Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC QUẢN LÍ, GIÁO VIÊN MẦM NON NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI NĂM 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.48 MB, 20 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG BDCB GIÁO DỤC
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
CHƯƠNG TRÌNH
BỒI DƯỠNG CƠNG CHỨC, VIÊN CHỨC QUẢN LÍ, GIÁO VIÊN MẦM NON
NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI NĂM 2019
Tên chuyên đề: "Tiếp cận học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt
động giáo dục lĩnh vực phát triển Thẩm mĩ".
Thời lượng: 20 tiết (bao gồm lý thuyết và thực hành, viết bài thu hoạch)
A. GIỚI THỆU TỔNG QUAN
Chuyên đề "Tiếp cận học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động
Giáo dục lĩnh vực phát triển Thẩm mĩ" giúp cho người học hiểu rõ hơn vấn đề cốt lõi,
nguyên tắc cơ bản của việc học và tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mầm non thông
qua chơi. Từ quan điểm đó người học đánh giá, so sánh thực trạng tổ chức hoạt động giáo
dục phát triển thẩm mỹ với yêu cầu đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học nói chung
và hoạt động giáo dục phát triển thẩm mỹ nói riêng, đề xuất hình thức tổ chức hoạt động
phát triển thẩm mỹ, lựa chọn nội dung phù hợp với trẻ, điều kiện thực tế và nhu cầu phát
triển của xã hội.
Chuyên đề gồm 02 phần:
Phần 1: Thực trạng phát triển thẩm mỹ cho trẻ mầm non
Phần 2: Định hướng đổi mới tổ chức các hoạt động GD lĩnh vực phát triển thẩm
mỹ.
* Các từ viết tắt trong tài liệu:
- Hoạt động: HĐ
- Cán bộ quản lý: CBQL
- Phát triển thẩm mỹ: PTTM
- Giáo viên:GV
- Công nghệ thông tin: CNTT
- Giáo dục và Đào tạo: GDĐT
- Hoạt động tạo hình: HĐTH
- Giáo dục mầm non: GDMN


- Hoạt động âm nhạc: HĐÂN
- Giáo dục: GD
- Kết quả mong đợi: KQMĐ
- Kế hoạch: KH
- Giáo dục Tình cảm- Xã hội: GD TC-XH
B. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Học viên hiểu thực trạng tổ chức hoạt động GD PTTM trong các cơ sở GDMN.
- Hiểu hoạt động âm nhạc, tạo hình được coi là các phương tiện nghệ tḥt góp
phần hình thành, phát triển cảm xúc và tình cảm thẩm mỹ cho trẻ.
- Học viên hiểu rõ yêu cầu đổi mới, mục tiêu (kết quả mong đợi) lĩnh vực thẩm
mỹ trong Chương trình GDMN theo nguyên tắc đồng tâm phát triển, trên cơ sở đó giáo
viên xây dựng kế hoạch giáo dục, thiết kế môi trường, phong phú, sáng tạo, phù hợp với
độ tuổi trẻ và định hướng “lấy trẻ làm trung tâm”.
2. Kỹ năng
- Vận dụng các nguyên tắc, định hướng đổi mới HĐPTTM, GV biết cách lựa chọn
nội dung, đề tài giảng dạy, tận dụng đồ dùng, học liệu trong môi trường GD, áp dụng linh
hoạt các phương pháp giáo dục tiên tiến để tổ chức các HĐ GD, HĐ PTTM theo hướng
đổi mới.
- Nâng cao kỹ năng âm nhạc (lựa chọn bài hát, hát, sử dụng nhạc cụ âm nhạc..),
nghệ thuật tạo hình sáng tạo, cách khai thác các nguồn tư liệu có chất lượng trên Internet
để đưa vào dạy trẻ.
1


- GV có kỹ năng theo dõi sự phát triển cá nhân trẻ, mức độ PTTM của trẻ để có kế
hoạch điều chỉnh hoạt động giáo dục kịp thời.
- Trao đổi, hướng dẫn đồng nghiệp.
3. Thái độ:
- Học viên học đủ số tiết, báo cáo thu hoạch theo quy định.

- Có ý thức tự học, tự nghiên cứu, tích cực trao đổi, thảo luận và nhận thức về sự
cần thiết đổi mới hình thức tổ chức các HĐGD trong thực hiện chương trình giáo dục nhà
trường.
C. CHUẨN BỊ:
1. Ban tổ chức chuẩn bị: Máy chiếu, giấy A4, bút, tài liệu.
2. Học viên cần nghiên cứu các tài liệu:
- Sách Chương trình GDMN (Chương trình ban hành kèm theo Thơng tư 28/2016/TTBGDĐT ngày 30/12/2016 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình GDMN ban hành
kèm theo TT số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ GDĐT).
- Các tài liệu tham khảo về GD PTTM cho trẻ mầm non:
+ Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non - Tác giả Lê Thanh
Thủy - Nhà xuất bản đại học sư phạm.
+ Giáo dục âm nhạc (phương pháp giáo dục âm nhạc) Tập 1, 2 - Tác giả Phạm Thị
Hịa; Ngơ Thị Nam - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
+ Các hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non - Tác giả Lê Thị Đức - Lê Thanh Thủy
- Phùng Thị Tường - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
+ Các hoạt động âm nhạc cho trẻ mầm non - Tác giả Lý Thu Hiền - Phạm Thị Hòa
- Lê Thị Đức - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
- Các tài liệu BDTX của Sở GDĐT, trường BDCBGD đã ban hành:
+ Tài liệu “Nội dung bồi dưỡng mơn tạo hình trong trường mầm non” tháng 9/
2014. Giảng viên: Thầy Vương Cảnh Tuất-GV mơn Tạo Hình-Khoa Mỹ thuật-Trường
CĐSP TƯ.
+ Tài liệu bồi dưỡng Âm nhạc - Năm học 2014-2015. Giảng viên Lý Thu Hiền TT NCGDMN.
+ Qui chế nuôi dạy trẻ: năm 2001.
+ Xây dựng Kế hoạch giáo dục trong các cơ sở GDMN: tháng 6/2016.
+ Một số nội dung bổ sung thực hiện qui chế chuyên môn theo chế độ sinh hoạt
một ngày tại cơ sở GDMN: Tháng 6/2016.
+ Hướng dẫn XD môi trường GD, tổ chức HĐ góc trong cơ sở GDMN:tháng
10/2016
+ Đổi mới tổ chức hoạt động GD lĩnh vực phát triển nhận thức: tháng 6/2017.
+ Đổi mới tổ chức hoạt động GD lĩnh vực phát triển ngôn ngữ: tháng 7/2018.

D. NỘI DUNG CHI TIẾT
Phần I. Thực trạng việc tổ chức hoạt động thẩm mỹ trong các cơ sở GDMN
1. Ưu điểm
- Nhiều nhà trường sáng tạo trong thiết kế các phòng chức năng, các khu vực, sân
vườn thành không gian nghệ thuật đẹp, lôi cuốn trẻ, có ảnh nhạc sĩ, họa sĩ, tranh ảnh, các
bức tượng, trang thiết bị hiện đại.
- Các CBQL, GV nắm vững phương pháp tổ chức hoạt động GD phát triển thẩm
mỹ, biết cách sưu tầm các bản nhạc, bài hát, tận dụng nguyên liệu sẵn có tại địa phương
để dạy trẻ. Một số giáo viên có năng khiếu ÂN hát và sử dụng nhạc cụ, có năng khiếu tạo
hình tốt, đam mê nghệ thuật, tâm huyết nghề đã tự tìm hiểu các hình thức tổ chức hoạt
động tạo hình, ÂN quốc tế vận dụng dạy trẻ tại trường, lớp đạt hiệu quả cao.
2


