động của người sản xuất
hàng hóa có tính hai mặt.
(C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Đó là lao
động cụ thể và lao động trừu tượng. Nhờ có phát minh này C.Mác đã làm một cuộc cách mạng trong
khoa kinh tế chính trị)
* Lao động cụ thể:
Khái niệm Lao động cụ thể là lao động có ích, biểu hiện dưới hình thức cụ thể của một nghề
nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục địch riêng, đối tượng lao động riêng,
phương tiện lao động riêng và kết quả riêng.
Ví dụ: Lao động cụ thể của người thợ xây có mục đích là những ngơi nhà, đối tượng lao động là
gạch, xi măng, cát..., phương tiện lao động là bay, các loại thước, kết quả là những ngôi nhà.
Lao động cụ thể của người nơng dân có mục đích là sản xuất lúa gạo, đối tượng lao động là đất
đai, hạt giống, phân bón.... phương tiện lao động là cuốc xẻng, liềm hái... kết quả là thóc.
Đặc trưng của lao động cụ thể:
- Các lao động cụ thể khác nhau về chất. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, dối tượng
lao động riêng, phương pháp riêng và kết quả riêng. Tập hợp các lao động cụ thể hình thành nên hệ
thống phân cơng lao động xã hội.
- Khoa học càng phát triển thì lao động cụ thể càng đa dạng, phong phú, nó phản ánh trình độ
phát triển của phân cơng lao động xã hội.
- Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
(Ví dụ nếu ta mang một tấm da thú đến người thợ may, ta sẽ được một chiếc áo có giá trị sử
dụng để giữ ấm cơ thể. Nhưng nếu ta mang tấm da thú đó đến người thợ khâu giày chúng ta sẽ có đơi
giày cóa giá trị sử dụng để đi lại, giữ ấm đôi chân...)
- Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, nó là điều kiện khơng thể thiếu trong bất kỳ hình
thái kinh tế xã hội nào.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
* Lao động trừu tượng:
Khái niệm: Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hố khơng kể đến
hình thức cụ thể của nó, đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hố về cơ
bắp, thần kinh, trí óc.
Ví dụ:
Trao đổi 1m vải = 5 kg thóc
Nếu xét lao động cụ thể thì lao động của người nơng dân và lao động của người thợ dệt khác
nhau về chất (phương pháp, đối tượng, mục đích)
Nhưng khi hai hàng hóa trao đổi với nhau thì đằng sau sự khác nhau đó cịn ẩn chứa một điều
chung.
Nếu ta gạt bỏ hình thức cụ thể của lao động thì lao động làm ra vải và lao động làm ra thóc đều
là sự hao phí sức lao động nói chung của con người (Sức cơ bắp,sức thần kinh).
Sự hao phí đó gọi là lao động trừu tượng.
Đặc trưng của lao động trừu tượng:
- Là lao động đồng nhất.
- Tạo ra giá trị của hàng hóa, là cơ sở cho so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.
- Lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử (Chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa).
Như vậy, lao động cụ thể và lao động trừu tượng là hai mặt của cùng một lao động. Nếu xét trên
phương diện sản xuất giá trị sử dụng thì gọi là lao động cụ thể. Nếu xét trên phương diện sản xuất ra giá
trị thì gọi là lao động trừu tượng.
Hai mặt của lao động thống nhất với nhau và cũng mâu thuẫn với nhau, biểu hiện thành mâu
thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa.
* Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa.
- Đó là mâu thuẫn giữa tính chất tư nhân và tính chất xã hội cuả lao động:
- Trang 25, 26 giáo trình.
Nếu trên thị trường hàng hóa của người sản xuất hàng hóa tư nhân bán được tức là được xã hội
chấp nhận thì lao động tư nhân biến thành lao động xã hội, mâu thuẫn được giải quyết và ngược lại,
nếu hàng hóa khơng bán được thì mâu thuẫn vẫn tồn tại.
Mâu thuẫn này biểu hiện:
- Sản phẩm do người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra có thể khơng ăn khớp hoặc khơng phù
hợp với nhu cầu của xã hội.
- Hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động mà xã hội chấp nhận.
-> Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của của mọi mâu thuẫn
trong nền sản xuất hàng hóa. Chính vì những mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận động phát
triển, lại vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng sản xuất thừa.
* Ý nghĩa nghiên cứu:
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Ý nghĩa của việc phát hiện đối với lý luận giá trị. Phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất
hàng hố tạo nên sự thành cơng trong việc xaay dựng lý luận giá trị.
+ Xác định được chất của giá trị là do lao động trau tượng kết tinh, biểu hiện quan hệ xã hội và là một
phạm trự lịch sử.
+ Xác định được lượng của giá trị là lượng lao động trung bình hay thời gian lao động xã hội cần thiết.
Xác định được hình thỏi biểu hiện của giá trị phát triển từ thấp tới cao, từ hình thỏi giản đơn đến hình
thỏi mở rộng, hình thỏi chung và cuối Cùng là hình thỏi tiền.
+ Xác định được quy luật giá trị- quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá. Quy luật này đũi hỏi người sản
xuất và trao đổi hàng hoá phải đảm bảo thời gian lao động xã hội cần thiết.
Câu 4. Lượng giá trị hàng hóa, yếu tố cấu thành lượng giá trị của hàng hoá và các nhân tố ảnh
hưởng đến lượng giá trị hàng hóa? Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
* Thước đo lượng giá trị hàng hóa:
Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng.
Về mặt chất, giá trị hàng hóa là lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh
trong hàng hóa.
Về mặt lượng; Lượng giá trị hàng hóa là do lượng lao động trừu tượng hao phí để sản xuất ra
hàng hóa quyết định. lượng lao động hao phí lớn thì lượng giá trị lớn, lượng hao phí nhỏ thì lượng giá
trị nhỏ.
Người ta đo lượng giá trị hàng hóa bằng thời gian lao động như ngày lao động, giờ lao động,
..Nhưng không phải đo bằng thời gian lao động cá biệt mà đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động cá biệt là thời gian sản xuất ra một đơn vị hàng hóa của từng người sản xuất
riêng biệt. Do điều kiện sản xuất của mỗi người là khác nhau nên thời gian lao động cá biệt cũng khác
nhau.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian sản đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng
nào đó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao
động trung bình. (Trên thực tế thời gian lao động xã hội cần thiết do thời gian lao động cá biệt của
người nào cung cấp đại bộ phận hàng hóa trên thị trường quyết định).
- Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá được sản xuất ra bao hàm: hao
phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên, nhiên liệu đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng
hố đó) + hao phí lao động mới kết tinh thêm.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa (Giáo trình trang 27, 28)
Thứ nhất: Năng suất lao động
- Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản
phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
- Tăng năng suất lao động là tăng hiệu quả của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất bằng
cách thay đổi cách thức lao động, phương pháp lao động, cơng cụ lao động... (cịn sức lao động hao phí
khơng đổi, thậm chí có khi cịn giảm nhẹ do điều kiện làm việc tốt hơn).
Biểu hiện ở hai chỉ tiêu sau:
+ Tổng giá trị của khối lượng hàng hoá được sản xuất trong cùng thời gian là không đổi
+ Thời gian hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm giảm xuống, nên giá trị của 1 đơn vị hàng hoá giảm
xuống.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động gồm:
+ Trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật.
+ Trình độ khéo léo của người lao động.
+ Hiệu quả của TLSX.
+ Trình độ quản lý.
+ Khai thác các điều kiện tự nhiên.
Ví dụ
Thời gian lao động
Số lượng sản
phẩm
8 giờ
8 sản phẩm
Tăng năng suất lao động lên 2 lần
8 giờ
16 sản phẩm
Tổng giá trị sản
Giá trị 1 đơn vị sản
phẩm
8 giờ
phẩm
1 giờ
8 giờ
0,5 giờ
Vậy, Tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá trị một đơn vị hàng hóa giảm xuống và ngược
lại.
- Cường độ lao động
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động
Tăng cường độ lao động là tăng mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian, (mức độ
khẩn trương, sự căng thẳng, mệt nhọc của người lao động) nó tương đương với việc kéo dài thời gian
lao động.
Tăng cường độ lao động (Năng suất lao động không đổi) làm cho số lượng sản phẩm tăng lên,
nhưng lượng giá trị tạo ra trong thời gian đó tăng lên tương ứng, do đó giá trị của một đơn vị hàng hóa
khơng đổi.
Ví dụ
Thời gian lao động
Số
lượng
phẩm
8 giờ
8 sản phẩm
Tăng cường độ lao động lên 2 lần
16 giờ
16 sản phẩm
sản Tổng giá trị sản Giá trị 1 đơn vị sản
phẩm
8 giờ
phẩm
1 giờ
16 giờ
1 giờ
Như vậy, tăng cường độ lao động thì giá trị của một đơn vị hàng hóa khơng đổi nhưng tổng giá
trị của khối lượng hàng hoá được sử dụng trong cùng một thời gian tăng lên.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Phân biệt tăng Năng suất lao động với tăng cường độ lao động
Giống nhau: Đều làm tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra
Khác nhau:
Tăng năng suất lao động
- Là tăng hiệu quả của lao động bằng cách
Tăng cường độ lao động
- Là tăng mức độ hao phí lao động (mức độ
thay đổi cách thức lao động, phương pháp
khẩn trương, sự cang thẳng, sự mệt nhọc hơn
lao động, công cụ lao động..
của người lao động). Nó tương đương với
việc kéo dài thời gian lao động.
- Sức lao động được giảm nhẹ
- Giá trị một sản phẩm giảm xuống
- Là phương pháp lâu dài
- Sức lao động bị kiệt quệ
- Giá trị một hàng hóa khơng đổi
- Áp dụng đối với cơng việc mang tính thời
vụ.
Thứ hai, mức độ phức tạp của lao động:
Lao động của người sản xuất hàng hóa có hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp
+ Lao động giản đơn là lao động khi thực hiện khơng cần phải có sự huấn luyện chun mơn
trước. Nó chỉ hao phí sức lực giản đơn mà một người bình thường nào cũng có thể làm được. (Chú ý:
không đồng nhất với lao động thủ công)
+ Lao động phức tạp là lao động là lao động khi thực hiện phải có sự huấn luyện chun mơn
trước.
Xét về mặt lượng giá trị thì lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn có nghĩa là trong
cùng một thời gian lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn sơ với lao động giản đơn.
Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn sản xuất ra được bình đẳng với hàng hóa do lao động
phức tạp sản xuất ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức ra thành lao động giản
đơn trung bình.(Việc quy đối diễn ra một cách tự phát trên thị trường). lấy ví dụ giảng giải cho sinh
viên)
* Ý nghĩa nghiên cứu:
* Giải pháp ngày nay về tăng năng suất lao động:
Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, để nâng cao năng suất lao động, một trong những
giải pháp nổi bật là tăng cường độ sâu vốn và công nghệ.
Cách mạng công nghiệp 4.0 với xu hướng phát triển dựa trên hệ thống kết nối số hóa – vật lí –
cơng nghệ sinh học, với sự đột phá của Internet và Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi nền sản xuất, tác
động mạnh mẽ đến khối doanh nghiệp. Là quốc gia đang phát triển, việc tiếp cận những thành tựu của
Cách mạng công nghiệp 4.0 là con đường ngắn nhất để các doanh nghiệp Việt Nam bứt phá, tận dụng
các cơ hội để giảm chi phí sản xuất, cải thiện năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia
tăng vị thế cạnh tranh trên thị trường.
Tăng cường độ sâu vốn và công nghệ là điểm mấu chốt, tỉ lệ thuận với kết quả năng suất lao
động quốc gia. Các doanh nghiệp Việt Nam đều nhận thức được lợi ích khi đầu tư công nghệ giúp nâng
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
cao chất lượng sản phẩm nhưng lại thường gặp khó khăn về vốn. Rõ ràng, nguồn lực tài chính phải
được đầu tư có chiều sâu, dành cho những thiết bị có năng suất cao, đồng thời phải nâng cao trình độ
quản lí, thúc đẩy hoạt động cải tiến năng suất trong doanh nghiệp.
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực
của nền kinh tế, trong đó có ngành nơng nghiệp. Tại Việt Nam, phát triển nơng nghiệp rất có tiềm năng,
một số doanh nghiệp đã áp dụng số hóa vào sản xuất kinh doanh từ giống, canh tác, thu hoạch, phân
phối tiêu dùng… Ứng dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 giảm thiểu sức lao động và tăng năng suất lao
động trong chính các ngành vốn đang sử dụng rất nhiều lao động.
Tiếp cận Nông nghiệp 4.0 là ứng dụng các thành tựu của Công nghiệp 4.0 vào nông nghiệp để
tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm thiểu công lao động, giảm thất thốt do thiên tai, dịch bệnh, an
tồn mơi trường, tiết kiệm chi phí trong từng khâu hay tồn bộ q trình sản xuất – chế biến – tiêu thụ.
Trong lĩnh vực dịch vụ, ngành hàng không đã áp dụng ứng dụng cơng nghệ Trí tuệ nhân tạo vào
thực tế. Hàng triệu dữ liệu của động cơ máy bay đều có hệ thống phân tích và dự báo về tình hình hoạt
động. Các hoạt động khác trong hệ thống như quản lí đặt chỗ, quản lí bán vé… cũng đã áp dụng cơng
nghệ Trí tuệ nhân tạo và Dữ liệu lớn (Big Data) để phục vụ khách hàng.
