Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

bài thu hoạch hồ sơ dân sự 06 bảo vệ nguyên đơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (121.79 KB, 11 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHÓA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn học: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự

Hồ sơ : LS.DS 06 B3.TH1 – DS2/DS
Giáo viên hướng dẫn : Ths.Nguyễn Hồng Quang
Họ và tên:
Ngày sinh:
Lớp: F
Khóa: 23.2
Số báo danh:

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15 tháng 01 năm 2022


I.TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1.Nội dung vụ án
Vợ chồng cụ Chu Khắc Trường và cụ Chu Thị Cúc sinh sống trên mảnh đất có diện tích
là 777m2 tại thơn 6, Phù Vân, Thành phố Phủ Lý, Hà Nam. Hai cụ sinh được 4 người con là
bà Chu Thị Thanh sinh năm: 1931;Chu Thị Loan sinh năm: 1934; Chu Văn Sinh (Chu Khắc
Sinh) sinh năm: 1936; Chu Thị The sinh năm: 1944. Năm 1945 cụ Chu Khắc Trường chết,
không để lại di chúc cho gia đình, Năm 1990 cụ Chu Thị Cúc chết để lại một ngôi nhà 2
gian và đất ở với tổng diện tích 777m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do điều kiện kinh tế anh chị em bà Chu Thị Thanh phải đi làm xa. Ngày 20/01/1994 ơng
Chu Khắc Sinh có làm đơn chuyển quyền thừa kế cho ông Chu Khắc Thuyên (thường gọi là
Kha - anh con bác ruột của ông Sinh), có xác nhận của trưởng tộc họ Chu Khắc, trưởng thôn
Vân Châu và UBND xã Phù Vân. Việc chuyển nhượng này các chị em (bà Thanh, The,
Loan) không được bàn bạc, thống nhất.
Bà Chu Thị Hồng Thanh khi biết sự việc đã đề nghị chính quyền xã tạm đình chỉ việc


chuyển quyền thừa kế. Có giấy thơng báo tạm đình chỉ việc chuyển thừa kế ngày 10/4/1994.
Ngày 15/4/1994 (Bà Thanh, Ông Sinh, Bà The, Bà Loan) bàn bạc và thống nhất giao cho
ông Chu Khắc Thuyên trông coi nhà đất và thu hoạch hoa màu trên mảnh đất, ông Thuyên
được hưởng 50% và có trách nhiệm đóng thuế nhà đất và các nghĩa vụ khác với địa phương,
thời hạn là 05 năm (1994-1999) Có giấy giao quyền trơng nom. Ngày 3/3/1999, ông Thuyên
qua đời, bà Đinh Thị Tám (vợ ông Thuyên) vẫn trông nom, thu hoạch hoa lợi trên di sản đó.
Nhưng từ khi chuyển giao quyền trơng nom cho gia đình ơng Thun, gia đình ơng Thun
khơng đóng thuế đất cho nhà nước và trả các khoản cho anh chị em bà Thanh, ông
Sinh...theo như giấy chuyển giao đã ký.
Ngày 22/11/2001, ơng Chu Khắc Sinh có làm một giấy giao quyền sử dụng cho ông Chu
Khắc Chinh trông nom và thu hoạch hoa lợi trên mảnh đất bố mẹ ông để lại và có xác nhận
của UBND xã Phù Vân.( Ơng sinh có thống nhất với các chị em trong gia đình). Sau đó bà
Tám khơng ở lại địa phương nữa, nhưng hàng năm bà vẫn cố tình quay về thu hoạch hoa
màu.
Ngày 10/01/2007, bà Thanh, The và bà Loan, ơng Sinh đã lập biên bản họp gia đình để ủy
quyền thừa kế cho bà Chu Thị Thanh. Tháng 5/2016, bà Tám đã tự ý xây dựng nhà cấp 4
trên thửa đất nêu trên, không thông báo hay xin ý kiến 4 chị em bà Thanh, Loan, The, ông
Sinh. Khi biết sự việc, bà Thanh đã đến gặp bà Tám yêu cầu bà dừng lại mọi hoạt động xây
dựng, nhưng bà Tám vẫn tiếp tục thực hiện, bà Thanh đã đề nghị chính quyền địa phương
can thiệp, hịa giải 02 lần nhưng không thành.
Ngày 5/11/2016, bà Chu Thị Thanh và ông Chu Khắc Sinh đã gửi đơn khởi kiện đến TAND
thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam yêu cầu:
1. Bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777 m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập
năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh; Ông
Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, Bà Chu Thị The.