- Nhiều nhà trường đã trú trọng phát triển Chương trình Giáo dục, bổ sung các nội
dung GD, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường sử dụng đa dạng các học liệu phù
hợp, tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm về tạo hình, âm nhạc như các trường chất lượng
cao, các trường điểm, các trường có định hướng chuyên sâu về lĩnh vực nghệ thuật đã áp
dụng phương pháp giáo dục tiên tiến, đưa các loại hình nghệ thuật hiện đại, mới, hấp dẫn
phù hợp vào dạy trẻ.
- Nhiều trường mầm non đã tổ chức tốt công tác bồi dưỡng GV. Phối hợp PHHS,
xã hội hóa tổ chức các chương trình hoạt động, trị chơi… phong phú sáng tạo phù hợp
ngày hội, lễ, chuyên đề tạo hình, âm nhạc…đổi mới hoạt động và khuyến khích, phát
hiện tài năng của trẻ.
2. Khó khăn, hạn chế tồn tại trong tổ chức hoạt động GD lĩnh vực thẩm mỹ
- Nhiều CBQL, GV chưa thực sự nghiên cứu để hiểu tinh thần đổi mới “học qua
chơi và đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục” các lĩnh vực trong thực hiện
Chương trình GDMN, trong các tài liệu tập huấn đại trà hàng năm của Sở GDĐT, kiến
tập đổi mới hoạt động giáo dục và các tài liệu chỉ đạo, tham khảo của Bộ GDĐT….
- Phương pháp, hình thức, địa điểm tổ chức, tiến trình hoạt động, nhận xét sản

phẩm cịn dập khuôn cố định theo truyền thống thực hiện được đào tạo căn bản từ nhiều
năm hoặc chỉ chọn nội dung sẵn có trong Chương trình GDMN, GV chưa tự tin, chưa
mạnh dạn ứng dụng thay đổi hình thức, tiến trình tổ chức các hoạt động tạo hình, âm
nhạc, thể loại, chất liệu, kỹ năng, chưa bổ sung các nội dung, tác phẩm ÂN, tạo hình mới
sẵn có gần gũi với cuộc sống của trẻ.
- CBQL, GV chưa quan tâm đến việc tạo khơng gian nghệ thuật trong và ngồi lớp
học, tạo cảm hứng vui tươi của hoạt động mang tính nghệ thuật, chưa quan tâm đến cảm
xúc, hứng thú của trẻ, tạo nên đứa trẻ thụ động làm theo cô, nhìn cơ và nói theo cơ.
Khơng phát hiện được năng khiếu, năng lực cá nhân của từng trẻ để có biện pháp hỗ trợ,
khuyến khích, tạo cơ hội để trẻ được phát triển tố chất nghệ thuật.
- Một số CBQL, GV còn hạn chế về kiến thức, kỹ năng âm nhạc, tạo hình cơ bản
(các loại hình nghệ thuật, xướng âm, cao độ, tiết tấu, giai điệu, tính chất âm nhạc…đường
nét, bố cục, màu sắc trong tạo hình…) nhưng chưa chịu khó tự học nâng cao chun mơn
nghiệp vụ.
Phần II: Định hướng đổi mới tổ chức hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển
thẩm mỹ
(Mỗi CBQL, GV đọc, hiểu, tự suy nghĩ và thay đổi trong tổ chức thực hiện cơng
tác chăm sóc ni dưỡng GD trẻ tại trường, lớp mầm non => đảm bảo được cam kết với
cha mẹ trẻ, tạo thương hiệu cho nhà trường)
1. Định hướng phát triển chương trình đối với lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ:
- Đảm bảo mục tiêu của môn học. Từ đơn giản đến phức tạp. Đảm bảo tính lơgic.
- Phù hợp năng lực theo độ tuổi, nhu cầu, mong muốn của đứa trẻ.
- Từ cái chung đến cái riêng (đặc điểm văn hóa vùng miền, địa phương)
- Tính hiện đại (cập nhật) và hữu ích, nội dung giáo dục vừa giữ được giá trị nghệ
thuật âm nhạc, tạo hình truyền thống đồng thời tiếp cận các xu hướng âm nhạc, tạo hình
hiện đại đa dạng về thể loại, phù hợp với độ tuổi. VD: Âm nhạc (Dân ca, Hát ru, Giao
duyên, Rock, Balade, nhạc Giao hưởng, Nhạc kịch. Acapella); Tạo hình: (Vẽ, Nặn, Xé,
Cắt dán, Trang trí, In dập, tranh Đơng Hồ, tranh Trừu tượng..) và chất liệu Tạo hình: Bút
màu, bút sáp, phấn màu, màu nước, màu bột, sơn dầu ..
- Phong phú về hình thức thể hiện âm sắc của các loại nhạc cụ (Trống, Thanh

phách, Mõ, Song loan, đàn Organ, Guitar..)
2. Định hướng đổi mới tổ chức các hoạt động giáo dục:
3


- Giáo viên cần có khả năng quan sát, đánh giá để đáp ứng:
+ Khả năng của trẻ như thế nào?
+ Mục tiêu phải lượng hóa được, có thể quan sát, đánh giá được vào cuối bài học
+ Trẻ cần và muốn biết cái gì? (kiến thức, kỹ năng)
+ Trẻ cần được học và chơi thông qua các hoạt động sinh động, vui vẻ
+ Các kết quả mong đợi có đạt được không?
- Tổ chức các hoạt động giáo dục lĩnh vực phát triển thẩm mỹ dựa trên cách học và
hứng thú nhận thức của trẻ. Đảm bảo nguyên tắc giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”, mỗi
đứa trẻ là một sự khác biệt, chúng khác nhau về mức độ tiếp thu kiến thức và mức độ
hình thành kỹ năng, vì vậy khơng nên ép trẻ làm việc ở cấp độ cao hơn khả năng của trẻ,
không nên so sánh trẻ với trẻ khác.
- Trẻ mầm non học bằng chơi, học bằng các giác quan, bằng thử nghiệm, thực
hành, tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, bằng tư duy suy luận. Trẻ thích khám phá những
điều mới lạ xung quanh, trẻ ln hứng thú với các kinh nghiệm về tạo hình, âm nhạc,
đóng kịch và múa, những hoạt động này giúp trẻ có khả năng biểu cảm, sáng tạo và tưởng
tượng.
- Sự sáng tạo của trẻ phát triển tốt nhất trong một môi trường học tập phong phú
mà được hỗ trợ bởi những giáo viên có khả năng định hướng, quan sát, biết đáp ứng
khuyến khích trẻ độc lập, sáng tạo.
- Giáo viên cung cấp các nguồn nguyên liệu và phương tiện khác nhau cho trẻ thử
nghiệm và tự do bộc lộ bản thân mình.
- Giáo viên đánh giá cao những ý tưởng của trẻ và không nên mong đợi trẻ copy
lại những bức tranh, những điệu múa hay mẫu hình từ người khác. Giáo viên giao tiếp
với trẻ và hỗ trợ trẻ trong việc thể hiện khả năng sáng tạo.
3. Gợi ý đổi mới tổ chức hoạt động Tạo hình

Nội
Đang thực hiện
Gợi ý đổi mới
dung
Tên gọi Nhà trẻ: Hoạt động tạo hình.
Mẫu giáo: Hoạt động tạo hình.
Mục
- Xác định mục tiêu (mục đích yêu - Xác định mục tiêu (mục đích yêu cầu) dựa
tiêu
cầu) dựa trên kết quả mong đợi của trên kết quả mong đợi của chương trình, nhu
chương trình, phù hợp với độ tuổi
cầu, khả năng của trẻ trong nhóm/lớp, khả
- Trẻ bước đầu có khả năng cảm năng, năng khiếu của từng cá nhân trẻ.
nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc - Trẻ được tiếp cận với các xu hướng nghệ
sống và trong tác phẩm nghệ thuật thuật tạo hình dân gian (tranh Đơng Hồ, tranh
tạo hình. Hình thành cho trẻ những thêu, tranh lụa…) và hiện đại (Các trường
cảm xúc thẩm mỹ trước vẻ đẹp của phái tranh của các họa sĩ nổi tiếng trên thế
đường nét, màu sắc, hình dáng, bố giới, tranh trừu tượng…)
cục, tỷ lệ… của các sự vật hiện - Phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo
tượng trong thiên nhiên, cuốc sống dựa trên những kinh nghiệm và cảm xúc cá
và trong nghệ thuật.
nhân, tăng cường vốn sống và kích thích nhu
- Có khả năng (kĩ năng) thể hiện cầu hoạt động tích cực tạo sản phẩm.
cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt
động tạo hình như vẽ, nặn, xé cắt
dán, trang trí, in dập, chắp ghép, thổi
màu, làm đồ chơi…bằng việc sử
dụng những nguyên vật liệu đơn
giản, sẵn có và gần gũi để tạo nên
4



sản phẩm.
- Yêu thích tham gia các hoạt động
vẽ, nặn, xé cắt dán, trang trí, in dập,
chắp ghép, thổi màu ..
Tổ chức Tổ chức trong giờ học
hoạt
1.HĐ tạo hình theo mẫu:
động
Tổ chức hoạt động tạo hình theo
tạo
mẫu khi: trẻ chưa có kỹ năng, chưa
hình
có cảm xúc thể hiện tác phẩm (vẽ,
trong nặn, cắt, xé dán)
giờ học, Tùy vào khả năng của trẻ, mức độ
ngồi khó dễ của các kỹ năng tạo hình để
giờ học giáo viên có thể chọn một hay nhiều
hoạt động tạo hình theo mẫu.
- Mục đích: Cung cấp kỹ năng tạo
hình mới.
- Phương pháp chính:
Quan sát sử dụng mẫu
Trình bày mẫu + Giải thích
- Các bước tiến hành:
HĐ 1: Ổn định, gây hứng thú, giới
thiệu bài.
Sử dụng thủ thuật để gây hứng thú
và giao nhiệm vụ cho trẻ.