Câu 5. Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ, chức năng của tiền tệ?
Trả lời
* Các hình thái giá trị trao đổi:
- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị:
1 m vải = 10 kg thóc
+ Hàng hóa vải là hình thái giá trị tương đối (vì bản thân nó khơng thể tự nói lên giá trị của mình
mà phải thơng qua hàng hóa thóc)
+ Hàng hóa thóc: đóng vai trị là vật ngang giá, đo lường và biểu thị giá trị hàng hóa vải.
- Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị:
=
=
=
=
1 m vải
10kg thóc
2 con gà
1 cái riu
0,2 gam vàng
- Khi phân công lao động xã hôi lớn lần thứ nhất xuất hiện, tách chăn nuôi ra khỏi trồng trọt
việc trao đổi trở nên thường xuyên hơn. Một hàng hóa có thể để so sánh với nhiều hàng hóa khác,
tức là giá trị của 1 hàng hóa được biểu hiện ở giá trị sử dụng của nhiều hàng hóa đóng vai trị vật
ngang giá chung nhưng vẫn là trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng.
- Hình thái giá trị chung:
1 cái áo
10 đấu chè
40 đấu cà phê
0,2 gam vàng
=
=
=
=
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
20 vuông vải
-Vào thời kỳ suy tàn của chế độ cơng xã ngun thủy, những nhước điểm của hình thái giá
trị đầy đủ hay mở rộng càng thể hiện rõ nét. Trong q trình trao đổi hàng hóa, xuất hiện một nhu
cầu là những người chủ hàng hóa phải tìm được một loại hàng hóa nào mà được nhiều người ưa
thích để đổi hàng hóa của mình lấy hàng hóa đó. Sau đó, dùng hàng hóa ấy để đổi lấy thứ hàng hóa
mà mình cần. Như vậy việc trao đổi khơng cịn là trực tiếp nữa, mà phải qua một bước trung gian.
- Hình thái tiền:
- LLSX phát triển => phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai đẩy mạnh sự phát triển sản
xất và lưu thông hàng hóa giữa các vùng => yêu cầu phải có vật ngang giá chung thống nhất giữa
các vùng
- Vật ngang giá chung được cố định ở một hàng hóa đặc biệt, khi đó xuất hiện hình thái tiền
thay thế cho hình thái giá trị chung (có nhiều hàng hóa đóng vai trò này nhưng cuối cùng cố định ở
vàng).
1 cái áo
10 đấu chè
40 đấu cà phê
20 vuông vải
=
=
=
=
0,2 gam vàng
* Bản chất của tiền:
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, được tách ra trong thế giới hàng hóa để làm vật ngang giá
chung cho tất cả các hàng hóa, nó đo lường và biểu thị giá trị của hàng hóa và biểu thị mối quan
hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. Hình thái giản đơn là mầm mống sơ khai của tiền.
* Các chức năng của tiền: (Giáo trình trang 30,31)
- Chức năng thước đo giá trị:
Tiền dùng để đo lường và biểu thị giá trị hàng hóa, khi thực hiện chức năng thước đo giá trị
ta có phạm trù giá cả hàng hóa.
Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.
- Chức năng phương tiện lưu thông
- Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hố và vận động theo cơng thức
HTH
- Khi tiền làm phương tiện lưu thơng địi hỏi phải có tiền mặt trên thực tế (vàng thoi, bạc nén, tiền
đúc, tiền giấy, tiền tín dụng...) .
Quy luật lưu thơng tiền tệ
Nếu ký hiệu:
M: số lượng tiền tệ cần cho lưu thông
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
P: số lượng hàng hóa lưu thơng trên thị trường
Q: giá cả hàng hóa
V: Tốc độ lưu thơng của tiền
PQ
M =
V
- Chức năng phương tiện thanh toán
Tiền làm chức năng phương tiện thanh tốn tức nó được dùng để chi trả sau khi cơng việc
đã hồn thành như:
+ trả tiền mua hàng chịu;
+ trả nợ;
+ nộp thuế...
- Chức năng phương tiện cất trữ
Là tiền được rút khỏi lĩnh vực lưu thơng và được cất trữ lại để khi cần thì đe ra mua hàng
hóa. Khi thực hiện chức năng phương tiện cất trữ, tiền tệ nhất thiết phải là tiền thực tế, tiền
có đủ giá trị. Chỉ có tiền vàng mới có cất trữ
- Chức năng tiền tệ thế giới
+ Tiền dùng để mua bán hàng hóa giữa các quốc gia
+ Là phương tiện thanh toán quốc tế và các hoạt động ngoại thương, tín dụng, tài chính;
+ di chuyển của cải từ nước này sang nước khác.
Câu 6. Nội dung, yêu cầu, biểu hiện, tác động của quy luật giá trị? Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Ở đâu có sản xuất hàng
hóa thì ở đó có quy luật giá trị tác động.
* Nội dung của quy luật giá trị: (Giáo trình trang 42)
Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,
cụ thể
-Trong sản xuát, người sản xuất phải đảm bảo sao cho giá trị cá biệt của hàng hóa phải nhỏ hơn
hoặc bằng giá trị xã hội.
-Trong lưu thơng, việc trao đổi hàng hóa phải tiến hành trên nguyên tắc trao đổi ngang giá.
Nghĩa là phải lấy giá trị xã hội là cơ sở để trao đổi.
* Yêu cầu của quy luật giá trị: (Sổ tay bài tập lớn đề 2)
* Biểu hiện của quy luật giá trị: (Sổ tay bài tập lớn đề 2)
* Tác động của quy luật giá trị: (Giáo trình trang 42, 43)
* Ý nghĩa nghiên cứu:
+ Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn, lâu dài của quy luật giá trị trong
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
+ Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước để phát huy vai trị tích cực của cơ chế
thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự công bằng xã hội.
+ Tạo ra những kết quả tích cực như: làm cho hàng hố giữa các vùng có sự cân bằng nhất định, kích
thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hố sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất,...
Câu 7. Quy luật cung - cầu? Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
* Quy luật cung cầu: (Giáo trình)
* Ý nghĩa nghiên cứu:
Quy luật cung cầu điều tiết q trình lưu thơng hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Khi cung
lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng
lên hay giảm xuống của giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương
mại chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản
xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa, cung lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất các
hàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều tiết sản xuất và lưu thông một cách tự động,
linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung - cầu.
