LỜI MỞ ĐẦU
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là một trong các dạng tranh chấp phổ biến
hiện nay được giải quyết tại Tòa án nhân dân các cấp. Nhất là kể từ ngày
thẩm quyền các vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng tín
dụng được giao cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã , thành phố giải
quyết. Trong thực tiễn, hợp đồng tín dụng ngân hàng có nhiều vấn đề phức
tạp và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Trong những năm gần đây, số lượng vụ
án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng được đưa ra giải
quyết tại tịa án gia tăng và có chiều hướng ngày càng phức tạp, tịa án gặp
nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ án thuộc loại này.
Tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa,thành phố Hà Nội trong thời gian qua,
các tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra với số lượng vụ việc
nhiều, tính chất ngày càng phức tạp. Trước tình hình đó, cần phải hồn thiện
hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực này, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Với
những lý do trên em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội “
CHƯƠNG I. NHỮNG LÝ LUÂN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng
1
1.1.1.Khái niệm
Cơ sở pháp lý
Bộ Luật Dân sự 2015
Quyết định 20 VBHN-NHNN quyết định về việc ban hành quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy
định của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS). Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín
dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó
chủ yếu là các ngân hàng.
Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng
(bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập
quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo
đó bên cho vay chuyển giao một khoản tiền tệ cho bên vay sử dụng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hồn trả cả gốc và lãi.
1.1.2.Đặc điểm
Điều 17, Quyết định 20 VBHN-NHNN quyết định về việc ban hành quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định như sau:
“Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành
hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay,
mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời
hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ
và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.”
Theo quy định trên thì hợp đồng tín dụng sẽ có một số đặc điểm sau đây:
Về chủ thể:
Bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiện luật định,
cịn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có đủ điều
kiện vay vốn do pháp luật quy định.
Quan hệ pháp luật tín dụng ngân hàng là quan hệ tài sản – hàng hóa phát
sinh trong quá trình sử dụng vốn tạm thời giữa tổ chức tín dụng và các tổ
chức, cá nhân theo ngun tắc có hồn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm hoặc có
sự bảo đảm, được các qui phạm pháp luật điều chỉnh. Tham gia quan hệ này
có it nhất gồm hai chủ thể: là bên cho vay và bên đi vay.
–Bên cho vay:
2
• Ln là tổ chức tín dụng. Có thể là ngân hàng có thể là tổ chức tín
dụng phi ngân hàng.
o
• Có thể là một hoặc nhiều tổ chức tín dụng (trường hợp cho vay hợp
vốn) thỏa mãn điều kiện:
+ Được thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng và các pháp
luật liên quan.
+ Có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng
– Bên đi vay (Khách hàng). Bao gồm:
+ Nhóm khách hàng thứ nhất: Các pháp nhân:
o
• Doanh nghiệp nhà nước,
o
• Hợp tác xã
o
• Cơng ty trách nhiệm hữu hạn, (01 thành viên; từ 02-50 thành viên)
o
• Cơng ty cổ phần,
o
• Cơng ty hợp danh
o
• Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và
o
• các tổ chức khác
+Nhóm khách hàng thứ hai:
o
• Cá nhân;
o
• Hộ gia đình;
o
• Tổ hợp tác;
o
• Doanh nghiệp tư nhân;
+Nhóm khách hàng thứ ba: Các pháp nhân và cá nhân nước ngoài.
Bên đi vay phải thỏa mãn các điều kiện liên quan đến năng lực chủ thể, mục
đích sử dụng vốn vay, khả năng thanh toán khoản vay…
Điều kiện về năng lực chủ thể.
a) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
– Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự;
– Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi dân sự;
– Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự;
– Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự;
– Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự;
o
3
b) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài:
–Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp
luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là cơng dân,
nếu pháp luật nước ngồi đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hồ xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định
hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
hoặc tham gia quy định.
Điều kiện về mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
-Sử dụng vốn vay vào những lĩnh vực pháp luật không cấm.
-Sử dụng vốn để kinh doanh, bên đi vay phải có đăng ký kinh doanh, sử
dụng vốn kinh doanh đúng lĩnh vực, ngành nghề đăng ký.
-Trong trường hợp sử dụng vốn đầu tư vào các họat động kinh doanh có
điều kiện phải thỏa mãn các điều kiện luật định.
Điều kiện về khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
-Cơ sở xác định khả năng tài chính: báo cáo tài chính có kiểm tốn, vốn tự
có…
-Trách nhiệm cung cấp các thơng tin về tình hình và năng lực tài chính.
Các điều kiện khác:
-Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù
hợp với quy định của pháp luật.
-Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Về hình thức
Hợp đồng tín dụng luôn luôn được lập thành văn bản. Hợp đồng tín dụng
ngân hàng đa phần là hợp đồng theo mẫu. Tên gọi có thể là: Hợp đồng tín
dụng; Hợp đồng vay; Khế ước vay vốn; hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay,
mục đích vay, hợp đồng có thể có thêm các cụm từ: “ngắn hạn”; “trung
hạn”; “dài hạn”; “đồng Việt Nam”; “ngoại tệ”; “tiêu dùng”; “đầu tư”… Hợp
đồng tín dụng có thể được cơng chứng, chứng thực phụ thuộc vào sự thỏa
thuận của các bên.
Về đối tượng:
Hợp đồng tín dụng có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới
hình thức tiền tệ.
4
Về tính rủi ro: hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho
quyền lợi của bên cho vạy. Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng
tín dụng, bên cho vay chỉ có thể địi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất
định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn.
Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra
với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác.
– Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ
chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải
được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ của bên vay. Do đo, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã
chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ
với có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao
gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn
trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…)
* Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức
tín dụng.