HĐ 2: Quan sát nhận xét vật mẫu
HĐ 3: Làm mẫu tồn bộ vật (hoặc
từng phần) kết hợp giải thích tùy vào
mức độ khó dễ của kỹ năng và khả
năng của trẻ.
HĐ 4: Trẻ thực hiện (vật mẫu được
để nơi trẻ dễ quan sát từ đầu đến
cuối hoạt động).
HĐ 5: Nhận xét sản phẩm.
2. HĐ tạo hình theo đề tài
Tổ chức hoạt động tạo hình theo đề
tài khi trẻ đã có nhiều kỹ năng, cảm
xúc. Tổ chức chủ yếu ở cuối lứa tuổi
mẫu giáo Bé, lứa tuổi giáo Nhỡ và
Lớn.
.
- Mục đích: Dạy trẻ kiến thức về
phương pháp tạo hình chuyên biệt
(mối liên hệ giữa các sự vật với
nhau) giúp trẻ mở rộng kiến thức,
rèn luyện kỹ năng, làm quen với 1-2
kỹ năng mới và các nguyên vật liệu
đa dạng mới.
- Phương pháp chính:
Quan sát + đàm thoại, sử dụng

- Giáo viên hiểu rõ và nắm chắc mục tiêu lĩnh
vực thẩm mỹ trong chương trình giáo dục
mầm non theo độ tuổi để chủ động trong việc
lựa chọn nội dung, hoạt động tạo hình cho

phù hợp với độ tuổi, với khả năng, nhu cầu
hứng thú của trẻ (thể loại, hình thức…).
- Căn cứ vào khả năng tạo hình của trẻ, của
giáo viên, điều kiện thực tế, GV xác định tổ
chức hoạt động tạo hình thể loại theo mẫu,
theo đề tài, theo ý thích; trong giờ học hay
ngồi giờ học…
- Thời gian để trẻ thực hiện và hồn thành sản
phẩm tạo hình có thể trong 1,2 hoặc nhiều
hoạt động phụ thuộc vào đề tài, mức độ yêu
cầu về kỹ năng, khă năng của trẻ.
- Các bước tiến hành tổ chức hoạt động tạo
hình rất cần GV tư duy đổi mới, linh hoạt
trong từng hoạt động từ HĐ 1 (ổn định, gây
hứng thú -> đến HĐ5 (nhận xét sản phẩm)=>
nhằm đạt mục đích giúp trẻ có cơ hội bộc lộ
các ý tưởng và cảm xúc về bản thân và về thế
giới mà trẻ nhìn thấy, trẻ tự tin khi nói ý
tưởng, mong muốn được thử nghiệm…
- GV có thể sử dụng hệ thống câu hỏi để cảm
nhận, dự đốn, kích thích trẻ bộc lộ cảm xúc,
ý tưởng sáng tạo nghệ thuật của bản thân, trẻ
tự quyết định mình muốn gì và thực hiện
chúng như thế nào: VD
+ Cháu có cảm xúc gì sau khi ngắm bức tranh
của họa sĩ ?
+ Theo cháu họa sĩ đặt tên cho bức tranh này
là gì?
+ Cháu có thể đặt tên bức tranh này có tên là
gì? Tại sao?

+ Theo cháu họa sĩ đã sử dụng chất liệu gì để
tạo ra bức tranh?
+ Cháu có ý tưởng mới nào cho bức tranh của
mình?
- GV lắng nghe, tơn trọng và chấp nhận ý
tưởng, cách tạo ra sản phầm của trẻ. Chủ yếu
khuyến khích để trẻ tiếp tục sáng tạo và đưa
ra ý tưởng mới. Khơi gợi, khích lệ, dành thời
gian để trẻ quan sát, để trẻ cảm nhận và bộc
lộ cảm xúc của bản thân về cái đẹp bằng
5


tranh, sử dụng biểu tượng: đàm
thoại, sử dụng hình ảnh văn học (gợi
kinh nghiệm sống của trẻ)
- Các bước tiến hành:
HĐ1: Ổn định, gây hứng thú, giới
thiệu bài.
Sử dụng thủ thuật để gây hứng thú
và giao nhiệm vụ cho trẻ.
HĐ2: Quan sát nhận xét sản phẩm
gợi ý, mở rộng giúp trẻ hiểu chủ đề,
kỹ năng, mối quan hệ, bố cục (tỉ lệ,
vị trí sắp xếp các đối tượng…), cách
phối và hướng dẫn trẻ kỹ năng cần
thiết.
HĐ3: Gợi hỏi ý tưởng của trẻ để trẻ
phát biểu cách lựa chọn, cách thực
hiện sản phẩm của trẻ theo đề tài gợi

ý.
HĐ4: Trẻ thực hiện (vật mẫu được
cất đi ngay sau khi trẻ thực hiện)
HĐ5: Nhận xét sản phẩm
3. HĐ tạo hình theo ý thích
Tổ chức hoạt động tạo hình theo ý
thích khi trẻ đã có nhiều kiến thức,
kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng
sáng tạo trong hoạt động tạo hình.
Tổ chức chủ yếu ở cuối lứa tuổi mẫu
giáo Nhỡ và Lớn. Không bắt buộc
phải tổ chức hàng tháng hoặc sau
mỗi chủ đề.
Không nhất thiết phải tổ chức HĐ
tạo hình theo ý thích trên hoạt động
học. Có thể tổ chức vào hoạt động
chiều. Có thể tổ chức HĐ tạo hình
theo ý thích sau 1- 2 chủ đề.
- Mục đích: Củng cố biểu tượng và
phương thức tạo hình chuyên biệt
hoạt động tạo hình sáng tạo của trẻ
dựa trên những kinh nghiệm và sự
vật hiện trượng xung quanh, những
ấn tượng có trong mỗi cá nhân trẻ.
- Phương pháp chính:
Đàm thoại, sử dụng hình ảnh văn
học (gợi kinh nghiệm sống của trẻ)
- Các bước tiến hành:
HĐ 1: Ổn định, gây hứng thú, giới
thiệu bài.

Sử dụng thủ thuật để gây hứng thú

nhiều cách khác nhau phù hợp với độ tuổi
như: chăm chú ngắm nhìn, biểu cảm bằng nét
mặt, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, muốn thử
nghiệm…
- Tổ chức hoạt động tạo hình có thể là một
chủ điểm thực hiện trong khoảng thời gian:
Đầu tiên, yêu cầu trẻ quan sát và vẽ các bức
tranh về các tòa nhà trong khu vực trẻ sinh
sống hoặc một tòa nhà nổi tiếng..=> Sau đó
trẻ sử dụng các khối để xây thành các tịa nhà
u thích của trẻ => Cuối cùng, trẻ có thể xây
tịa nhà của mình bằng các vật liệu đã qua sử
dụng.
VD: Tổ chức hoạt động tạo hình: Cho trẻ ra
ngồi quan sát mây. Khuyến khích trẻ nhìn
vào các hình mà mây có thể tạo ra => Trẻ vẽ,
vẽ thêm, trang trí những đặc điểm thể hiện
được một đồ vật hoặc ý tưởng nào đó..
- Khuyến khích trẻ đặt tên cho sản phẩm của
mình. Nếu là sản phẩm chung, hãy ghi nhận
tất cả ý tưởng của từng cá nhân. Động viên
trẻ bình chọn và quyết định lựa chọn tên cho
sản phẩm của nhóm.
- GV cần giới thiệu cho trẻ làm quen với các
ngơn ngữ tạo hình: Đường nét, hình vẽ, họa
tiết, chất liệu, bố cục, màu sắc..
+ Đường nét: dài, ngắn, chiều ngang, chiều
dọc, đừng chéo, lượn sóng, răng cưa, , liền,