Nhưng, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, những người sản xuất và lưu thông đều
chạy theo lợi nhuận tối đa, lại không xác định được tổng cầu của xã hội, nên thường sản xuất thừa, dẫn
đến những cuộc khủng hoảng chu kỳ. Đây là mặt trái của quy luật cung - cầu, của cơ chế tự điều tiết của
thị trường. Trong nền kinh tế thị trường có quản lý của nhà nước, Nhà nước có khả năng thấy rõ hơn
từng người sản xuất - kinh doanh về tổng cung, tổng cầu của xã hội; sự can thiệp của Nhà nước là để
khắc phục khiếm khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, những cuộc khủng hoảng chu kỳ do
điều tiết tự phát của cơ chế thị trường gây ra.
Câu 8. Quy luật lưu thông tiền tệ? Ý nghĩa nghiên cứu?
Trả lời
* Quy luật lưu thơng tiền tệ: Giáo trình
* Ý nghĩa nghiên cứu:
+ Giúp cho chính phủ có căn cứ để in tiền cần thiết cho lưu thông
+ Giúp cho hệ thống ngân hàng nhà nước và kinh doanh điều hoà lưu thông tiền tệ, khống chế lạm phát
củng cố sức mua để đồng tiền chuyển đổi
+ Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng ngày một bền vững, thúc đẩy tăng trưởng và cải
thiện về cơ sở - vật chất.
CHƯƠNG III
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
Câu 1. Sự chuyển hoá tiền thành tư bản? (Nguồn gốc giá trị thặng dư) Ý nghĩa nghiên cứu
giá trị thặng dư? Ý nghĩa nghiên cứu hàng hố sức lao động?
Trả lời
* Cơng thức chung của tư bản:
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định, nhưng bản thân tiền
không phải là tư bản, tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định đó là khi chúng được
dùng để bóc lột lao động của người khác.
Tiền trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn vận động theo công thức:
H-T-H
Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức: T-H-T
- So sánh công thức chung của Tư bản với công thức lưu thông hàng hóa giản đơn ta thấy:
+ Giống nhau: Đều bao gồm hai giai đoạn mua và bán, đều bao gồm hai nhân tố tiền và hàng.
Khác nhau:
H- T - H
T- H- T'
Trình tự vận động
Mục đích
bán trước, mua sau
Giá trị sử dụng của hàng hóa
Giới hạn
có giới hạn
Mua trước bán sau
giá trị nhưng không phải giá
trị giản đơn mà là giá trị
thặng dư.
Vô hạn
Tư bản vận động theo công thức:
T - H - T' (T' = T + m) m là giá trị thặng dư
C.Mác gọi công thức T - H -T' là cơng thức chung của tư bản vì sự vận động của mọi tư bản đều
biểu hiện trong lưu thơng dưới dạng tổng qt đó.
* Mâu thuẫn của cơng thức chung của tư bản: (Dùng để chứng minh cho câu nói: Giá trị
thặng dư khơng sinh ra trong lưu thơng,...)
Nhìn vào cơng thức chung của tư bản chúng ta thấy hình như lưu thơng đã tạo ra giá trị thặng
dư. Các nhà kinh tế học tư bản cho rằng lưu thông đã tạo ra giá trị thặng dư. C.Mác đã chứng minh lưu
thông không tạo ra giá trị thặng dư.
Chứng minh
Tường hợp: Nếu trao đổi ngang giá thì chị là sự chuyển hóa hình thái từ tiền thành hàng và hàng
thành tiền. Cả hai bên trao đổi khơng có gì được và mất cả.
Trường hợp: Trao đối khơng ngang giá
Như vậy, trao đổi theo nguyên tắc ngang giá không tạo ra giá trị thặng dư.
– Xét trường hợp trao đổi không ngang giá:
Xảy ra ba trường hợp:
+ Trường hợp thứ nhất, nếu giả định mọi người đều bán hàng hóa cao hơn giá trị. Trong thực tế khơng
có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vai trị là người bán hàng hóa, mà lại khơng là người đi mua các yếu tố
sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa đó. Do đó khi là người mua, họ lại phải mua cao hơn giá trị. Do đó,
số lời mà họ thu được khi là người bán thì sẽ mất đi khi là người mua. Hành vi bán hàng hóa cao hơn
giá trị đã không hề mang lại một chút giá trị thặng dư nào.
+ Trường hợp thứ hai, nếu giả định mọi người đều mua hàng hóa thấp hơn giá trị. Trong trường hợp này
cũng tương tự như trường hợp ở trên, cái mà anh ta thu được do mua rẻ, sẽ bị mất đi khi anh ta là người
bán vì cũng phải bán thấp hơn giá trị thì các nhà tư bản khác mới mua. Rút cục giá trị thặng dư vẫn
không được đẻ : từ hành vi mua rẻ.
+ Trường hợp thứ ba, giả định trong xã hội tư bản có một số kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, bao giờ họ cũng
mua được rẻ và bán được đắt. Nếu xét riêng bản thân thì họ là những người được lợi.
Nhưng nếu xét chung cả xã hội, thì giá trị thặng dư mà họ thu được lại chính là cái mà người
khác mất đi, do đó tổng số giá trị hàng hóa trong xã hội khơng vì hành vi cướp đoạt, lừa gạt của họ mà
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
tăng lên. Ăn cắp lẫn nhau trong cùng giai cấp không thể là cách làm giàu phổ biến của giai cấp tư sản
được. Giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng bản thân mình.
Sau khi xem xét, lật đi lật lại vấn đề thì lưu thơng vẫn khơng thể đẻ ra giá trị, không thể làm tăng
thêm giá trị được, dù trao đổi ngang giá hay trao đổi không ngang giá. Như vậy lưu thông đã không đẻ
ra giá trị thặng dư. Vậy phải chăng giá trị thặng dư có thể đẻ ra ở ngồi lưu thơng?
– Ở ngồi lưu thơng chúng ta xem xét hai trường hợp:
+ Ở ngồi lưu thơng, nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa của anh ta, thì giá trị của
những hàng hóa ấy khơng hề tăng lên một chút nào.
+ Ở ngồi lưu thơng, nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới cho hàng hoá, thì phải bằng lao
động của mình.
Đến đây, C. Mác đã khẳng định “Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất
hiện ở bên ngồi lưu thơng. Nó phải xuất hiện trong lưu thơng và đồng thời khơng phải trong lưu
thơng”.
Đây chính là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản. Vấn đề ở đây là người có
tiền cần phải tìm thấy trên thị trường một thứ hàng hoá mà khi tiêu dùng nó, thì sáng tạo ra được giá trị,
hơn nữa lại sáng tạo ra một giá trị lốn hơn giá trị bản thân nó. Nói cách khác, người có tiền phải tìm
thấy trên thị trường một thứ hàng hố đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có thuộc tính là nguồn gốc của
giá trị. Hàng hố đặc biệt đó chính là sức lao động.