• Ngun tắc tránh rủi ro, bảo đảm an tồn trong hoạt động tín
dụng:
Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang
tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội.
• Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích:
Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ
bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi
phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay
phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật.
• Ngun tắc hồn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo
thoả thuận:
Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp bên
vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên
cho vay chấp thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả
gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn.
* Tổ chức tín dụng khơng được cho vay các nhu cầu vốn sau đây:
– Để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật
cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi;
5
-Để thanh tốn các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật
cấm;
-Để đáp ứng các nhu cầu cho các giao dịch mà pháp luật cấm.
Tổ chức tín dụng cần tuân thủ quy định về giới hạn cho vay
-Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng khơng được vượt q 15% vốn
tự có của chính tổ chức tín dụng đó, trừ trường hợp đối với những khoản cho
vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân.
-Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có cuả
tổ chức tín dụng hoặc khách hàng có nhu cầu huy động vốn từ nhiều nguồn
thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
– Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng chỉ được cho vay vượt quá
mức giới hạn cho vay quy định khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối
với từng trường hợp cụ thể.
-Việc xác định vốn tự có của các tổ chức tín dụng để làm căn cứ tính tốn
giới hạn cho vay thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Những trường hợp không được cho vay
– Tổ chức tín dụng khơng được cho vay đối với khách hàng trong các trường
hợp sau đây:
+Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm sốt, Tổng giám đốc(Giám đốc),
Phó Tổng giám đốc), (phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;
+ Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay;
+ Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm sốt,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).
Tuy nhiên, các quy định trên khơng áp dụng đối với các tổ chức tín dụng
hợp tác. Điều này xuất phát từ bản chất của tổ chức tín dụng hợp tác.
Những trường hợp hạn chế cho vay
Tổ chức tín dụng khơng được cho vay khơng có bảo đảm, cho vay với những
điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đôi tượng sau
đây:
– Tổ chức kiểm tốn, Kiểm tốn viên có trách nhiệm kiểm tốn tại tổ chức
tín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín
dụng cho vay; Kế tốn trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;
6
- Các cổ đơng lớn của tổ chức tín dụng;
– Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77
của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh
nghiệp đó.
1.2.Thủ tục, trình tự ký kết hợp đồng tín dụng
* Hồ sơ vay vốn
– Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị
vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn.
-Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp
pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng
-Dưới góc độ pháp lý, Giấy đề nghị vay vốn là “đề nghị ký kết hợp đồng”.
*Thẩm định hồ sơ vay vốn :
Đây là một giai đoạn mang tính nghiệp vụ và rất quan trọng trong việc hạn
chế rủi ro tín dụng. Thơng thường mỗi Tổ chức tín dụng tuỳ theo cơ cấu tổ
chức và phân định chức năng thẩm định dự án.
Công việc thẩm định bao gồm :
– Khả năng tài chính
– Tính khả thi của dự án
-Uy tín của khách hàng
– Biện pháp bảo đảm tín dụng
Trong trường hợp cần thiết Tổ chức tín dụng có thể thành lập hội đồng thẩm
định hoặc thuê, trưng cầu các cơ quan chuyên môn để thẩm định.
*Quyết định cho vay:
Trên cơ sở kết luận về khả năng tài chính; tính khả thi của dự án đầu tư, mục
đích tiêu dùng, sinh họat…cá nhân có thẩm quyền (Trường phịng Tín dụng;
phó giám đốc; giám đốc chi nhánh…) quyết định cho vay
Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải
thông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từ
khi nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng.
Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng phải thơng báo cho
khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.
*Ký kết hợp đồng tín dụng.
- Hợp đồng tín dụng đa số là được ký trực tiếp hoặc.
o
• Trực tiếp: các bên ký kết và ràng buộc các bên phải cử người thanm
gia đàm phán
7
• Gián tiếp dưới sự hỗ trợ của Internet; Fax; telex…và các phương
tiện khác.
1.3. Nội dung hợp đồng tín dụng
Điều 51 Luật Các Tổ chức tín dụng
Hợp đồng tín dụng phải đảm bảo các nội dụng về:
– Điều khoản về điều kiện vay vốn
– Điều khoản về đối tượng hợp đồng, số tiền vay;
– Điều khoản về phương thức cho vay,
– Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay.
– Điều khoản về lãi suất
– Điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay
– Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay vốn và lãi
– Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng
Nếu hợp đồng tín dụng được ký kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản như
cầm cố, thế chấp, bảo lãnh các bên có thể thỏa thuận một điều khoản riêng rẽ
nằm trong hợp đồng tín dụng hoặc có thể lập một hợp đồng riêng biệt.
*Một số điều khoản cần lưu ý:
o
•Điều khoản về Thời hạn cho vay.
Theo qui định pháp luật, Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ
sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ
của khách hàng và nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng để thoả thuận về
thời hạn cho vay.
Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngồi, thời hạn cho vay khơng q
thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt
động tại Việt Nam;
Đối với cá nhân nước ngồi, thời hạn cho vay khơng vượt q thời hạn được
phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam.
Cách thức thể hiện kỳ hạn vay trên hợp đồng:
-“Thời hạn vay là ….. Tháng, kể từ ngày bên vay nhận tiền lần đầu”.
-“Thời hạn vay là …. Tháng, kể từ ngày… tháng… năm… đến ngày…
Tháng…năm…”.
-“Bên vay phải trả hết nợ trong thời gian … Tháng (ngày), kể từ ngày nhận
vốn vay.”
-“Thời hạn vay là … Tháng. Hạn trả cuối cùng là ngày…. Tháng….
Năm…”.
o
8
-“Thời hạn vay là … Tháng, kể từ ngày Hợp đồng này có hiệu lực” (áp dụng
cho trường hợp cho vay từng lần).