ngắt quãng..
VD: Quan sát các đường nét ở mọi nơi: Các
tòa nhà, trên các đồ vật, trong các bức
tranh….
* Đường nét thể hiện niềm vui hoặc tâm
trạng, cảm xúc của trẻ: Đường hạnh phúc,
mầu hạnh phúc hoặc đường nét nhảy nhót,
hào hứng, buồn..
+ Hình vẽ: Là hình các đối tượng như con
người, động vật, thực vật, đồ vật, các hiện
tượng tự nhiên..
Giúp trẻ biết cách diễn tả trạng thái các hình
vẽ có sự sống động ..
VD: Người hoặc động vật đang đi, chạy,
nhảy…Trạng thái vui, buồn...
- Tổ chức hoạt động tạo hình: Cho trẻ lắng
nghe một đoạn nhạc, trẻ có thể hình thành các
ý tưởng và bức tranh theo con mắt trẻ thơ của
mình. Trẻ có thể vẽ hoặc nặn những bức tranh
theo cách mà âm nhạc tạo cảm xúc trong trẻ
6


và giao nhiệm vụ cho trẻ.
HĐ 2: Quan sát nhận xét sản phẩm
gợi ý, mở rộng giúp trẻ hiểu chủ đề,
kỹ năng, mối quan hệ, bố cục (tỉ lệ,
vị trí sắp xếp các đối tượng…).
HĐ 3: Gợi hỏi ý tưởng của trẻ để trẻ
phát biểu cách lựa chọn, cách thực

hiện sản phẩm theo ý thích của trẻ.
HĐ 4: Trẻ thực hiện
HĐ 5: Nhận xét sản phẩm
* Nhận xét quá trình trẻ hoạt
động.
- Đánh giá sản phẩm tạo hình:
+ Trẻ tự đánh giá
+ Trẻ nhận xét lẫn nhau
+ Giáo viên tổng kết

(nghe bài hát Ngày mùa => Trẻ tưởng tượng
ra cánh đồng lúa chín...)
Tổ chức hoạt động tạo hình: Vẽ hoặc nặn một
đối tượng nào đó (người, động vật, hoa quả..)
=> cho trẻ có thể khám phá và quan sát các tư
thế khác nhau hoặc cho trẻ có thể sáng tạo
đối tượng ở các tư thế khác nhau cho sinh
động..
+ Họa tiết: Giới thiệu cho trẻ các họa tiết có
thể sử dụng trong trang trí như họa tiết hình
người, động vật, hoa lá được đơn giản hoặc
cách điệu.
+ Bố cục: Hướng dẫn trẻ cách sắp xếp hình
vẽ, họa tiết chính, phụ, to, bé cho hài hịa.
VD: Khi vẽ tranh ngơi nhà của bé, trẻ có thể
sắp xếp ngơi nhà là hình ảnh chính, nằm phía
trước tranh, hình to hơn. Các hình ảnh phụ
nhỏ hơn, ở xung quanh là vườn hoa, đám cây,
ông mặt trời, đám mây..
+ Màu sắc: Màu cơ bản (Đỏ, vàng, xanh da

trời), màu pha (là kết quả của việc pha 2 màu
cơ bản với nhau) và gam màu nóng, lạnh…
VD: Đỏ pha vàng thành màu da cam.
* Giới thiệu cho trẻ tên của các màu cũng
như tính chất của các màu như: ấm, mát,
sáng, tẻ nhạt, nhạt, xanh tái, đậm.
* Tổ chức hoạt động tạo hình: Cho trẻ quan
sát màu của của thiên nhiên: Bầu trời trước
khi mưa. Hãy thảo luận xem là bầu trời
chuyển từ màu xanh nhạt sang màu xanh xám
sẫm như thế nào => Cho trẻ trải nghiệm, sử
dụng các đường nét, màu sắc, họa tiết với các
chất liệu khác nhau để tạo ra các sản phẩm
tạo hình.
- Nhận xét sản phẩm tạo hình
Chú trọng tính sáng tạo và q trình HĐ của
trẻ:
+ GV cần có một số kiến thức nhất định về
ngơn ngữ tạo hình để cảm thụ và nhận xét
gồm: Đường nét, bố cục, hình vẽ, màu sắc
+ Giáo viên quan tâm đến mức độ hứng thú,
niềm vui sướng và hạnh phúc của trẻ khi
tham gia hoạt động, tốc độ thực hiện bài tập
của trẻ khi tham gia HĐ, những khó khăn trẻ
gặp khi tham gia HĐ.
+ Đánh giá nhận xét căn cứ theo từng thể
loại: Thể loại theo mẫu; Theo đề tài; Theo ý
thích
7



Tổ chức ngoài giờ học
- Tổ chức ngày hội tạo hình, các hội
thi tài năng của các họa sĩ nhí… giao
lưu giữa các lớp, các khối lớp, giữa
các trường.
- Tổ chức vẽ tranh cá nhân, vẽ tranh
theo nhóm, tranh tường tập thể =>
triển lãm tranh để gây quỹ tư thiện.

+ Đánh giá nhận xét theo từng loại hình: Tơ;
Vẽ; Xé - Cắt dán; Nặn; Chắp ghép; in, dập..
+ GV cần dành thời gian để trẻ quan sát, nhận
xét, cảm nhận sản phẩm của bản thân, của
bạn. GV không áp đặt suy nghĩ, ý tưởng của
người lớn vào sản phẩm của trẻ. GV không
nhất thiết phải dập khuôn đánh giá sản phẩm
của trẻ theo đúng trình tự => Mục đích nhằm
tạo cơ hội để trẻ thoải mái, vui vẻ, tự tin khi
nói các ý tưởng của bản thân, trẻ học cách
đánh giá và thể hiện quan điểm riêng, trẻ hiểu
được rằng có nhiều cách khác nhau để tạo ra
sản phẩm.
VD: Miêu tả điều mà trẻ đang làm và giới
thiệu: Hãy nhìn vào những đường lượn sóng
mà con vừa tạo ra này? Các con nhìn vào đó
và liên tưởng đến hiện tượng gì trong thiên
nhiên? Sóng biển, song nước..
Giúp trẻ nói ra những ý tưởng và ý kiến
của mình: Hãy nói với cô về bức tranh của

con, tại sao con lại lựa chọn sử dụng cái này?
* Không yêu cầu tất cả các trẻ đều hoàn
thành sản phẩm sau mỗi một hoạt động, trẻ
có thể hồn thành sản phẩm ở những hoạt
động tiếp theo
- Tổ chức hoạt động tạo hình với thể loại
khác: Gấp giấy (nghệ thuật Origami Nhật
Bản, gấp giấy Hàn Quốc), cắt giấy để tạo
thành
các
hình
đối
xứng..

- Tổ chức hoạt động học tạo hình trong ở
ngồi trời, sân vườn, hoặc “Khơng gian
sáng tạo”

8


Các
hoạt
động
tạo
hình sử
dụng đa
dạng kỹ
năng và
ngun

vật liệu

- Khuyến khích trẻ cùng cơ chế biến các ngun vật liệu tạo hình an toàn như: màu
nước, bột nặn..
- Tăng cường các nguồn vật liệu, phương tiện từ thiên nhiên và các vật liệu tái sử
dụng: sỏi, gỗ, hoa lá, nắp chai, ốc vít..
- Thưởng thức và sáng tạo với các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống và tiếp
thu các kinh nghiệm nghệ thuật quốc tế (tìm hiểu kĩ thuật, thủ pháp nghệ thuật theo
các trường phái và xu hướng)
* Hoạt động cụ thể trong các lĩnh vực cụ thể:
1. Vẽ
+Tăng cường trải nghiệm các kĩ thuật và phương tiện tạo hình đa dạng: màu sáp,
màu dạ, màu nước
+ Kết hợp linh hoạt giữa tạo hình theo nhu cầu và thưởng thức, sáng tạo theo các
trường phái
+ Các trò chơi với các chất liệu màu; Các kĩ thuật hội họa qua các phương tiện đa
dạng, dễ kiếm.

2. In đồ họa đơn giản (in dập)
- In tạo hình bằng các phương tiện sẵn có

- Tạo mẫu in từ các phương tiện đơn giản

3. Nặn – Điêu khắc
- Nặn tạo hình kết hợp các vật liệu phong phú từ thiên nhiên và các vật liệu sẵn có.

9


4. Xé dán, làm đồ thủ công – handmade

- Đan nan, gấp, cắt , xé và xếp dán

- Đồ handmade với các vật liệu tái sử dụng, vật liệu thiên nhiên

5.Gợi ý: Tham khảo
- Nghệ thuật & khoa học: Rô bốt đơn giản; Mơ hình chuyển động khám phá tác
dụng của gió và khơng khí

+ Khám phá tính chất của các chất liệu màu và sự biến đổi của màu: nặng – nhẹ,
nhiệt độ.

