Phần 3.2 : giải pháp thu hút vốn FDI nhằm tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam trong thời
gian tới
Để tiếp tục thu hút, thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI
trong các năm tới, cần có sự thống nhất về vai trị của FDI trong nền kinh tế nước ta. Cần
xác định chính sách thu hút FDI là một bộ phận trong chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của cả nước, từ đó xây dựng kế hoạch cụ thể, có tính khả thi cao để thu hút vốn FDI.
Có 9 nhóm giải pháp cần ưu tiên triển khai thực hiện, cụ thể là:
1. Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách:
– Tiếp tục rà sốt pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các nội dung
không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn thiếu và loại bỏ các điều kiện
áp dụng ưu đãi đầu tư không phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO.
_Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động thu hút FDI, như xây dựng hệ
thống pháp luật hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao, hồn thiện hệ thống pháp lý chung về
kinh tế để tạo lập mơi trường kinh doanh bình đẳng. . Thực hiện đa dạng hóa các hình
thức hoạt động FDI, đẩy mạnh việc thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp FDI.
– Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát
hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn các
luật mới, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua trong thời gan gần đây có liên
quan đến đầu tư, kinh doanh.
– Hồn thiện và triển khai có hiệu quả các chính sách về thuế và ưu đãi tài chính, chính
sách về cơ cấu đầu tư, chính sách đất đai. Tiếp tục thực hiện việc giảm chi phí đầu tư,
điều chỉnh giá các loại hàng hóa dịch vụ như viễn thơng,vận tải,. Thực hiện miễn, giảm
tiền thuê đất trong một số năm để thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh.
Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các cơng trình phúc
lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
– Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các dự án công nghệ
lạc hậu; dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất,
giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án, tránh lập dự án lớn để giữ đất, không triển khai;
cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất KCN.
_ Cần có cơ chế pháp lý rõ ràng hơn, tốt hơn để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, lúc đó mới
kéo được PPP vào trong đầu tư hạ tầng. Cùng với đó là các cơ chế về giải quyết tranh
chấp, bảo vệ nhà đầu tư, nếu cứ dùng các quyết định hành chính sẽ khơng bảo vệ được
nhà đầu tư mà cần có cơ chế giải quyết tranh chấp.
2. Nhóm giải pháp về quy hoạch:
– Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch cịn thiếu; rà sốt để định kỳ
bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư
trong việc xác định và xây dựng dự án.
– Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật Đầu tư trong công tác
quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với
các cam kết quốc tế.
– Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện để đẩy
nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm
bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
_Thông qua quy hoạch, xác định dự án cần thiết gọi vốn theo thứ tự ưu tiên cần thiết về
ngành nghề, thời gian và địa điểm cụ thể. Trong quá trình quy hoạch và chuẩn bị dự án
đầu tư trực tiếp phải hết sức chú ý sự cần thiết gọi vốn đầu tư nước ngồi của từng dự án.
3. Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng:
– Tiến hành tổng rà sốt, điểu chỉnh, phê duyệt và cơng bố các quy hoạch về kết cấu hạ
tầng làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên
các lĩnh vực :
+ Cấp, thốt nước, vệ sinh mơi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.)
+ Hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt
Nam-Trung Quốc
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc-Nam,
đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển
lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đơ thành phố
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
+ Sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt
năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thơng, cơng nghệ thơng tin.
– Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ
cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ
thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như
hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện…
– Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết của ta với
WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn hóa-y tế-giáo dục,
bưu chính-viễn thơng, hàng hải, hàng khơng.
_ Cần phát huy mọi nguồn lực sẵn có trong nước. Xây dựng đi đôi với nâng cấp, cải tạo.
Nhanh chóng xây dựng hồn chỉnh hạ tầng, cơng nghệ thơng tin và xây dựng hệ thống
thông tin kinh tế - xã hội, cơ sở dữ liệu hỏi đáp phục vụ xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện để
các tổ chức, nhà đầu tư trong và ngồi nước có thể dễ dàng tìm hiểu, khai thác thơng tin
trên mạng.
4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực:
_ Đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp FDI bao gồm công nhân, cán bộ kĩ thuật
và cán bộ quản lý, vừa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp FDI, vừa chuẩn bị nguồn
nhân lực cho sự phát triển của đất nước.
– Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao
động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình cơng bất hợp pháp, lành mạnh
hóa quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ luật Lao động, bao gồm:
+ Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về lao động, tiền lương phù hợp trong tình
hình mới; tăng cường cơng tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động
đối với người sử dụng lao động nhằm đảm bảo điều kiện làm việc và đời sống cho người
lao động.
+ Nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động thông qua phổ biến, tuyên truyền và giáo
dục pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngồi để đảm bảo chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực
hiện đầy đủ, nghiêm túc.
_ Cần phải có kế hoạch đào tạo một cách thường xuyên, liên tục, đặc biệt chú trọng cán
bộ trực tiếp tham gia trong các liên doanh. Cần chuẩn bị những cán bộ có kiến thức đối
ngoại, am hiểu luật đầu tư nước ngoài, các luật lệ khác có liên quan, biết ngoại ngữ.
5. Nhóm giải pháp về giải phóng mặt bằng:
_ Làm tốt các cơng tác giải phóng mặt bằng và cung cấp hạ tầng hàng rào ; tập trung xây
dựng hệ thống giao thông quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết tốt các
yêu cầu về giao thông cho các khu cơng nghiệp, các dự án đầu tư lớn.
_ Chính quyền địa phương cần tăng cường sự chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành
ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư
nhà nước khơng có khả năng triển khai, hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất
đã được giao để chuyển cho các dự án đầu tư mới có hiệu quả hơn.