-Thời hạn cho vay là…tháng, kể từ ngày rút vốn đến ngày trả xong nợ tính
cho từng lần rút vốn (theo giấy nhận nợ).
o
•Điều khoản về lãi suất:
Lãi suất tín dụng là khoản tiền thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên
tổng số tiền vay mà người đi vay phải trả cho người cho vay trong thời gian
một tháng, một năm
– Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù
hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn
định và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng khơng
vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký
kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng.
a.Lãi suất và giới hạn lãi suất
Lãi suất trong hợp đồng tín dụng chính là giá cả mua bán tiền vốn. Tính theo
thời điểm trả lãi, thì có ba cách là trả lãi theo định kỳ, trả lãi trước và trả lãi
cuối kỳ.
BLDS quy định lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt
quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương
ứng (§ 476.1).
Trường hợp ngân hàng cho vay từ trên 150% lãi suất cơ bản cho đến dưới
1.500% lãi suất cơ bản là vi phạm điều cấm của pháp luật. Nếu tranh chấp
đưa ra Toà án xét xử, thì phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản sẽ
khơng được cơng nhận. Ngồi ra, thì chưa có chế tài xử lý đối với loại vi
phạm này. Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10-12-2004 của Chính phủ
về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân
hàng khơng có quy định về việc xử phát đối với việc cho vay vượt quá trần
lãi suất.
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định trường hợp cho vay với mức lãi suất cao
hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên (tức là từ
1.500% lãi suất cơ bản trở lên) có tính chất chun bóc lột thì sẽ phạm tội
cho vay lãi nặng (§ 163). Tuy nhiên, nếu như ngân hàng cho vay với mức lãi
suất này thì cũng khơng xử lý được, vì thứ nhất là khó chứng minh đó là việc
9
cho vay “có tính chất chun bóc lột” và thứ hai, đây là vi phạm của pháp
nhân, trong khi Bộ luật hình sự chỉ xử phạt hình sự đối với cá nhân.
Đặc biệt, từ năm 2002 đến năm 2010 NHNN đã có nhiều văn bản cho phép
các ngân hàng được cho vay vượt trần 150% lãi suất cơ bản nói trên
b.Thời hạn và phương thức tính lãi
Thời hạn để tính lãi tiền vay trong hợp đồng tín dụng có thể là ngày, tháng
hoặc năm. Thời gian chuẩn tính lãi được quy ước là một năm có 360 ngày,
một tháng có 30 ngày, khơng phân biệt tháng có 28, 29, 30 hay 31 ngày (QĐ
652/2001/QĐ-NHNN ngày 17-5-2001 của Thống đốc NHNN).
Lãi suất được áp dụng trong hợp đồng tín dụng theo hai phương thức cơ bản
là lãi suất cố định và lãi suất thay đổi (hay còn được gọi là lãi suất thả nổi).
Nếu các bên thoả thuận áp dụng lãi suất cố định, thì lãi suất sẽ khơng thay
đổi trong suốt thời hạn vay, bất kể lãi suất thị trường có tăng lên hay giảm
xuống. Nếu các bên thoả thuận áp dụng lãi suất thay đổi thì sẽ điều chỉnh lãi
suất lên, xuống dựa vào lãi suất thị trường. Căn cứ này phải được thoả thuận
một cách cụ thể thì mới tránh vướng mắc.
Ví dụ 1 về cách ghi lãi suất thay đổi trong hợp đồng tín dụng:
Lãi suất trong Hợp đồng này được điều chỉnh theo định kỳ 3 tháng/lần, kể từ
ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất mỗi lần điều chỉnh được tính bằng lãi suất
tiết kiệm loại 12 tháng thông thường của Ngân hàng A cộng với 5%/năm
nhưng bảo đảm không thấp hơn 10%/năm.
Cần lưu ý trường hợp cho vay tính lãi trên số nợ gốc vay ban đầu (add-on),
thì lãi suất thực tế cao hơn nhiều so với con số cơng bố.
Ví dụ 2 về cách tính lãi:
Cơng ty A ký hợp đồng tín dụng vay 10 tỷ đồng, với lãi suất 12%/năm, trong
thời hạn 20 tháng, trả nợ gốc và lãi hằng tháng.
Nếu theo cách tính lãi suất thơng thường theo dư nợ thực tế, tức là lấy số
tiền nợ gốc còn lại (giảm dần) nhân với lãi suất, thì tổng số tiền lãi phải trả
sẽ là 1,05 tỷ đồng.
Nếu theo cách tính lãi suất ít phổ biến và thường được áp dụng trong cho
vay tiêu dùng, là tính lãi trên số nợ gốc vay ban đầu (khơng đổi), thì tổng số
tiền lãi phải trả sẽ là: 10 tỷ đồng x 20 (tháng) x 1%/tháng = 2 tỷ đồng.
Như vậy, nếu cách tính lãi này quy đổi theo cách tính lãi thứ nhất, thì tuy
cơng bố là lãi suất 12%/năm, nhưng thực chất mức lãi suất sẽ lên đến trên
21,63%/năm.
10
c. Lãi suất quá hạn
Hầu hết các ngân hàng vẫn thoả thuận trong hợp đồng tín dụng về lãi suất
quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn đối với chính hợp đồng tín
dụng đó. Mức lãi suất q hạn không quá 150% này là do NHNN quy định
dựa trên cơ sở BLDS năm 1995 giao cho NHNN quy định mức lãi suất quá
hạn. Nhưng từ năm 2006 trở đi, nếu vẫn áp dụng mức lãi suất quá hạn này là
khơng đúng pháp luật, vì BLDS năm 2005 quy định mức lãi suất quá hạn
được tính “theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn
vay tại thời điểm trả nợ” (§ 474.5). Hai quy định này có sự chênh lệch rất
đáng kể, nhất là trong thời kỳ lãi suất có sự biến động lớn.