4. Gợi ý đổi mới tổ chức hoạt động âm nhạc
10


Nội
dung
Tên gọi

Đang thực hiện

Nhà trẻ: Hoạt động âm nhạc.
Mẫu giáo: Hoạt động âm nhạc.
2 Mục tiêu Mục tiêu dựa trên kết quả mong
đợi của chương trình, phù hợp với
độ tuổi.
- Trẻ có khả năng cảm nhận vẻ đẹp
trong thiên nhiên, cuộc sống và
trong tác phẩm nghệ thuật (âm
nhạc)

- Có khả năng thể hiện cảm xúc,
sáng tạo trong các hoạt động âm
nhạc.
- Là giáo dục tình cảm đạo đức,
thẩm mỹ cho trẻ. Giáo dục âm nhạc
hình thành cho trẻ lịng u thiên
nhiên, Tổ quốc, tình yêu thương
con người.
- Là phương tiện nâng cao khả năng
trí tuệ, phát triển thể chất, giúp trẻ
phát triển trí tưởng tượng. - Hình
thành ở trẻ những yếu tố của một
nhân cách phát triển toàn diện, hài
hoà, là sự phát triển về thẩm mỹ,
đạo đức, trí tuệ và thể lực.
- Yêu thích, hào hứng tham gia vào
các hoạt động nghệ thuật.
Tổ chức Tổ chức trong giờ học
hoạt
* Đối với lứa tuổi nhà trẻ: tổ chức
động
trong hoạt động chơi - tập có chủ
âm
định
nhạc
1. Dạy hát
trong Nội dung trọng tâm: Hát
giờ học, Nội dung kết hợp: Vận động theo
ngoài nhạc hoặc trò chơi âm nhạc
giờ học 2. Nghe hát

Nội dung trọng tâm: Nghe hát
Nội dung kết hợp: Vận động theo
nhạc hoặc trò chơi âm nhạc
3. Vận động theo nhạc
Nội dung trọng tâm: Vận động theo
nhạc
Nội dung kết hợp: Nghe hát
4. Biểu diễn văn nghệ
* Đối với lứa tuổi mẫu giáo: tổ
chức trong hoạt động học

Gợi ý đổi mới

Xác định mục tiêu (mục đích yêu cầu) dựa
trên kết quả mong đợi của chương trình, nhu
cầu, khả năng của trẻ trong nhóm/lớp, khả
năng, năng khiếu của từng cá nhân trẻ.
- Trẻ thật sự u thích âm nhạc, sẵn sàng tâm
thế đón nhận mọi hình thức thể loại âm nhạc
khác nhau.
- Trẻ tự tin thể hiện năng lực âm nhạc của
mình (như hát, nhảy, chơi nhạc cụ..), tự tin bộc
lộ cảm xúc âm nhạc của bản thân.
- Phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc, tưởng
tượng sáng tạo dựa trên những kinh nghiệm và
cảm xúc cá nhân.

- Giáo viên hiểu rõ và nắm chắc mục tiêu lĩnh
vực thẩm mỹ trong chương trình giáo dục
mầm non để chủ động trong việc lựa chọn nội

dung, hoạt động âm nhạc cho phù hợp với độ
tuổi, với khả năng, nhu cầu hứng thú của trẻ
(Bài hát, bản nhạc, trò chơi, làm quen với nhạc
cụ…).
- Lựa chọn nội dung hoạt động ÂN khơng phụ
thuộc hồn tồn vào nội dung chủ đề, căn cứ
vào khả năng âm nhạc của giáo viên, của trẻ,
điều kiện của lớp, của nhà trường, GV lựa
chọn các bài hát, bản nhạc để tổ chức hoạt
động dạy hát, nghe nhạc, nghe hát, dạy vân
động trong giờ học hay ngoài giờ học cho trẻ.
Quan trọng nhất giáo viên tổ chức được các
hoạt động khích lệ trẻ cảm nhận, bộc lộ cảm
xúc với các tác phẩm ÂN: Chăm chú lắng
nghe, biểu cảm nét mặt, cử chỉ, hành động,
ngôn ngữ, muốn được thử nghiệm..
11


1. Dạy hát
Nội dung trọng tâm: Hát
Nội dung kết hợp:
- Vận động theo nhạc hoặc trò chơi
âm nhạc
- Nghe hát, nghe nhạc
2. Nghe hát, nghe nhạc
Nội dung trọng tâm: Nghe hát,
nghe nhạc
Nội dung kết hợp:
- Vận động theo nhạc

- Trò chơi âm nhạc
3. Vận động theo nhạc
Nội dung trọng tâm: Vận động theo
nhạc
Nội dung kết hợp:
- Nghe hát, nghe nhạc
- Trị chơi âm nhạc
4. Biểu diễn văn nghệ
Tổ chức ngồi giờ học
- Cho trẻ làm quen với các bài hát,
vận động, trị chơi âm nhạc.
- Ơn luyện, củng cố những kỹ năng
chưa đạt trong hoạt động học
- Tổ chức hoạt động biểu diễn
nhằm đánh giá từng cá nhân và
nhóm trẻ qua các tiêu chí:
+ Ngơn ngữ
+ Tình cảm, cảm xúc.
+ Giai điệu
+ Cách thức trình bày (tự tin trước
đám đơng).
- Tổ chức các hoạt động biểu diễn
văn nghệ, hoạt động giao lưu giữa
các lớp trong khối, giao lưu giữa
các khối hoặc với các trường khác,
các hoạt động theo sự kiện.
- Tổ chức các hoạt động văn nghệ
theo chủ đề, sự kiện: Hè, thời trang
hè, chào hè, tổng kết hè,
Halloween, noel…

- Hình thức phong phú, đa dạng
như: Ca cảnh, hoạt cảnh, chuyển
thể từ thơ kịch lồng ghép âm nhạc
Ví dụ: bài thơ Mèo đi câu cá
chuyển sang bài hát, hoặc biểu diến
dưới hình thức hoạt cảnh…

- Tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc trực tiếp với các
thể loại, tác phẩm âm nhạc, nhạc sĩ nổi tiếng:
Nghe, xem video, thử nghiệm với tiết tấu, hát,
vận động theo nhạc, sử dụng nhạc cụ…
- Tổ chức hoạt động ÂN không nhất thiết
phải lựa chọn 01 nội dung chính và 02 nội
dung kết hợp => tùy vào mục tiêu của hoạt
động và độ khó dễ của tác phẩm và nhu cầu,
khả năng của trẻ GV quyết định nội dung và
thời lượng tổ chức cho 01 hoạt động.
VD: 01 nội dung “Làm quen với nhạc cụ
Trống” giáo viên có thể tổ chức 03 hoạt động:
1. Nhận biết, khám phá về Trống: Nguồn gốc,
đặc điểm, tính chất, chất liệu (HĐ học)
2. Tìm hiểu ý nghĩa, cách sử dụng trống trong
âm nhạc (âm thanh, tiết tấu) (HĐ học)
3. Tạo ra nhạc cụ Trống, thử nghiệm với sản
phẩm tạo ra.
- Tùy vào nội dung bài hát, tác phẩm ÂN, giáo
viên cân nhắc có cần giảng giải nội dung hoặc
ý nghĩa giáo dục đối với trẻ. Không áp đặt suy
nghĩ, cảm xúc của người lớn với trẻ.
- Về khả năng cảm thụ âm nhạc, giáo viên cần

phân biệt các cấp độ khác nhau cho từng lứa
tuổi để từ đó sẽ tổ chức các hoạt động âm nhạc
khác nhau cho phù hợp.
VD: Đối với trẻ mẫu giáo lớn có khả năng cảm
thụ tốt nhất trong bậc mầm non. Trẻ 5-6 tuổi
có khả năng phân biệt và so sánh những dấu
hiệu âm nhạc như cao độ, trường độ, cường
độ,… mối quan hệ giữa chúng với tính chất
chung của âm nhạc. Trẻ có thể dễ dàng phân
biệt được âm thanh cao thấp, nhịp độ nhanh
hay chậm, tính chất của bài hát là vui, sôi nổi
hay êm ái, dịu dàng.. Lứa tuổi này cảm giác tai
nghe phát triển và kinh nghiệm nghe nhạc của
trẻ được tích lũy nhiều hơn so với các lứa tuổi
trước. Trẻ thuộc và hát được nhiều các bài hát
mẫu giáo ngắn, dễ hát.
- Để tăng thêm hiệu quả, nâng cao chất lượng
dạy âm nhạc cho trẻ mẫu giáo, giáo viên cần
bổ sung, trau dồi một số kĩ năng cần thiết
trong dạy âm nhạc như: kĩ năng biểu diễn, kĩ
năng sử dụng các phương tiện dạy học, kĩ
năng tổ chức trò chơi tích hợp nhiều mơn học
khác nhau như: Âm nhạc- toán học, Âm nhạcYoga, Âm nhạc- chơi tập thể, hoạt động nhóm.
- Phân lịch hoạt động khoa học, hợp lý, tận
12


dụng tối đa phòng Âm nhạc tại các nhà trường
để tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục âm
nhạc cho trẻ.