* Hàng hố sức lao động: (Giáo trình trang 54, 55). -> Nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí
sức lao động.
* Ý nghĩa nghiên cứu giá trị thặng dư:
* Ý nghĩa nghiên cứu hàng hoá sức lao động:
+ Vạch ra nguồn gốc của giá trị thặng dư, đó là lao động không công của người công nhân làm thuờ tạo
ra trong quá trình sản xuất và bị nhà tư bản chiếm đoạt
+ Chỉ ra bản chất cơ bản nhất của xã hội tư bản đó là sự bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê
+ Chỉ ra các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư như lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi tức, địa tơ
v.v
+ Chỉ ra được nguồn gốc, bản chất của tích luỹ tư bản v.v; và như vậy, lý luận hàng hóa sức lao động
chỉ ra q trình phát sinh, phát triền và diệt vong của chủ nghĩa tư bản.
* Điều kiện gỡ quyết định tiền biến thành tư bản. Tại sao?
Nghiên cứu công thức chung của tư bản T-H-T’ cũng chính là nghiên cứu những điều kiện
chuyển hố tiền tệ thành tư bản; mà thực chất là sự chuyển hoá quan hệ sản xuất giữa những người sản
xuất hàng hoá đơn giản thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Với khi đó đó hội đủ hai điều kiện để
tiền biến thành tư bản là có một lớp người được tự do về thân thể những lại khơng có tư liệu sản xuất,
với vậy muốn sống họ phải đem bán sức lao động của mạnh và một số ít người tập trung được số tiền đủ
để lập xí nghiệp, mua sức lao động tiến hành sản xuất nhằm bóc lột lao động làm thuê.
Câu 2. Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị
thặng dư? (Sự sản xuất giá trị thặng dư).
Trả lời
* Quá trình sản xuất giá trị thặng dư: (Giáo trình trang 55, 56 .. đến chỗ thời gian đó là thời
gian lao động thặng dư)
*Đặc điểm của quá trình sản xuất TBCN:
- Nhà tư bản sở hữu tư liệu sản xuất cho nên chỉ huy q trình sản xuất, người cơng nhân làm
th, bán sức lao động cho nhà tư bản, làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
- Sản phẩm sản xuất ra thuộc quyền sở hữu của nhà tư bản.
- Q trình sản xuất TBCN có tính 2 mặt, một mặt sản xuất ra giá trị sử dụng mặt khác sản xuất
ra giá trị thặng dư
Ta nghiên cứu mặt thứ hai của q trình này.
Ví dụ: về việc sản xuất sợi trong một nhà máy sản xuất sợi của CNTB.
Giả định rằng để sản xuất ra 10 kg sợi nhà tư bản phải mua 10kg bông với giá 10$. hao mịn
máy móc là 2$, th 1 công nhân lao động một ngày với giá là 3$. Nhà tư bản bắt công nhân làm việc 6
giờ , mỗi giờ lao động của người công nhân tạo ra một lượng giá trị mới là 0,5$.
Ta phân tích chi phí sản xuất và giá trị của 10kg sợi như sau
Chi phí sản xuất
Giá trị của 10 kg sợi
- Tiền mua bông 10$
-Giá trị TLSX( lao động quá khứ) : 12$
- Hao mịn máy móc 2$
-Giá trị mới: 0,5 x 6 giờ = 3$
- Tiền cơng
3$
Tổng chi phí sản xuất: 15$
Tổng giá trị hàng hóa; 15$
Nhà tư bản mang 10 kg sợi ra thị trường bán đúng giá trị thu được 15 $ đủ bù đắp lại chi phí sản
xuất, không thu được giá trị thặng dư m= 0. tiền chưa biến thành tư bản
Nhưng nhà TB không dừng lại ở đó, nhà tư bản đã th cơng nhân 1 ngày thì có quyền sử dụng
cả ngày. Ta phân tích trường hợp thứ hai. Nếu nhà tư bản bắt công nhân làm việc 12 giờ 1 ngày, sản
xuất ra 20 kg sợi.
Giá định rằng các định mức khác là không đổi, ta phân tích chi phí sản xuất và giá trị của 20kg
sợi như sau.
Chi phí sản xuất
- Tiền mua bơng 20$
- Hao mịn máy móc 4$
- Tiền cơng
3$
Tổng chi phí sản xuất: 27$
Giá trị của 10 kg sợi
-Giá trị TLSX( lao động quá khứ) : 24$
-Giá trị mới: 0,5 x 12 giờ = 6$
Tổng giá trị hàng hóa: 30$
Nhà tư bản mang 20kg sợi ra thị trường bán đúng giá trị thu được 30$, bù đắp lại chi phí sản
xuất và thu được giá trị thặng dư là 3$ (m=3$). Tiền đã biến thành tư bản.
Từ sự nghiên cứu trên ta rút ra những kết luận sau: (Nhận xét về quá trình sản xuất giá trị
thặng dư)
Thứ nhất; Phân tích giá trị của 20kg sợi ta thấy; giá trị cũ 24$ được lao động cụ thể của người
công nhân bảo tồn và chuyển vào sản phẩm mới, giá trị mới 6$ do lao động trừu tượng của người công
nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất.
Thứ hai: Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị kéo dài quá "một
điểm nhất định". Nếu chỉ kéo dài đến điểm đủ bù đắp lại giá trị sức lao động thì chỉ là sản xuất giá trị
giản đơn, cịn kéo dài q điểm đó mới là sản xuất giá trị thặng dư.
Thứ ba: Ngày lao động của người công nhân được chia làm 2 phần: thời gian lao động cần thiết
và thời gian lao động thặng dư. Thời gian lao động cần thiết là thời gian sản xuất ra một lượng giá trị
mới đủ bù đắp lại giá trị sức lao động (6 giờ đầu), thời gian lao động thặng dư là thời gian tạo ra giá trị
thặng dư (6 giờ sau).
Vậy, Giá trị thặng dư là một phần của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do lao động
của người công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Câu 3. Bản chất của tư bản. Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến?
Ý nghĩa nghiên cứu sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến?
Trả lời
* Bản chất của tư bản:
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê của công nhân.
Tư bản là một quan hệ sản xuất xã hội, là một phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong CNTB (bác bỏ
quan điểm cho rằng tư bản là máy móc thiết bị.
* Sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:
Căn cứ vào chức năng của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
C.Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến
*Tư bản bất biến (c)
Khái niệm: Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, khi tham gia vào q trình sản xuất giá
trị của nó được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là khơng có sự biến đổi về lượng gọi là tư bản bất
biến.