Ví dụ 3 về cách tính lãi suất quá hạn.
Ngân hàng B cho Công ty C vay tiền, với mức lãi suất là 14%/năm. Theo
quy định của BLDS năm 1995, nếu khoản nợ bị chuyển sang quá hạn, thì
mức lãi suất áp dụng tối đa là 21% (14% + 7%), không phụ thuộc vào lãi
suất cơ bản tại thời điểm quá hạn là bao nhiêu.
Còn theo quy định của BLDS năm 2005, nếu lãi suất cơ bản tại thời điểm
quá hạn là 7%/năm thì mức lãi suất quá hạn sẽ vẫn là 21%/năm (14% +
7%). Nhưng nếu lãi suất cơ bản tại thời điểm đó chỉ có 5%/năm thì lãi suất
q hạn chỉ còn 19%/năm (14% + 5%). Ngược lại, nếu lãi suất cơ bản lại là
10%/năm, thì lãi suất quá hạn sẽ là 24%/năm (14% + 10%).
Như vậy, theo cách tính thứ nhất thì phần lãi suất q hạn sẽ rất khác nhau
phụ thuộc vào mức lãi suất cho vay, cịn theo cách tính thứ hai, dù lãi suất
cho vay bao nhiêu, thì phần lãi suất quá hạn tối đa vẫn chỉ là một mức lãi
suất cơ bản.
d.
Phí tín dụng
Phí tín dụng nói chung, phí cho vay nói riêng là khoản phí mà bên vay phải
trả cho ngân hàng ngồi lãi suất cho vay. Có nhiều loại phí cho vay như:
Phí tư vấn các dự án đầu tư;
Phí cam kết cho vay có điều kiện;
Phí cấp hạn mức tín dụng;
Phí cam kết sử dụng hạn mức;
Phí thẩm định cho vay;
Phí định giá tài sản bảo đảm;
Phí phê duyệt khoản vay;
Phí giải ngân bằng tiền mặt;
11
Phí gia hạn nợ;
Phí điều chỉnh kỳ hạn trả nợ;
Phí trả nợ trước hạn;
Phí chậm trả nợ lãi;
Phí mượn hồ sơ tài sản bảo đảm;
Phí thay đổi tài sản bảo đảm và các loại phí dịch vụ tín dụng khác.
Ngồi ra, bên vay cịn phải thanh tốn các loại phí phải trả cho người thứ ba
như: Phí cơng chứng hợp đồng bảo đảm, phí đăng ký thế chấp, phí trơng giữ
tài sản bảo đảm,…
Trong điều kiện bình thường, thì lãi suất và phí cao hay thấp sẽ do cung cầu
về vốn và sự cạnh tranh trong thị trường tiền tệ quyết định. Do vậy, chưa có
văn bản quy phạm pháp luật nào cấm việc thu phí của các ngân hàng, mà chỉ
có các cơng văn nhắc nhở của NHNN trong những thời kỳ phải thực hiện
đúng trần lãi suất cho vay. Dù được gọi là phí, nhưng đó là chi phí liên quan
đến khoản vay làm gia tăng giá (lãi suất). Vì nếu cộng thêm q nhiều phí
thì sẽ vơ hiệu hoá trần lãi suất.
Điều khoản về chuyển nợ quá hạn.
-Trường hợp khách hàng không trả được nợ gốc đúng kỳ hạn đã thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị thì tổ chức tín dụng xem xét
cho điều chỉnh kỳ hạn trả nợ.
– Trường hợp khách hàng không trả nợ hết nợ gốc trong thời hạn cho vay và
có văn bản đề nghị gia hạn nợ, thì tổ chức tín dụng xem xét gia hạn nợ.
-Thời hạn gia hạn nợ :
+đối với cho vay ngắn hạn tối đa bằng 12 tháng,
+ đối với cho vay trung hạn và dài hạn tối đa bằng 1/2 thời hạn cho vay đã
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
+Trường hợp khách hàng đề nghị gia hạn nợ quá các thời hạn này do nguyên
nhân khách quan và tạo điều kiện cho khách hàng có khả năng trả nợ, thì
Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) tổ chức tín dụng
xem xét quyết định và báo cáo ngay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sau khi
thực hiện.
- Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, gia hạn trả nợ lãi:
o
12
+ Trường hợp khách hàng không trả nợ lãi đúng kỳ hạn đã thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, thì tổ
chức tín dụng xem xét quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi.
+Trường hợp khách hàng không trả hết nợ lãi trong thời hạn cho vay đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị gia hạn nợ lãi, thì tổ
chức tín dụng xem xét quyết định thời hạn gia hạn nợ lãi.
+Thời hạn gia hạn nợ lãi áp dụng theo thời hạn gia hạn nợ gốc
-Điều khoản về kỳ hạn trả nợ.
+Nợ gốc: trả khi đến hạn hoặc trả khi kết thúc kỳ hạn gia hạn (nếu có). Nếu
khơng trả nợ, ngân hàng tự động chuyển sang nợ quá hạn. Một số ngân hàng
chuyển sang nợ quá hạn toàn bộ dư nợ gốc thực tế theo hợp đồng nhưng chỉ
tính lãi suất quá hạn đối với phần dư nợ gốc quá hạn
+Đối với việc quá hạn trả lãi: các bên có thể thỏa thuận áp dụng hình thức
phạt chậm trả tính theo ngày hoặc lãi suất phạt đối với khoản lãi chậm trả.
o
• Điều khoản về phương thức vay:
Tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương
thức cho vay, việc lựa chọn phương thức phải được thể hiện trong hợp đồng;
– Cho vay từng lần; Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực
hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
– Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
đình.