* Giáo viên cần đổi mới, đa dạng hóa hình
thức tổ chức các hoạt động âm nhạc, lựa
chọn các thể loại, tác phẩm hay, mới phù
hợp với độ tuổi để dạy hát, nghe hát, vận
động:
* Nguyên tắc lựa chọn các bài hát mới:
+ Nội dung và thể loại phù hợp với lứa tuổi:
vui tươi trong sáng, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ thuộc
+ Lời ca gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ: Đó là những
bài hát có nội dung miêu tả những sinh hoạt
trong đời sống hàng ngày của trẻ như dạo chơi
trong vườn, múa hát trong ngày hội, niềm vui
được đến trường,… để trẻ có thể kết hợp với
vận động một cách dễ dàng.
+ Loại nhịp và nhịp độ của bài mang tính vui
hoạt, sơi nổi có nhịp độ vừa, nhanh hoặc hơi
nhanh, viết chủ yếu ở nhịp 2/4, 3/4, 3/8 và 4/4.
+ Âm vực phù hợp với từng độ tuổi, thường
dao động từ quãng 2 đến quãng 5
+ Lựa chọn giai điệu - tiết tấu: thường sử dụng
nốt trắng, nốt đen, móc đơn, dấu lặng đen,
lặng đơn, đơi khi có móc kép để tạo khơng khí
nhanh vui hay sự dí dỏm ngộ nghĩnh của bài
hát.
* Lưu ý: Muốn giờ học đạt kết quả cao nhất là
giờ học của trẻ nhỏ thì trước hết giờ học đó
phải tạo được hứng thú cho trẻ, khiến trẻ thấy
vui và thích khám phá. Để thành công, người
giáo viên phải thực hiện một ngun tắc là tạo

khơng khí tích cực trong giờ học, kết hợp linh
hoạt các phương pháp trong quá trình dạy trẻ
hoạt động âm nhạc. Trước khi dạy trẻ hát, giáo
viên nên sưu tầm các bài hát mới, nghiên cứu,
tìm hiểu về giai điệu, nhịp điệu, sắc thái tình
cảm, nội dung lời ca, hình tượng âm nhạc;
chuẩn bị các động tác minh hoạ phù hợp;
phong cách thể hiện bài hát; chuẩn bị hệ thống
câu hỏi hợp lý để đàm thoại với trẻ về bài hát.
Mỗi bài hát, giáo viên chuẩn bị một hình thức
giới thiệu hoặc một hình thức học mới mang
tính sáng tạo phù hợp với yêu cầu của giờ học
mà vẫn không lặp lại. Chọn tiết tấu trên đàn
Organ, Piano,.. xác định giọng phù hợp với
giọng của trẻ; cách đánh nhịp; dự kiến những
13


chỗ khó trong bài để chuẩn bị phương án sửa
sai (nếu có). Chuẩn bị phương pháp và nghệ
thuật lên lớp cho tốt; chuẩn bị giáo án và các
phương tiện đồ dùng dạy học như nhạc cụ,
máy tính, máy nghe nhạc, nhạc cụ vỗ đệm để
trẻ vừa hát vừa gõ đệm theo nhịp điệu bài hát.
Hệ thống câu hỏi đàm thoại củng cố ghi nhớ
tác phẩm phải hợp lý và dễ hiểu để trẻ trả lời
được thì trẻ mới thích thú và say mê khám phá
những điều mới lạ.
1. Dạy hát:
- Để đa dạng các cách hát khác nhau, không

chỉ đơn thuần là đúng nhạc đúng lời, trẻ còn
được tiếp cận, thực hành các cách hát khác
như: hát đệm, hát bè, lĩnh xướng, đọc rap, hợp
xướng.....Có thể nói và hát với giọng cao/thấp,
to/nhỏ, nhanh/chậm hoặc Hát một bài hát và
đề nghị trẻ đi nhón chân khi thì thầm hát…
- Hình thức dạy hát từ đơn giản đến phức tạp:
Cho trẻ nghe, đọc lời ca, hát theo cơ. Trẻ trình
bày theo tổ, nhóm….).
Nâng cao: Hát nối tiếp, hát đối đáp, hát nhanh,
hát chậm, hát rook, hát rap, kết hợp động tác
phù hợp nội dung lời ca, hát theo tiết tấu....
+ Dạy trẻ một số bài hát chung cho toàn
trường để trẻ hát cùng nhau trong những buổi
sinh hoạt tập thể của khối/trường.
+ GV có thể lựa chọn các bài hát, bản nhạc
mới để dạy trẻ: Làm quen nốt Đô (Mi, Sol,
La), học hát hợp xướng, làn điệu dân ca…
VD: Con chim ri, Ơng già Noel vui tính; Chú
heo lười; Gia đình nhỏ- hạnh phúc to; Năm
chú gấu con; Những lá thuyền ước mơ; Đồ rê
mi fa son..
Bài tập thể dục buổi sáng theo chủ đề từng
tháng…
Ngồi ra cũng có thể áp dụng một số bài hát
tiếng Anh như:
Hello what your name?; Hello song (Super
simple song); Hide and seek (Super simple
song);Baby sharte (Super simple song); If
you've happy (Super simple song);Go away

(Super simple song); Walking Walking (Super
simple song)
2. Nghe nhạc, nghe hát: GV có thể chọn các
tác phẩm, bài hát mới, thể loại khác nhau phù
hợp với lứa tuổi cho trẻ nghe, làm quen, cảm
nhận và nêu cảm xúc của mình bằng cách diễn
14


tả bằng lời, vẽ lại theo tưởng tượng của bản
thân như: Hát ru, nhạc giao hưởng, nhạc kịch,
luyện tai nghe cao độ, giai điệu, hòa âm, các
tiết tấu, nhịp điệu, các nhạc cụ trong dàn nhạc
giao hưởng và nhạc cụ dân tộc, làm quen nhạc
sĩ nổi tiếng thế giới, nghe và xem các tác phẩm
nổi tiếng, cách sử dụng và hòa tấu các nhạc cụ
đơn giản…
VD: Các bài hát thường dùng cho trẻ nghe:
Mẹ yêu con, Lý cây bông, Gia đình nhỏ hạnh
phúc to, Hát ru (Johan Bram), Khát vọng mùa
xuân (Mozart), Trích đoạn giao hưởng 4 mùa
(Antonio Vivandi)…
3. Dạy vận động:
- Đổi mới hình thức vận động, ngồi hình thức
vận động vỗ tay theo tiết tấu, nhịp, phách, trẻ
được khuyến khích phản ứng với nhịp điệu,
giai điệu âm thanh qua vận động sáng tạo: sử
dụng nhạc cụ, nhảy, khiêu vũ, dân vũ, động tác
thể dục phù hợp, chuyển động từng phần cơ
thể theo giai điệu bản nhạc… .

- Trẻ cần được lắng nghe ÂN trước khi vận
động theo nhạc, cảm nhận nhịp điệu của nhạc
trước khi vận động sáng tạo: Yêu cầu trẻ ngồi
hoặc nằm, mắt nhắm để trẻ có thể tập trung
vào nghe. Bật cả bài hoặc một đoạn trong một
bài hát, bản nhạc và giúp trẻ tập trung vào
nghe những gì cần thiết.
- Cơ cho trẻ tự biểu diễn theo cảm nhận của
mình, cơ góp ý, bổ sung động tác để tạo thành
bài vận động hoàn chỉnh cho trẻ.
VD: Các bài hát thường dùng để đọc rap và vỗ
tay theo tiết tấu gồm: Cua và cò, bé heo xinh
trịn, chú ếch con, anh tí sún…
4. Trị chơi ÂN:
- Tổ chức một số trị chơi với mục đích củng
cố kiến thức, kỹ năng âm nhạc cho trẻ về cao
độ, trường độ, tiết tấu, nhạc cụ.
- Hình thức tổ chức: Nghe nhạc, nghe giai
điệu. Cô hát theo nhạc. Cô thay đổi hình thức:
trang phục, đạo cụ, trẻ thể hiện cùng cô…
Phương
pháp
dạy căn
bản
(đang
thực
hiện)