_ Đồng thời, trong phạm vi thẩm quyền của mình, chủ động tổ chức việc đền bù giải tỏa
và giao đất cho chủ đầu tư theo đúng cam kết, đặc biệt là các dự án quy mô lớn mà chủ
đầu tư sẵn sàng giải ngân thực hiện dự án. Nghiên cứu đề xuất với Bộ Kế hoạch và Đầu
tư phương án xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án, vượt quá
thẩm quyền của mình, để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
6. Nhóm giải pháp về phân cấp:
Nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực FDI theo hướng
tiếp tục cải tiến thủ tục cấp giấy phép, khắc phục sự trì trệ trong các cơ quan quản lý Nhà
nước, đơn giản thủ tục hành chính theo nguyên tắc “ một cửa, một đầu mối “. Thực hiện
phân cấp quản lý Nhà nước về FDI cho các địa phương trên cơ sở bảo đảm thống nhất về
quy hoạch, chính sách và cơ chế quản lý.
7. Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư:
– Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đồn đa quốc
gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đồn và các đối tác trọng điểm như các
quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…
– Nhanh chóng hồn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án (project profile) đối
với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài để làm cơ sở cho việc kêu gọi
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án này.
– Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục
kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy hoạch phát triển địa phương, ngành,
lĩnh vực, sản phẩm.
– Nghiên cứu việc xây dựng Văn bản pháp quy về công tác Xúc tiến đầu tư nhằm tạo cơ
sở pháp lý thống nhất cho công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực
hiện các hoạt động Xúc tiến đầu tư.
– Tổ chức khảo sát, nghiên cứu về mơ hình cơ quan Xúc tiến đầu tư ở các địa phương để
có cơ sở trong việc hướng dẫn các địa phương tổ chức cơ quan Xúc tiến đầu tư hiệu quả
hơn.
– Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói riêng
và quản lý đầu tư nói chung. Vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở các
lớp đào tạo về xúc tiến và quản lý ĐTNN; tiếp tục kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư
kết hợp các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh đạo cấp cao Đảng, Quốc hội,
Chính phủ nhằm quảng bá mơi trường đầu tư Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ và nâng cao
hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư- thương mại – du lịch; khẩn trương triển khai việc
thành lập các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm theo kế hoạch.
_ Ngoài việc đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động để tạo dựng
hình ảnh về một đất nước Việt Nam năng động, muốn là bạn với tất cả các nước trên thế
giới, chúng ta cũng cần tăng cường công tác nghiên cứu thị trường đối tác, nâng cao chất
lượng thông tin, thành lập một bộ phận xúc tiến đầu tư tại các Bộ, ngành, Tổng công ty
lớn và một số địa bàn trọng điểm. Tích cực hợp tác với các địa phương trong vùng đẩy
mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư theo một kế hoạch, mục tiêu dài hạn.
8. Xử lý các doanh nghiệp FDI “vốn mỏng” nhằm hạn chế tình trạng thất thu thuế
thơng qua chuyển giá.
_ Hiện nay, Việt Nam chưa có quy định về “vốn mỏng” trong khi ở một số quốc gia đã có
quy định cụ thể. Tại New Zealand, Australia, Nhật Bản, Hà Lan... doanh nghiệp có tỉ lệ
vốn vay/vốn chủ sở hữu vượt quá 3/1 thì được coi là “vốn mỏng”. Các quốc gia này cũng
đưa ra những quy định cụ thể về việc kiểm soát lãi phải trả đối với phần vốn vay, nếu
vượt quá tỉ lệ 3/1 sẽ không được coi là chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
(TNDN). Trong thời gian tới, vốn mỏng cần được quy định cụ thể, thậm chí là đưa vào
luật tại Việt Nam. Như vậy, có nghĩa là các doanh nghiệp có tỉ lệ vốn vay/vốn chủ sở hữu
là 3/1 trở lên sẽ được coi là “vốn mỏng”, phần chi phí lãi vay vượt quá tỉ lệ này sẽ không
được coi là khoản chi phí được khấu trừ thuế TNDN. Điều này sẽ hạn chế được tình trạng
chuyển giá.
9. Một số giải pháp khác:
– Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng, tiêu cực và tình trạng nhũng nhiễu
đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước.
– Tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xử lý vấn đề môi trường, vấn đề
đình cơng trái pháp luật của các doanh nghiệp FDI.
– Triển khai tốt việc xây dựng hệ thống quản lý thông tin ĐTNN theo Quyết định số
43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ, đảm bảo thơng tin phục vụ
cơng tác quản lý, điều hành.
– Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành với các
nhà đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm để xử lý kịp thời các khó khăn,
vướng mắc của các dự án trong q trình thực hiện chính sách và phát luật hiện hành,
đảm bảo các dự án hoạt động đúng tiến độ và hiệu quả, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin
của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tạo hiệu ứng lan
tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới.
_ Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo thuận
lợi và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua những tác động của dịch bệnh COVID-19.
Tiếp theo, cần chủ động quảng bá, mời gọi các tập đoàn đa quốc gia, các công ty và
thương hiệu tên tuổi đầu tư vào Việt Nam; đặc biệt là từ các khu vực có thế mạnh về cơng
nghệ, vốn, kỹ năng quản lý như: Mỹ, EU, Nhật Bản.
_ Hiện nay, đang có rất nhiều nhà đầu tư nước ngồi, trong đó có nhà đầu tư Hàn Quốc
quan tâm và muốn đầu tư vào Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam đang nổi lên là một :
điểm sáng “ và là một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn sau đại dịch. Bởi vậy, Việt
Nam cần chủ động nắm bắt “ thời cơ vàng “ này để khơng những góp phần khơi phục
kinh tế trong nước sau đại dịch, mà còn bứt phá lên một vị thế khác trên trường quốc tế.