– Cho vay theo dự án đầu tư Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
án đầu tư phục vụ đời sống.
– Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
– Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ
theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
– Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phịng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất
định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn
mức tín dụng dự phịng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phịng.
13
– Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức
tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi
hạn mức tín dụng để thanh tốn tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt
tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín
dụng.
– Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài
khoản thanh tốn của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ
và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh tốn.
o
• Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của khách hàng.
– Khách hàng vay có quyền:
+ Từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng khơng đúng với các thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng;
+ Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của
pháp luật;
- Khách hàng vay có nghĩa vụ:
+ Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay
vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thơng tin, tài liệu đã cung
cấp;
+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác;
+ Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;
+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả
thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam
kết trong hợp đồng tín dụng.
- Tổ chức tín dụng có quyền:
+ Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời
sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi
quyết định cho vay;
+ Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay
vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn khơng có hiệu quả, khơng phù
hợp với quy định của Pháp luật hoặc tổ chức tín dụng khơng có đủ nguồn
vốn để cho vay.
14
+ Kiểm tra, giám sát quả trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng;
+ Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng
cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;
+Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo
quy định của pháp luật.
+ Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng khơng trả nợ, nếu các bên khơng có
thoả thuận khác, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay
theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật
hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp
khách hàng được bảo lãnh vay vốn;
+ Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ; mua bán nợ theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ,
khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
- Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ:
+ Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;
+ Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
1.3.Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.3.1.Khái niệm
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là một trong những dạng tranh chấp phổ biến
hiện nay được giải quyết tại tòa án nhân dân các cấp. Việc giải quyết
các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng tại tịa án
đóng vai trị quan trọng trong việc góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn an ninh
trật tự xã hội.
1.3.2.Đặc điểm
Vì tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nói
chung, do đó có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp
hợp đồng. Tuy nhiên, với bản chất đặc thù của HĐTD, tranh chấp
HĐTD ngân hàng mang một số đặc trưng riêng biệt để có thể phân
biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác. Có thể khái quát đặc điểm
của tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng các ý sau:
15
Thứ nhất, giá trị của tranh chấp HĐTD thường có giá trị lớn hoặc thậm
chí là rất lớn.
Khi kí kết HĐTD thì thường là do bên đi vay có nhu cầu về vốn mà khơng
thể tự mình xoay xở được. Nhu cầu đó thường là để bổ sung vốn kinh doanh
đối với tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình.
Do đó, số tiền này không phải là nhỏ và dễ dàng vay được từ các tổ chức, cá
nhân ngoài xã hội mà khơng phải là ngân hàng.
giai quyet tranh chapVề phía bên cho vay là ngân hàng, bên cạnh vai trò là
chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì TCTD cịn đóng vai trị là người đi
vay của các chủ thể khác để cho vay lại. Để đạt được lợi nhuận cao thì các
TCTD thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm
bảo tại thời điểm cho vay. Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để
đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ
các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các TCTD sẽ làm ảnh hưởng
xấu đến hoạt động của TCTD đó. Thực tế khơng hiếm các trường hợp các
TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’. Một khi khách
hàng vay khơng thể thanh tốn được nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là
chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp
khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu khơng cịn hoặc bị gián đoạn. Đặc
biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn
cho TCTD khi muốn thu hồi vốn. Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa án thì
thường là người đi vay khơng cịn có khả năng trả nợ cho TCTD. Mặt khác,
khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì TCTD sẽ mất lịng tin với khách hàng vay
vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng
minh lại được khả năng tài chính của mình. Do đó, có thể nói tranh chấp
HĐTD là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng đến
bên cho vay mà cịn cả đối với bên đi vay. Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra
nhiều thì ảnh hưởng đó khơng chỉ ảnh hưởng đến một TCTD mà có thể ảnh
hưởng dây chuyền đến các TCTD khác trong nền kinh tế.
Thứ hai, tranh chấp HĐTD được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do
thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp.
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Bộ Luật
dân sự năm 2015 ghi nhận :“cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt
buộc đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn
trọng”. HĐTD về bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ
16
mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên. Do đó, kể cả đối với việc
giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì các bên cũng có quyền thỏa
thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy
ra. Việc tơn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vơ cùng quan trọng vì
quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan
hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác. Khi
các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải
quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu
được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên. Về phía các cơ
quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc
giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày
càng xảy ra nhiều và phức tạp như hiện nay.
Đặc biệt, vấn đề thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp đối với các
TCTD là ngân hàng nước ngồi, ngân hàng nước ngồi có vai trò quan trọng
hơn bao giờ hết. Bởi các chủ thể này khác với các TCTD trong nước, chịu sự
điều chỉnh của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam và sự khác
nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều
không thể tránh khỏi. Vì vậy, việc cho phép, tơn trọng quyền tự thỏa thuận
của các bên khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột
pháp luật có thể xảy ra trong q trình giải quyết các tranh chấp. Tuy nhiên,
nguyên tắc đối với các thỏa thuận này là phải phù hợp với các quy định của
pháp luật Việt Nam.
Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên cũng
được Bộ Luật tố tụng dân sự thể hiện ở chế định hòa giải. Theo đó, hịa giải
là trách nhiệm của cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra và khi đó các
bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án. Ngay cả trước khi diễn ra
hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏa thuận
về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù hợp với các quy
định của pháp luật.
Thứ ba, tranh chấp HĐTD ln có sự tham gia của một bên là TCTD và
phần lớn các tranh chấp HĐTD thì ngun đơn là tổ chức tín dụng cho
vay, bị đơn là bên đi vay.