1. Dạy hát
Trước khi dạy hát GV cho trẻ làm quen với bài hát ở mọi lúc mọi nơi để:

- Biết được mức độ bài hát dễ hay khó.
- Xem trẻ biết bài hát hay chưa nhằm xác định mức độ cảm nhận âm nhạc của trẻ.
* Cách dạy hát: gồm 2 cách khác nhau
Cách 1: Làm quen với bài hát được áp dụng cho các bài hát ngắn, dễ hát.
Cách 2: Dạy trẻ hát (hát cùng trẻ) được áp dụng cho những bài hát dài, khó hát.
15


- Trong quá trình dạy 2 loại bài hát này:
- Nếu trẻ hát chưa đúng, cần sửa trọn vẹn câu hát, không nhắc lại lỗi sai.
- Dạy trẻ thể hiện sắc thái tình cảm bài hát.
- Dạy trẻ hát nâng cao.
- Sử dụng hệ thống câu hỏi để khơi gợi cảm xúc của trẻ: Cần rõ ràng, cụ thể, không
mang tính trìu tượng:
+ Cháu cảm thấy bài hát vui hay buồn.... nhanh hay chậm...có sơi động hay thiết tha
tình cảm?
+ Bài hát này nói về ai, cái gì…?
+ Cháu có cảm nhận (cảm xúc) gì về bài hát (giai điệu)? Vì sao cháu lại có cảm nhận
như vậy?
+ Cháu nghĩ là tác giả muốn nói gì qua bài hát (tác phẩm âm nhạc) này?
- Với chương trình dành cho trẻ mẫu giáo ngoài âm nhạc là giai điệu nên đi kèm việc
sử dụng hình ảnh từ các video clip để việc truyền tải thêm sinh động.
- Các cách tiếp cận thường qua các mv ca nhạc.
- Trong các vở kịch dành cho thiếu nhi âm nhạc là điều cần thiết để tăng sự kịch tính
cũng như đẩy cảm xúc cho diễn viên và người xem.
- Trong hội hoạ âm nhạc giúp phác hoạ rõ nét hơn về sự vật sự việc cụ thể qua bức
tranh vẽ như thời gian, không gian.
- Để tiếp cận tốt nhất ở những bài học đầu tiên hãy cho trẻ nghe ca khúc 3-5 lần để
trẻ nhận biết được nhịp độ của ca khúc (tempo)
- Tiếp theo là đặt ra một số câu hỏi liên quan đến nội dung của toàn bài hát (nội dung

viết về cái gì? Con vật gì hay ai? ở đâu?)
- Đi sâu vào nội dung từng câu hát và hỏi lại trẻ trong bài hát có những gì và nó ra
sao để trẻ nhớ được giai điệu và rõ nét về sự vật sự việc được nêu ra trong từng câu
hát.
- Hãy phát cho trẻ một hộp màu và tờ giấy trắng . Hướng dẫn trẻ vẽ nên hình ảnh
mình cảm nhạc được từ bài hát được nghe và lựa chọn màu sắc phù hợp.
- Với những bài hát thuộc các dòng nhạc như hiphop lại đòi hỏi việc vận động nhiều
hơn từ các động tác vũ đạo đơn giản như nhún theo nhịp và chọn những ca khúc có
phần Rap phù hợp (đa phần các ca khúc có màu sắc Hiphop đều kèm phần Rap).
* Đối với các bài hát ngắn, khó hát, xử lý tương tự các bài hát dài, khó hát. Đối
với các bài dài, dễ hát, xử lý tương tự các bài ngắn, dễ hát.
* Với những giáo viên có khả năng sử dụng đàn: Trước khi dạy hát GV sử dụng đàn
cho trẻ khởi động giọng bằng hình thức đọc tên nốt nhạc theo gam Đô trưởng (đồ,
rê, mi, fa, sol, la, si, đố). GV hướng dẫn trẻ một số kỹ năng cơ bản như: Tư thế hát,
cách lấy hơi, khẩu hình, phát âm đúng, tự nhiên.
* Với những giáo viên giọng hát không tốt (hát sai nhạc) có thể linh hoạt tăng
cường sử dụng các phương tiện có chất lượng cho trẻ nghe, nhìn tiếp xúc với tác
phẩm âm nhạc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất, khơng bắt buộc giáo viên đó
phải hát mẫu cho trẻ nghe.
2. Nghe nhạc, nghe hát
2.1. Phương pháp
- Nghe trực tiếp; Nghe qua phương tiện: Đài, băng đĩa; đàn organ, nhạc cụ dân tộc;
video, vi tính…
2.2. Cách tiến hành
- Tùy thuộc vào từng độ tuổi để áp dụng phương pháp nghe trực tiếp và nghe qua
phương tiện một cách linh hoạt, đan xen lẫn nhau để phát huy tối đa khả năng nghe
16


của trẻ.

Cách tiến hành gồm 3 bước:
Bước 1: Chuẩn bị cho trẻ nghe
Bước 2: Hát cho trẻ nghe
Bước 3: Củng cố ấn tượng, ghi nhớ tác phẩm
* Lưu ý: Đối với độ tuổi nhà trẻ, chủ yếu áp dụng phương pháp nghe trực tiếp.
3. Dạy vận động theo nhạc
Sử dụng các hình thức vận động khác nhau dựa trên khả năng phát triển âm nhạc (cụ
thể là khả năng phát triển vận động) của trẻ ở từng độ tuổi.
- Vỗ tay, gõ đệm, nhún nhảy, lắc lư, đong đưa, nhún kỹ, dậm chân theo các tiết tấu.
- Vận động minh họa, múa
- Hai hình thức vận động minh họa và múa có điểm chung là đều dựa vào giai điệu,
lời ca để xây dựng động tác sao cho phù hợp. Hai hình thức này khác nhau ở chỗ:
- Đối với hình thức vận động minh họa: mơ phỏng các động tác theo giai điệu, lời ca.
- Đối với hình thức múa: sử dụng các động tác múa có sự phối hợp tay, chân, thân,
mình và nét mặt một cách biểu cảm.
3.1. Cách dạy:
Dạy vỗ tay theo tiết tấu
- Dạy trẻ vỗ tay theo cơ cả bài (khơng phân tích cách vỗ tay thô)
- Khi trẻ đã biết vỗ tay, cần đan xen các hình thức tổ, nhóm để động viên trẻ tự vỗ
tay. Khi trẻ đã vỗ tay thành thạo, cho trẻ kết hợp với các dụng cụ gõ đệm.
- Ngồi hình thức vỗ tay, gõ đệm, cơ có thể cho trẻ kết hợp nhún nhảy, lắc lư, đung
đưa, nhún ký,… theo tiết tấu đã học.
Cách dạy vận động minh họa
- Trước khi tổ chức các hình thức dạy vận động theo nhạc, cô cần cho trẻ nghe hoặc
hát lại bài hát và khuyến khích trẻ nói lên cảm nhận về nhịp điệu âm nhạc và cho trẻ
chọn lựa hình thức vận động. Sau đó, cơ hướng dẫn trẻ vận động như sau:
- Làm mẫu
- Giới thiệu tên hình thức vận động (Có thể linh hoạt trước, sau khi làm mẫu)
- Tập vận động
Dạy trẻ vận động minh họa theo ý thích:

- Cách 1: Cơ bật nhạc cho trẻ nghe, trẻ vận động theo ý thích của trẻ. Cơ quan sát,
chọn ra những động tác phù hợp nhất để tạo thành 1 bài vận động minh họa hồn
chỉnh. Cơ vận động lại cho cả lớp xem và hướng dẫn.(các đối tượng)
- Đội hình: Căn cứ vào động tác để xây dựng đội hình vịng cung hay đội hình thể
dục (đứng so le nhau)
- Khi hướng dẫn trẻ tập, cô cần đứng ngược chiều nhưng động tác hướng dẫn phải
cùng chiều với trẻ
- Khi hướng dẫn tập, khơng phân tích động tác thô
- Cách dạy vận động minh họa như sau:
- Cô tập cho trẻ vận động cùng cô từ đầu đến hết bài hát (tùy thuộc vào mức độ vận
động của trẻ để cố đưa ra số lần tập phù hợp). Trong quá trình tập, nếu động tác nào
trẻ vận động chưa nhịp nhàng thì cơ phải sửa sai.
- Khi trẻ đã biết vận động cùng cơ, cơ có thể đan xen các hình thức tổ, nhóm, kết hợp
cho trẻ nghe nhạc để cùng vận động.
- Cách 2: Cô chia nhóm, cho trẻ nghe nhạc, trẻ bàn bạc thống nhất với nhau theo tổ
theo nhóm về các động tác khác nhau (cuối MGN, MGL)
- Trẻ luyện tập theo nhóm, cơ đi quan sát, bao quát, nhắc nhở, hướng dẫn các nhóm
17


chưa làm được.
- cơ tổ chức cho từng nhóm lên biếu diễn, các nhóm nhận xét lẫn nhau
Cách dạy múa:
- Đối với các điệu múa có các động tác của cả nam và nữ, cần dạy riêng cho từng đối
tượng.
- Khi làm mẫu nên có 2 cơ cùng làm mẫu để trẻ quan sát dễ hơn hoặc phịng học có
gương để trẻ theo dõi được động tác và làm theo chính xác.
Tùy thuộc vào động tác múa dễ hay khó và phụ thuộc vào khả năng nhận thức của
trẻ mà GV linh hoạt số lần làm mẫu cho trẻ xem, tối thiểu 2 lần)
- Trẻ múa cùng cô theo tổ hoặc nhóm