Tư bản bất biến bao gồm: Máy móc và ngun vật liệu
Ví dụ: tiền bơng 20$, khấu hao máy móc 4$. Tổng tư bản bất biến là 24$
Như vậy; tư bản bất biến đóng vai trị là điều kiện cần thiết trong q trình sản xuất giá trị thặng
dư (C.Mác ví nó như chiếc bình cổ cong trong phản ứng hóa học, nó khơng tham gia vào phản ứng
nhưng nếu thiếu nó thì phản ứng khơng thể thức hiện được).
*Tư bản khả biến (v)
Khái niệm: Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra nhưng thông qua lao
động trừu tượng của người công nhân làm thuê mà tăng lên tức là có sự biến đổi về lượng gọi là tư bản
khả biến.
Tư bản khả đóng vai trị quyết định sản xuất ra giá trị thặng dư, là điều kiện không thể thiếu để
sản xuất giá trị thặng dư.
- Như vậy nếu gọi G là giá trị hàng hoá thì có thể cơng thức hố giá trị hàng hố dưới dạng như
sau:
G bằng c +(v+m) với (v+m) là bộ phận giá trị mới của hàng hoá, c là giá trị những tư liệu sản
xuất đã đưược tiêu dùng đc chuyển vào trong giá trị mới.
C.Mác phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến đã vạch rõ bản chất bóc lột của
CNTB hay nguồn gốc của giá trị thặng dư. Chỉ có lao động làm thuê của công nhân mới tạo ra giá trị
thặng dư cho các nhà tư bản.
* Ý nghĩa nghiên cứu sự phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến, tư bản cố định và tư bản lưu
động
Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến là công lao vĩ đại của C.Mác. Sự
phân chia này đó vạch ra nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư là do tư bản khả biến tạo ra, cũng tư
bản bất biến tuy không phải là nguồn gốc của giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết không thể
thiếu. Như vậy, C.Mác đó chỉ ra vai trị khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình hình thành giá
trị nhờ sự Phân chia này.
Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị
thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trong trong việc quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng
vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao.
* Căn cứ phân chia tư bản bất biến, khả biến, cố định, lưu động:
- Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa vào vai trị của từng bộ phận tư bản trong q
trình sản xuất ra giá trị thặng dư, còn việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động là dựa vào
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong q trình sản xuất hay dựa vào tính chất
chu chuyển của tư bản.
- Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị
thặng dư. Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản
khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.
- Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị thặng
dư nhưng lại có ý nghĩa quan trong trong việc quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố
định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao.
c1 là giá trị máy móc, thiết bị, nhà xưởng...
c2 là giá trị nguyên, nhiên, vật liệu... v là tư bản khả biến
Vậy, tư bản bất biến = c1 + c2; tư bản khả biến = v; tư bản cố định = c1; tư bản lưu động = c2 + v.
Câu 4. Bản chất giá trị thặng dư, tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư? Ý nghĩa nghiên cứu tỷ
suất giá và khối lượng giá trị thặng dư?
Trả lời
* Bản chất giá trị thặng dư: (Giáo trình trang 62, 63)
* Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư với tư bản khả biến
cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó.
Cơng thức: ... Ví dụ: m= 3$, v =3$ ta có m' = 100%
Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh chính xác trình độ bóc lột của tư bản đối với lao động.
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong một ngày lao động của công nhân phần lao động thặng dư
mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu.
Do đó ta có thể tính tỷ suất giá trị thặng dư theo công thức sau:
Thời gian lao động thặng dư
m' =
100%
Thời gian lao động cần thiết
* Khối lượng giá trị thặng dư:
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư với tư bản khả biến đã được sử
dụng
M = m' x V
Vi dụ; m= 3$, m' =100% ta có M = 3x 100% = 3$
- Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mơ bóc lột của tư bản đối với lao động.
* Ý nghĩa nghiên cứu tỷ suất giá trị thặng dư:
Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất tư bản chủ nghĩa thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư,
nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có tác dụng mạnh
mẽ, địnch thích các cá nhân và tập thể người lao động ra sức cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý sản xuất,
tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất phát triển nhanh.
Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng số giá trị nới do sức lao động tạo ra thì cơng nhân được
hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu.
Tỷ suất giá trị thặng dư còn chỉ rõ, trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư
mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu
làm cho mình.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Câu 5. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, ý nghĩa của hai phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư, giá trị thặng dư siêu ngạch?
Trả lời
* Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Khái niệm: Là phương pháp kéo dài ngày lao động một cách tuyệt đối vượt quá thời gian lao
động cần thiết trong điều kiện năng suất lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết khơng đổi.
Ví dụ; Ngày lao động là 8 giờ,
+ Thời gian lao động cần thiết là 4 giờ,
+ Thời gian lao động thặng dư 4 giờ
Ta có tỷ suất giá trị thặng dư
4
m' =
100% = 100%
4
Nếu ngày lao động được kéo dài ra 12 giờ, thời gian lao động cần thiết không đổi, ngày lao
động sẽ đươch chia như sau:
+ Thời gian lao động cần thiết: 4 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 8 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư: 200%
Trong phương pháp này
Những nhân tố cố định
+ Năng suất lao động không đổi
+ Thời gian lao động cần thiết không đổi
Những nhân tố biến đổi
+ Ngày lao động được kéo dài ra (cường độ lao động tăng lên)
+ Thời gian lao động thặng dư tăng lên
+ Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên
+ Làm kiệt quệ sức lao động của công nhân
Phương pháp này được áp dụng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất chủ yếu bằng
công cụ thủ công, năng suất lao động xã hội thấp.
- Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hoá sức lao động phải tìm mọi cách để kéo dài
ngày lao động và tăng cường độ lao động.
Tuy nhiên, phương pháp này gặp phải giới hạn
+ Thời gian lao động cần thiết ≤ Ngày lao động ≤ 24 giờ.
+ Phong trào đấu tranh của cơng nhân địi rút ngắn thời gian lao động.
Vậy, giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động một cách
tuyệt đối vượt quá thời gian lao động cần thiết.
Khi sản xuất TBCN phát triển, năng suất lao động xã hội tăng, các nhà tư bản chuyển sang
phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Đó là phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư tương đối.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Khái niệm: Là phương pháp rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong điều kiện độ dài ngày
lao động khơng đổi, nhờ đó kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ
+ Thời gian lao động cần thiết: 4 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 4 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư m'= 100%
Nêu năng suất lao động tăng lên gấp đôi
Ngày lao động 8 giờ
+ Thời gian lao động cần thiết: 2 giờ
+ Thời gian lao động thặng dư: 6 giờ
Tỷ suất giá trị thặng dư là m'= 300%
Trong phương pháp này
Những nhân tố cố định
+ Ngày lao động không đổi
+ Cường độ lao động không đổi
Nhân tố biến đổi
+Năng suất lao động tăng lên
+ Thời gian lao động cần thiết giảm xuống
+Thời gian lao động thặng dư tăng lên.
+ Tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên.
+ Sức lao động được giảm nhẹ.
Vậy, Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động cần
thiết trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Muốn rút ngắn thời gian lao động cần thiết phải giảm giá trị sức lao động. Muốn hạ thấp giá trị
sức lao động phải giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết của công nhân. Muốn vậy phải tăng
năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu tiêu dùng hay tăng năng suất lao động
trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt đó.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu hai phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư:
Đối với nước ta hiện nay, do trình độ phát triển của LLSX cịn thấp kém, máy móc cũ kỹ, cơng
nghệ lạc hậu, năng suất lao động xã hội thấp, cần phải tăng cường độ lao động bằng cách kéo dài ngày
lao động, dể sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội. Nhưng về lâu dài cần phải phát
triển khoa học- kỹ thuật để tăng năng suất lao động xã hội.......
Qúa trình nghiên cứu 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cho thấy khi gạt bỏ mục đích và
tính chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản thì sản xuất giá trị thặng dư chính là khoa học sử dụng lao động
có hiệu quả nhất mà bất kỳ xã hội nào cũng cần phải quan tâm. Bởi vậy, các phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất tăng năng suất
lao động xã hội, sử dụng kĩ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lí, tiết kiệm chi phí sản xuất.
Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị
thặng dư gợi ra cho nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp,để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần tận dụng triệt
để các nguồn lực nhất là lao động và sản xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài cần phải coi trọng việc tăng
năng suất lao động xã hội, đẩy manh công nghiệp hoa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ
bản để tăng năng suất lao động xã hội.
Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trị to lớn của nó đem lại những tiến bộ vượt bậc và
thành tựu kinh tế cho CNTB. Nước ta nói riêng và các nước XHCN nói chung cần nỗ lực không ngừng
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
trên con đường của mình để xây dựng XHCN trên thế giới. Riêng nước ta, đang trong giai đoạn độ lên
CNXH từ chế độ PK bỏ qua giai đoạn TBCN với xuất phát điểm là một nền kinh tế lạc hậu chủ yếu là
dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Vì vậy,
chúng ta phải học tập những thành tựu mà CNTB đã đjat được trong đó quan tâm đặc biệt đến quy luật
kinh tế cơ bản của nó là giá trị thặng dư, suaqr chữa quan niệm sai lầm trước kia trong xây dựng kinh tế.
* Giá trị thặng dư siêu nghạch:
Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu trội hơn mức bình thường của xã
hội do giá trị cá biệt của hàng hóa nhỏ hơn giá trị xã hội.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là động thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, đổi mới phương
pháp sản xuất để tăng năng suất lao động cá biệt nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hóa.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời đối với nhà tư bản nào có kỹ thuật cao
nhất, khi kỹ thuật đó được phổ biến trong tồn ngành thì giá trị thặng dư siêu ngạch đó mất đi, nhưng nó
lại xuất hiện khi một nhà tư bản khác có kỹ thuật mới hơn.
- Giá trị thặng dư siêu ngạch là một hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối vì chúng
đều do tăng năng xuất lao động, nhưng giá trị thặng dư siêu ngạch là do tăng năng xuất lao động cá biệt,
còn giá trị thặng dư tương đối là do tăng năng suất lao động xã hội.
* So sánh giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là một biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Chỗ khác nhau
giữa chúng chỉ là một bên thu được do tăng năng suất lao động xã hội, còn bên kia - bên giá trị thặng dư
siêu ngạch - thì được tạo ra nhờ biết áp dụng kỹ thuật mới, biết áp dụng cơng nghệ tiến bộ và các
phương pháp quản lý hồn thiện hơn trong tổ chức sản xuất. Trong hoạt động kinh tế tư bản chủ nghĩa,
giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản
chiếm đoạt, vì vậy mà ln ln có cuộc đấu tranh của cơng nhân làm th chống lại sự chiếm đoạt đó:
Đấu tranh chống kéo dài thời gian làm việc trong ngày để chống bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối; đấu
tranh chống việc nhà tư bản rút ngắn thời gian lao động cần thiết và tăng tương ứng lao động thặng dư
để chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch. Cuộc đấu tranh chống bóc lột giá trị thặng dư siêu ngạch
về thực chất là sự phản ứng lại đối với những cải tiến trong áp dụng kỹ thuật mới, phản ứng lại sáng
kiến trong ứng dụng công nghệ tiến bộ và việc áp dụng những phương pháp tổ chức sản xuất hoàn thiện
hơn . Thật ra, sự đấu tranh của giai cấp thợ thuyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để chống lại sự bóc lột
giá trị thặng dư nói chung, là nhằm vào một chủ điểm: Chống việc nhà tư bản chiếm đoạt hoàn toàn giá
trị thặng dư cụ thể là cả ba thứ giá trị thặng dư vừa nêu trên.
* Ý nghĩa nghiên cứu giá trị thặng dư siêu ngạch:
Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà
tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng cơng nghệ mới vào sản xuất, hồn thiện tổ chức lao động và tổ chức
sản xuất để tăng năng xuất lao động giảm giá trị của hàng hoá.
Câu 6. Sản xuất giá trị thặng dư- quy luật kinh tế cơ bản (tuyệt đối) của CNTB.
Trả lời
Quy luật kinh tế tuyệt đối là quy luật kinh tế phản ánh mặt bản chất của nền sản xuất. Nó chỉ rõ
mục đích của nền sản xuất, phương tiện để đạt được mục đích. Nó chi phối các quy luật kinh tế khác
trong hệ thống. Nó quy định sự vận động phát triển và diệt vong của một phương thức sản xuất.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Trong CNTB có một hệ thống các quy luật kinh tế hoạt động trong đó quy luật sản xuất giá trị
thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối (cơ bản)
Nó chỉ rõ mục đích của nền sản xuất TBCN là sản xuất ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản.
Phương tiện để đại được mục đích là tăng cường bóc lột sức lao động của cơng nhân làm thuê.
Nó chi phối các quy luật kinh tế khác trong hệ thống như quy luật canh tranh, quy luật tích tụ và
tập trung tư bản, quy luật cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên...
Quy luật sản xuất giá trị thặng dư đã thúc đẩy LLSX phát triển, khi LLSX phát triển đến một
mức độ nhất định sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất TBCN về mặt xã hội biểu hiện thành mâu thuẫn
giai cấp, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản, tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội, thay thế
xã hội tư bản chủ nghĩa bằng một hình thái kinh tế xã hội mới xã hội CSCN.