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ
chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá
nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD ln đóng vai trò trung gian
17
trong mối quan hệ này. Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng
nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản
thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD.
Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách
hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận. Nhưng với tư cách là
chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với
khách hàng là điều không hiếm xảy ra. Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp
đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội
ngũ cán bộ có trình độ chun mơn về mặt pháp lý nhất định. Trong khi đó,
chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chun
mơn về mặt pháp lý của họ cịn thấp và nhiều khi không được chú trọng
đúng mức. Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ
nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả
không đúng nghĩa vụ. Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD ln nắm đằng
chuôi với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong
hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên. Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy
ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại vi phạm chính những
điều khoản do chính mình soạn thảo.
Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay
thường phát sinh sau thời điểm giải ngân. Trong khi đó, tại thời điểm hồn
tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hồn thành các nghĩa vụ của
mình. Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ
sơ tín dụng, nghĩa vụ thơng báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản
đảm bảo... là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay. Vì
lý do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm
nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD.
Thứ tư, đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD chính là các
tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của
bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trong HĐTD.
Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như: tranh chấp về chủ thể
xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh
chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay... Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra
nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức
lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm. Sở dĩ như vậy là bởi vì những nghĩa vụ này
18
chính là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trị nịng cốt trong q trình
thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp
đến quyền lợi của TCTD. Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các
TCTD nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về
nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ.
Thứ năm, tranh chấp HĐTD thường là tiền đề làm phát sinh và gắn
liền với một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay thơng
qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các TCTD khi tham gia vào HĐTD đều có mục đích lợi nhuận từ việc cho
vay đó vì bản chất của TCTD là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Để giảm
thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường
TCTD chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp
bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba. Các biện pháp bảo đảm này
đóng vai trị là phương pháp dự phịng của TCTD khi rủi ro xảy ra. Khi đó,
để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên kí kết hợp
đồng bảo đảm cho khoản vay. Tùy trường hợp mà đó có thể là hợp đồng cầm
cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ
ba. Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm
cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ hợp đồng
tín dụng đã được kí kết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc trả nợ
của bên đi vay.
Như vậy, khơng có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra khỏi
HĐTD với tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng ln có mối quan
hệ mật thiết, gắn bó với nhau. Có thể ví mối quan hệ này như là mối quan hệ
giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Sự vơ hiệu loại hợp đồng này có ảnh
hưởng đến loại hợp đồng kia tùy trường hợp. “Trong trường hợp hợp đồng
có nghĩa vụ được bảo đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì
giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc tồn bộ hợp
đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm khơng chấm dứt, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác”. Ngược lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu
không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác”. Như vậy, có thể khẳng định rằng tranh chấp HĐTD, với tư
cách là hợp đồng chính, ln gắn liền và làm cơ sở phát sinh tranh chấp hợp
đồng bảo đảm - hợp đồng phụ trong quan hệ tín dụng giữa các bên.
19
Thứ sáu, tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các
bên tham gia tranh chấp.
Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất
phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng. Mặc dù vậy trong quan
hệ dân sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đồn thể có thể khởi
kiện để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi
ích của chính cơ quan, đồn thể đó. Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh
từ HĐTD thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới
có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay
TCTD. Khơng có trường hợp nào mà tranh chấp HĐTD phát sinh do tổ
chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia
HĐTD. Như vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên
khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ
tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với lợi ích
của các bên tranh chấp.
1.3.3.Nguyên nhân tranh chấp
Quyền và nghĩa vụ của các bên bao giờ cũng phải được quy định rõ ràng
trong hợp đồng tín dụng. Khách hàng vay chỉ được sử dụng số tiền đó vào
mục đích gì? Đến thời hạn nào phải hồn trả nợ vay… và ngược lại Tổ chức
tín dụng có nghĩa vụ giải ngân đúng số tiền và thời gian đã thỏa thuận cũng
như có quyền kiểm tra, giám sát q trình sử dụng vốn vay hoặc thu hồi nợ
theo quy định trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
Thực tế đa số các hợp đồng tín dụng đã được các bên thực hiện đầy đủ,
sòng phẳng, điều này tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa khách hàng vay và tổ
chức tín dụng, chính điều này sẽ giúp cho hai bên trong giao dịch đều có lợi
đóng góp chung vào sự phát triển của nền kinh tế.Tuy nhiên, thực tiễn vẫn
khơng ít trường hợp các bên khơng thiện chí thực hiện hợp đồng tín dụng
dẫn đến mối quan hệ hợp tác tín nhiệm khơng cịn nữa và đây là nguyên
nhân tiềm tàng xảy ra tranh chấp. Đa phần, các tranh chấp liên quan về hợp
đồng tín dụng xuất phát từ việc khách hàng vay không thực hiện đúng các
cam kết trong hợp đồng. Sự cam kết này đã được các bên thống nhất, tự
nguyện ký kết nhưng lại khơng thực hiện nghiêm túc những gì đã thỏa
thuận.
Ví dụ, Trong q trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bên vay đã sử dụng
số tiền vay đúng mục đích dưới sự giám sát của tổ chức tín dụng nhưng họ
20
khơng có khả năng trả nợ gốc và lãi suất theo thỏa thuận dẫn đến việc tranh
chấp giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay là rất cao. Trong trường hợp
các bên không thể thỏa thuận về việc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn
nợ thì bên cho vay có thể áp dụng các biện pháp để thu hồi nợ và lãi suất
chưa thanh toán. Nếu các biện pháp thu hồi nợ này hoặc biện pháp xử lý tài
sản bảo đảm khơng đúng trình tự thủ tục thì tranh chấp đương nhiên xảy ra.