- Cả lớp múa lại 1-2 lần
- Khi tập múa cần dạy trẻ múa nối tiếp từng động tác một từ đầu đến hết điệu múa.
Trong quá trình tập múa, nếu động tác nào khó, cơ có thể sử dụng biện pháp dùng lời
kết hợp làm mẫu để dạy cho trẻ (khơng phân tích động tác thơ).
- Khi trẻ đã biết múa cùng cô, cô mới cho trẻ nam và nữ múa cùng nhau và kết hợp
với nhạc.
3.2. Cách tiến hành
* Trước khi tổ chức các hình thức dạy vận động theo nhạc, cô cần cho trẻ nghe hoặc
hát lại bài hát và khuyến khích trẻ nói lên cảm nhận về nhịp điệu âm nhạc và cho trẻ
chọn hình thức vận động. Sau đó, cơ hướng dẫn trẻ vận động như sau:
- Làm mẫu.
- Giới thiệu tên thình thức vận động (có thể linh hoạt trước hoặc sau khi làm mẫu.
- Tập vận động.
- Cá tính và phong cách thời trang của trẻ cũng sẽ được định hình từ âm nhạc mà trẻ
yêu thích. Tổ chức những buổi biểu diễn thời trang đơn giản trên những bài hát
quen thuộc.
- Hồ tấu và nhạc khơng lời: để trẻ làm quen với việc nhận biết bộ tiếng của từng
nhạc cụ một đơn giản bắt đầu từ piano-guitar-trống-violon
- Khơi gợi cảm xúc bay bổng nhẹ nhàng hay mềm mại du dương của những bản hoà
tấu nhẹ nhàng. Yêu cầu học sinh nhắm mắt hít thở nhẹ nhàng.
Bản chất của âm nhạc là khơi gợi cảm xúc và sự đồng cảm, xoa dịu và cuồng nhiệt.
Trẻ em sẽ nhạy cảm với âm nhạc theo cách riêng của từng bé.
Tạo sự hấp dẫn trong tiết dạy bằng các trị chơi có âm nhạc đi kèm.
Để tạo hiệu quả cao với sản phẩm hát, cần lựa chọn đối tượng học sinh phù hợp cho
các phần solo hát chính. Dạy với thời lượng vừa đủ để trẻ khơng mệt mỏi và chán
nản.
4. Trị chơi âm nhạc
4.1. Nội dung trị chơi
- Đốn tên bài hát: Nghe giai điệu đoán tên bài hát, nghe tiết tấu đoán tên bài hát,
nghe lời ca đoán tên bài hát.

- Làm quen với các nhạc cụ âm nhạc: Nghe âm thanh đoán tên nhạc cụ, nhìn nhạc
cụ, đốn tên và mơ phỏng cách chơi nhạc cụ.
- Các trò chơi theo tiết tấu: Chuyền dây, chuyền sỏi, tai ai tinh, nổ bỏng ngô…
- Nghe nội dung bài hát đoán tên bài hát.
- Nghe bài hát đặt tên bài hát
- Nghe giai điệu đặt lời bài hát (5 tuổi)
- Nghe âm thanh đoán tên nhạc cụ
- Nhìn nhạc cụ, đốn tên và mơ phỏng cách chơi nhạc cụ
18


- Nhìn nhạc cụ để diễn tả âm thanh và cách chơi nhạc cụ đó
4.4. Cách chơi
- Giới thiệu tên trò chơi
- Giới thiệu luật chơi, cách chơi
- Chơi mẫu (Đối với những trị chơi mới và khó)
- Cho trẻ chơi (từ số lượng ít đến nhiều)
- Trẻ tự tổ chức trị chơi dưới sự hướng dẫn của cơ và theo cách của riêng mình.
* Gợi ý một số trị chơi mới:
- Nguồn: “Music- Yoga, Music- Maths, Musical chair, Musical statues, Musical
Hearts: Reading, Moving,..
/> />VD. - Trò chơi đọc nốt nhạc bằng kí hiệu bàn tay.

- Đọc cao độ theo hình cây nấm (gam đô trưởng)
- Đọc biểu đồ âm nhạc (gam đô trưởng) bằng các bộ phận trên cơ thể tùy theo giáo
viên quy định.
* Tiếp cận trò chơi âm nhạc theo hướng lấy trẻ làm trung tâm
/> /> />- Cho trẻ quan sát video trò chơi ->Hỏi trẻ về cách chơi, luật chơi -> Gợi mở cho trẻ
đặt tên trò chơi -> Chơi cùng trẻ (Cho trẻ chơi từ số lượng ít đến nhiều)
* Ngồi ra GV có thể tiếp cận, ứng dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến như:

Steiner…) trong tổ chức các hoạt động âm nhạc cho trẻ.
- Những trị chơi ngồi trời thơng qua những bài hát, bài thơ hay trò chơi vận động
nên được áp dụng một cách rộng rãi nhằm phát triển khả năng ngôn ngữ của trẻ- đó
là cách giúp trẻ nhớ nhanh bởi những hoạt động và hình ảnh phong phú trong một
khơng gian mở.
- Bằng những phương pháp và cách tiếp cận một cách tự nhiên, GV sẽ nhấn mạnh và
đặt tầm quan trọng vào ba yếu tố cơ bản của trẻ: Suy nghĩ, cảm xúc và ý chí.
Phương 1. Phương tiện, đồ dùng, học liệu tại lớp:
tiện, đồ - Đồ dùng nhà trường trang bị: Nhạc cụ (đàn organ, đàn piano), dụng cụ âm nhạc
dùng,
(mõ, phách tre, trống..) băng đĩa (cô hát trẻ nghe, nhạc không lời, nhạc hát ru, các
học liệu bài hát dành cho trẻ mầm non theo chủ đề), âm ly, loa đài…
- Đồ dùng đồ chơi tự tạo: Trang phục biểu diễn, dụng cụ âm nhạc..
- Nếu lớp rộng có thể thiết kế sân khấu di động
2. Phương tiện, đồ dùng, học liệu tại phòng chức năng âm nhạc
- Hệ thống thiết bị âm thanh, hình ảnh (loa đài, tivi, đầu đĩa)
- Gương, gióng múa
- Nhạc cụ, dụng cụ âm nhạc: Piano, organ, acoocdeon, ghitar, đồ dùng đồ chơi cho
trẻ như: nhạc cụ gỗ, lắc, các đồ dùng trang phục múa, đồ chơi âm nhạc.
- Tranh ảnh có nội dung giáo dục âm nhạc.
- Trang phục biểu diễn.
19


- Thảm trải sàn.
- Sân khấu.
- Một số tư liệu băng, đĩa, video về các thể loại ÂN (dân gian, cổ điển, hiện đại), các
tác phẩm âm nhạc, các nhạc sĩ nổi tiếng trong nước và quốc tế phù hợp với trẻ.
Nguồn cung cấp tư liêu:
/>- Các loại dụng cụ âm nhạc (có sẵn, tự tạo) đảm bảo được yêu cầu chất lượng âm thanh.

* Một số phụ lục gợi ý
I. Phụ lục Tạo hình
1. Ngơn ngữ tạo hình và đặc điểm tạo hình của trẻ mầm non
2. Cảm thụ về màu sắc, cách pha màu.
3. Tổ chức hoạt động tạo hình tiếp cận phương pháp Reggio Emilia
4. Ứng dụng phương pháp STEAM trong lĩnh vực thẩm mỹ.
5. Ảnh môi trường Tạo hình tham khảo.
6. Một số giáo án Tạo hình tham khảo.
II. Phụ lục Âm nhạc
1. Danh sách các bài hát mới tham khảo.
2. Một số trò chơi âm nhạc.
3. Hướng dẫn cách dàn dựng chương trình ca múa nhạc ngày hội.
4. Một số giáo án Âm nhạc tham khảo.

20



×