* Quy luật sản xuất giá trị thặng dư:
Quy luật sản xuất giá trị thặng dư theo kinh tế chính trị Marx-Lenin là một trong những quy luật
kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Nội dung quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều hơn
giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột cơng nhân làm th. Nếu quy luật kinh tế cơ bản của sản
xuất hàng hóa là quy luật giá trị thì quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là quy luật
giá trị thặng dư.
Có thể thấy vì giá trị thặng dư là cội nguồn sinh ra sự giàu có, sung túc vì xuất hiện giá trị mới,
nên để duy trì và phát triển sự giàu có, dơi dư này, giai cấp tư sản có xu hướng khơng ngừng sản xuất ra
càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, sản xuất với quy mô ngày càng lớn hơn trước. Những lợi tức, tiền
bạc thu được đều được đưa vào tái đầu tư, tái sản xuất, thuê mua nguyên vật liệu nhà xưởng để vận
hành tạo giá trị thặng dư.
* Đặc điểm:
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản vì theo kinh tế chính trị
Mácxit nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế của
xã hội tư bản. Khơng có sản xuất giá trị thặng dư thì khơng có chủ nghĩa tư bản. Theo Mác, chế tạo ra
giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở đâu có sản xuất
giá trị thặng dư thì ở đó có chủ nghĩa tư bản, ngược lại, ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có sản xuất
giá trị thặng dư. Lênin gọi quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
Sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thường xuyên của
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy sự vận động, phát triển của chủ
nghĩa tư bản đồng thời nó làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc.
Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản:
+ Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động
+ Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân.
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
Quy luật giá trị thặng dư đứng đằng sau cạnh tranh tư bản chủ nghĩa. Với mục đích là thu được
ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư, các nhà tư bản cạnh tranh với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có được
quy mơ giá trị thặng dư lớn hơn, tỉ suất giá trị thặng dư cao hơn.
Để sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản ra sức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, cải tiến sản xuất. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất có tính chất
xã hội hố ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt.
Câu 7. Bản chất của tiền công trong CNTB, các hình thức của tiền cơng?
Trả lời
* Bản chất tiền cơng:
Cơng nhân sau một khoảng thời gian lao động cho nhà tư bản hoặc sau khi hồn thành xong một
cơng việc nào đó thì nhận được một số tiền cơng. Điều này đã dẫn đến một sự nhầm lẫn cho rằng tiền
công là giá cả của lao động.
C.Mác đã chứng minh, tiền công không phải là giá cả của lao động, lao động khơng phải là hàng
hóa.
Chứng minh
Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được vật hóa thành các vật có hình thức cụ thể.
Điều kiện đê lao động được vật hóa là phải có TLSX, nếu người lao động có TLSX thì người lao động
sẽ sản xuất ra hàng hóa để bán chứ khơng bán lao động.
Thứ hai, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải có giá trị, mà thước đo nội tại của giá trị là lao
động, vậy lao động lại được đo bằng lao động thì đây là một điều luẩn quẩn vơ nghĩa.
Thứ ba, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được trao đổi ngang giá mà nếu trao đổi ngang giá
thì nhà tư bản khơng thu được giá trị thặng dư điều này phủ nhận quy luật giá trị thặng dư và CNTB
khơng tồn tại, cịn nếu trao đổi khơng ngang giá thì phủ nhận quy luật giá trị.
Như vậy lao động khơng phải là hàng hóa, chỉ có sức lao động mới là hàng hóa.
Tiền cơng chính là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay tiền cơng là giá cả của
hàng hóa sức lao động.
* Các hình thức cơ bản của tiền cơng
- Tiền cơng tính theo thời gian
- Tiền cơng tính theo sản phẩm
* Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình
cho nhà tư bản. Tiền cơng được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải
được chuyển hố thành tiền cơng thực tế.
Tiền cơng thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hố tiêu dùng và dịch vụ mà
cơng nhân mua được bằng tiền cơng danh nghĩa của mình.
Tiền cơng danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự
biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó,
Downloaded by Con Ca ()
lOMoARcPSD|11809813
nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hoặc giảm
xuống, thì tiền cơng thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên.
Câu 8. Bản chất và động cơ của tích lũy tư bản, các nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích luỹ? Ý
nghĩa nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích luỹ?
Trả lời
* Bản chất của tích luỹ tư bản:
- Để nghiên cứu bản chất của tích luỹ tư bản cần nghiên cứu về tái sản xuất:
Tái sản xuất quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại liên tục không ngừng. Tái sản xuất giản đơn là
tái sản xuất được lặm đi lặp lại với quy mô năm sau giống quy mô năm trước.
Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại với quy mô nă sau lớn hơn quy mô
năm trước.
Đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là tái sản xuất mở rộng.
*Tái sản xuất giản đơn
Ví dụ: Tư bản ứng trước là 1000 (trong đó 800c và 200v) m’ =100%
Ta có:
Quy mơ sản xuất năm thứ 1 là 800c +200v + 200m =1200
Toàn bộ 200m giá trị thặng dư tiêu dùng hết cho nên
Quy mô sản xuất năm thứ 2 là 800c +200v +200m = 1200
Ví dụ về tái sản xuất mở rộng
Ví dụ: Tư bản úng trước 1000 ( trong đó 800c và 200v) m’ =100%
- Quy mô sản xuất năm thứ 1: 800c +200v +200m =1200
200m được chia thành 2 quỹ (100m1 để tích lũy và 100m2 để tiêu dùng) 100m1 lại được chia
thành 80c và 20v)
- Quy mô sản xuất năm thứ 2: 880c + 220v + 220m = 1320
(220m chia làm 2 phần 110m1 tích lũy và 110m2 tiêu dùng), 110m1 lại được chia thành 85c và
25v
-Quy mô sản xuất năm 3: 965c + 245v +245m
Như vậy, quy mô tư bản ứng trước là 1000, năm thứ hai đã tăng lên 1100, năm thứ 3 tăng lên
1210, q trình đó cứ tiếp diễn cho đến năm thứ n quy mô tư bản là rất lớn.
Như vậy, thực chất của tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản
hay là q trình tư bản hóa giá trị thặng dư.
* Động cơ tích lũy tư bản:
+ Do cạnh tranh
+ Theo đuổi lợi nhuận
+ Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật
* Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích luỹ: (Giáo trình trang 67)
* Ý nghĩa nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích luỹ:
Từ việc nghiên cứu vấn đề trên ta thấy được tích luỹ tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tích
luỹ vốn cho sản xuất. Để nâng cao quy mơ tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động XH, tăng
năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị và tăng quy mơ vốn đầu tư
Downloaded by Con Ca ()