Ngồi ra, việc chậm trả đối với các nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay thì
khách hàng vay cịn bị phạt. Luật cho phép các tổ chức tín dụng được phép
tự quyết định việc cơ cấu lại thời gian trả nợ, pháp luật khơng cho phép bên
đi vay có quyền cùng tham gia đề nghị tổ chức tín dụng cho cơ cấu lại thời
gian trả nợ. Chính điều này các tổ chức tín dụng có thể áp dụng các biện
pháp thu nợ tuỳ tiện dẫn đến tranh chấp vẫn cứ xảy ra.
Ngoài ra, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng còn do các
nguyên nhân như:
- Người vay đã sử dụng vốn sai mục đích: Một trong các nguyên nhân vi
phạm điều khoản sử dụng vốn khơng đúng mục đích từ đó làm nảy sinh
tranh chấp.
Khi một bên trong quan hệ hợp đồng tín dụng vi phạm thì bên cịn lại có
quyền thực hiện quyền yêu cầu chấm dứt hành vi, đơn phương chấm dứt hợp
đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại theo thực tế. Quy định của pháp luật và
thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng
chưa được chặt chẽ và thống nhất. Đặc biệt, vấn đề thực hiện quyền và nghĩa
vụ cụ thể trong hợp đồng tín dụng đã ký kết chưa thực sự khách quan và
cơng bằng cho hai bên đó là mấu chốt gây ra nhiều mâu thuẫn và xung đột
về quyền lợi giữa hai bên. Do đó, vấn đề tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên vẫn cứ xảy ra.
1.4.Các phương pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ hợp đồng gắn kết với các lợi ích, vì vậy cũng dễ phát sinh tranh
chấp khi có xung đột về lợi ích. Sự xung đột này thường xuất hiện do hành
vi không thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng các cam kết trong hợp đồng.
Khi có tranh chấp các bên thường tìm đến các phương thức giải quyết tranh
chấp khác nhau để giải tỏa xung đột, bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích, tạo lập
lại sự cân bằng mà các bên có thể chấp nhận được. Có nhiều phương thức
giải quyết tranh chấp. Thực tiễn và khoa học pháp lý ghi nhận bốn phương
21
thức giải quyết tranh chấp sau: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài; Tòa án.
1.4.1. Phương thức thương lượng
“Thương lượng là việc bàn bạc nhằm đi đến thỏa thuận giải quyết một vấn
đề nào đó giữa các bên“. Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp
khơng chính thức, khơng có sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước hay
bên thứ ba nào. Thương lượng thể hiện quyền tự do thỏa thuận và tự do định
đoạt của các bên. Phần lớn các điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp
đồng các bên đều quy định việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng khi
có sự vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, Điều 329 Luật Thương mại có quy
định:”Tranh chấp thương mại trước hết phải được giải quyết thông qua
thương lượng giữa các bên”. Tuy nhiên, đây được hiểu là điều luật mang tính
tùy nghi, khơng được hiểu là một quy định bắt buộc.
Ưu điểm:
– Khơng địi hịi thủ tục phức tạp;
– Không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý ngặt nghèo;
– Hạn chế tối đa chi phí;
– Ít phương hại đến mối quan hệ giữa các bên;
– Giữ được bí mật kinh doanh.
Nhược: Địi hỏi các bên đều phải có thiện chí, trung thực với tinh thần hợp
tác cao, nếu không, việc thương lượng sẽ thất bại và lại phải theo một
phương thức khác để giải quyết.
1.4.2. Phương thức hịa giải
+ Hịa giải là hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất trong lịch
sử xã hội lồi người trên nhiều lãnh vực, chứ khơng riêng đặc trưng gì với
tranh chấp Hợp đồng.
+ Hịa giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến
thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực
hiện phương án đã thỏa thuận qua hòa giải.
+ Ở VN, việc hòa giải tranh chấp Hợp đồng được coi trọng. Các bên phải tự
thương lượng, hòa giải với nhau khi phát sinh tranh chấp. Khi thương lượng,
hòa giải bất thành mới đưa ra Tòa án hoặc trọng tài giải quyết. Ngay tại Tịa
án, các bên vẫn có thể tiếp tục hịa giải với nhau. Ở VN, bình quân mỗi năm,
số lượng tranh chấp kinh tế được giải quyết bằng phương thức hòa giải
chiếm đến trên dưới 50% tổng số vụ việc mà Tòa án đã phải giải quyết.
22
+ Các ưu điểm của giải quyết tranh chấp Hợp đồng kinh tế trong thực tế
bằng phương thức hòa giải:
– Là phương thức giải quyết tranh chấp đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém.
– Các bên hịa giải thành thì khơng có kẻ thắng người thua nên khơng gây ra
tình trạng đối đầu giữa các bên, vì vậy duy trì được quan hệ hợp tác vẫn có
giữa các bên.
– Các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng từ và sử dụng chứng
từ đó giữ được các bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên.
– Hịa giải xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên khi đạt
được phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện.
+ Những mặt hạn chế của phương thức hòa giải trong tranh chấp Hợp đồng:
– Nếu hồ giải bất thành, thì lợi thế về chi phí thấp trở thành gánh nặng bổ
sung cho các bên tranh chấp.
– Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hịa giải để trì hoản việc thực hiện
nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hậu quả là bên có quyền lợi bị vi phạm
mất quyền khởi kiện tại Tịa án hoặc trọng tài vì hết thời hạn khởi kiện.
+ Các hình thức hịa giải:
– Tự hịa giải: là do các bên tranh chấp tự bàn bạc để đi đến thống nhất
phương án giải quyết tranh chấp mà không cần tới sự tác động hay giúp đỡ
của đệ tam nhân.
– Hòa giải qua trung gian: là việc các bên tranh chấp tiến hành hòa giải với
nhau dưới sự hổ trợ, giúp đỡ của người thứ ba (người trung gian hịa giải).
Trung gian hịa giải có thể là cá nhân, tổ chức hay Tòa án do các bên tranh
chấp chọn lựa hoặc do pháp luật qui định.
– Hòa giải ngồi thủ tục tố tụng: là việc hịa giải được các bên tiến hành
trước khi dưa đơn khởi kiện ra Tòa án hay trọng tài.
– Hòa giải trong thủ tục tố tụng: là việc hòa giải được tiến hành tại Tòa án,
trong tài khi các cơ quan này tiến hành giải quyết tranh chấp theo đơn kiện
của một bên (hòa giải dưới sự trợ giúp của Tòa án hay trọng tài). Tịa án,
trong tài sẽ ra quyết định cơng nhận sự thỏa thuận của các bên và quyết định
này có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
1.4.3. Phương thức giải quyết bởi Trọng tài:
Các bên thỏa thuận đưa ra những tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra
giải quyết tại Trọng tài và Trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp, sẽ
đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
23
+ Phương thức giải quyết trọng tài cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các
bên trên cơ sở tự nguyện.
+ Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định
trọng tài viên để thành lập Hợp đồng (hoặc Ủy ban) Trọng tài giải quyết
tranh chấp.
+ Khác với thương lượng hòa giải, trọng tài là một cơ quan tài phán (xét xử).
Tính tài phán của trọng tài thể hiện ở quyết định trọng tài có giá trị cưỡng
chế thi hành.
+ Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế, trong đó có tranh chấp Hợp đồng (tranh
chấp phát sinh từ Hợp đồng thuần túy dân sự không thuộc thẩm quyền giải
quyết của Trọng tài).
+ Thẩm quyền của Trọng tài được xác định không phụ thuộc vào quốc tịch,
địa chỉ trụ sở giao dịch chính của các bên tranh chấp hay nơi các bên tranh
chấp có tài sản hay nơi ký kết hoặc thực hiện Hợp đồng.
+ Điều kiện để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là các bên phải
có thỏa thuận trọng tài.
+ Thỏa thuận trọng tài là sự nhất trí của các bên đưa ra những tranh chấp đã
hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại trọng tài.
+ Thỏa thuận trọng tài phải thể hiện dưới hình thức văn bản và phải chỉ đích
danh một trung tâm trọng tài cụ thể .
+ Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản của Hợp đồng (điều khoản
trọng tài) hay là một thỏa thuận riêng biệt (Hiệp nghị trọng tài).
+ Mọi sự thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ hay vô hiệu của Hợp đồng đều khôn
glàm ảnh hưởng đến hiệu lực của thoả thuận trọng tài (trừ trường hợp lý do
làm Hợp đồng vô hiệu cũng là lý do làm thoả thuận trọng tài vô hiệu).
+ Thỏa thuận trọng tài khơng có giá trị ràng buộc các bên khi nó khơng có
hiệu lực hoặc khơng thể thi hành được.
+ Khi đã có thỏa thuận trọng tài thì các bên chỉ được kiện tại trọng tài theo
sự thỏa thuận mà thơi. Tịa án khơng tham gia giải quyết nếu các bên đã thỏa
thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài đó là vơ hiệu hoặc thỏa
thuận trọng tài là không thể thực hiện được.
+ Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xét xử một lần. phán quyết trọng tài
có tính chung thẩm: các bên khơng thể kháng cáo trước Tòa án hoặc các tổ
chức nào khác.
24
+ Các bên tranh chấp phải thi hành phán quyết trọng tài trong thời hạn ấn
định của phán quyết.
Các ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp Hợp đồng thông qua
trọng tài:
a) Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng.
b) Các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài.
c) Quyền chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên
giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp. Qua đó, có
điều kiện giải quyết tranh chấp Hợp đồng nhanh chóng, chính xác.
d) Ngun tắc trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các
bí quyết kinh doanh, giữ được uy tính của các bên trên thương trường.
e) Trọng tài không đại diện cho quyền lực nhà nước nên rất phù hợp để giải
quyết các tranh chấp có nhân tố nước ngồi.
Các mặt hạn chế của phương thức trọng tài:
a) Tính cưỡng chế thi hành các quyết định trọng tài khơng cao (vì Trọng tài
không đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước).
b) Việc thực hiện các quyết định trọng tài hồn tịan phụ thuộc vào ý thức tự
nguyện của các bên.
1.4.4. Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng theo thủ tục tố
tụng tư pháp
Khi tranh chấp Hợp đồng phát sinh, nếu các bên khơng tự thương lượng, hịa
giải với nhau thì có thể được giải quyết tại Tịa án. Tùy theo tính chất của
Hợp đồng là kinh tế hay dân sự mà các tranh chấp phát sinh có thể được Tòa
án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế hay thủ tục tố tụng dân sự.
Các lợi thế của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng qua Tòa án:
a) Các quyết định của Tòa án (đại diện cho quyền lực tư pháp của nhà nước)
có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên.
b) Với nguyên tắc 2 cấp xét xử, những sai sót trong q trình giải quyết
tranh chấp có khả năng được phát hiện khắc phục.
c) Với điều kiện thực tế tại Việt Nam, thì án phí Tịa án lại thấp hơn lệ phí
trọng tài.
Các mặt hạn chế của việc giải quyết tranh chấp Hợp đồng qua Tòa án:
a) Thời gian giải quyết tranh chấp thường kéo dài (vì thủ tục tố tụng Tịa án
q chặt chẽ).
b) Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế.
25