1


2. Buộc bà Đinh Thị Tám phải trả nhà đất cây cối trên diện tích đât 777 m2 tại thửa đất

số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 của gia đình và hoa mầu trên đất 50% tổng giá trị thu
nhập cây lưu niên từ 15/04/1994 đến ngày 15/04/1999. Theo giấy gửi UBND xã xã Phù
Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam năm 1994.
Tòa án nhân dân thành phố phủ lý tỉnh Hà Nam đã thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tục
tố tụng theo quy định của pháp luật.
2. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng cứ chứng minh
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Đơn khởi kiện đề ngày 05/11/2016, bà Chu Thị
Thanh và ơng Chu Khắc Sinh có yêu cầu khởi kiện như sau:
- Thứ nhất, yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777m 2 tại thửa đất số 40 tờ
bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho
Chu Thị Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The.
- Thứ hai, buộc bà Đinh Thị Tám phải trả nhà, đất, cây cối trên diện tích đất 777m 2 tại
thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 của gia đình và hoa màu trên đất với
50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994 theo giấy gửi
UBND xã Phù Vân, TP Phủ Lý, Hà Nam (năm 1994).
• Chứng cứ chứng minh
- Giấy chứng tử của bà Chu Thị Cúc (sao y công chứng);
- Giấy xác nhận ông Chu Khắc Trường chết năm 1945 (sao y công chứng);
- Giấy tờ chứng thực cá nhân và sổ hộ khẩu của bà Chu Thị Thanh, ông Chu Khắc
Sinh, Chu Thị Loan, Chu Thị The (bản sao y công chứng);
- Giấy khai sinh của Chu Thị Thanh, Chu Khắc Sinh, Chu Thị Loan, Chu Thị The (bản
sao y công chứng);
- Thông báo số 05/TB-UB ngày 10/04/1994 của UBND xã Phù Vân về việc tạm đình
chỉ việc chuyển quyền thừa kế;
- Giấy giao quyền trông nom ngày 15/04/1994;
- Tờ bản đồ số 2 năm 1998 (sao y công chứng);
- Giấy giao quyền sử dụng ngày 22/11/2001;
- Biên bản họp gia đình ngày 10/01/2007;
- Biên bản họp gia đình ngày 05/06/2016;
- Giấy xác nhận ngày 06/06/2016;

- Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 19/06/2016;
- Biên bản hòa giải ngày 25/10/2016;
- Báo cáo kết quả hòa giải tranh chấp đất đai số 79/BC-UBND ngày 25/10/2016.
3. Thời hiệu khởi kiện
Đây là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai nên không áp dụng thời
hiệu khởi kiện. Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 184 BLTTDS 2015 và Khoản 3 Điều 155
BLDS 2015.
4.Tư cách đương sự
Nguyên đơn:

2


1.Bà Chu Thị Thanh, sinh năm 1931
Địa chỉ: tổ 16 phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Đại diện theo ủy quyền: Chu Thị Hồng Tâm
Địa chỉ: số nhà 61 phố 16 phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
2. Ông Chu Văn Sinh, sinh năm 1936
Địa chỉ: thơn Vạn Thắng, xã Hịa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
- Bị đơn:
Bà Đinh Thị Tám
Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Chu Thị Loan, sinh năm 1934
Địa chỉ: tổ 03 phường Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
2. Bà Chu Thị The, sinh năm 1944
Địa chỉ: thôn Diên Điền, Bình Hịa, Giao Thủy, Nam Định
5.Thẩm quyền
- Tịa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này (Điểm a
Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015).

- Đối tượng tranh chấp trong trường hợp này là quyền sử dụng đất, theo điểm c khoản 1
Điều 39 BLTTDS 2015 thì tịa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. Như vậy,
Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý là Tồ án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên theo
quy định của pháp luật.
6. Quan hệ pháp luật
- Là tranh chấp trong hồ sơ là tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai
(Khoản 9 Điều 26 BLTTDS 2015).
II KẾ HOẠCH XÉT HỎI CỦA LUẬT SƯ
Với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, kế hoạch
hỏi lại tịa của tơi như sau:
1. Hỏi bị đơn – Đinh Thị Tám
- Mối quan hệ giữa bà với bên nguyên đơn như thế nào?
- Bà hãy cho biết nguồn gốc thửa đất mà ông Sinh khởi kiện?
- Thửa đất này trước giờ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa? Ai là
người đứng tên trên hồ sơ địa chính thửa đất?
- Bà có biết “Đơn chuyển quyền thừa kế” ngày 20/1/1994? Khi lập “Đơn chuyển
quyền thừa kế” ngày 20/1/1994 có mặt bà Thanh, bà Loan, bà The khơng? Các bà
này có ý kiến gì khơng? Có biết việc ơng Sinh lập văn bản này không?
- Việc vợ chồng bà giao tiền cho ông Sinh thì bà Thanh, bà Lan, bà The có biết không?

3


-

-

Bà có biết việc UBND xã Phù Vân đã tạm đình chỉ việc giao quyền thừa kế giữa ơng
Sinh và ông Thuyên chồng bà không?
Bà nói rằng ông Sinh đã bán mảnh đất đang tranh chấp cho vợ chồng ông bà. Vậy tại

sao chồng bà là ông Thuyên lại ký xác nhận vào giấy giao quyền trông nom lập ngày
15/04/1994?
Trong thỏa thuận có việc khơng được xây dựng cơ bản trên mảnh đất mà chỉ được tu
sửa phải không?
Hoa lợi trung bình 01 năm bà đã thu được trên mảnh đất tranh chấp là bao nhiêu?
Việc thỏa thuận phân chia 50% giá trị thu nhập cây lưu niên hàng năm. Gia đình bà
có thực hiện đúng như văn bản thỏa thuận đã được ký?
Hiện tại trên đất có những gì?
Tại sao khi được chính quyền địa phương xã Phù Vân can thiệp việc xây dựng nhà
trái phép và giải thích việc xây dựng trái phép trên nhưng bà vẫn tiếp tục xây dựng?

2. Hỏi nguyên đơn – Chu Thị Thanh
- Bố mẹ bà sinh được bao nhiêu người con? Gồm những ai?
- Ông Chu Khắc Trường tức cha của bà mất vào thời điểm nào? Khi mất, ơng có để lại
di chúc hay không?
- Bà Chu Thị Cúc tức mẹ của bà mất vào thời điểm nào? Khi mất, bà có để lại di chúc
hay khơng?
- Bà biết việc ơng Sinh chuyển quyền thừa kế cho ông Chu Khắc Thuyên vào lúc nào?
- Chị em bà có bao giờ cùng nhau bàn về việc chia di sản thừa kế của cha mẹ?
- Khi bà biết việc ông Sinh chuyển quyền thừa kế như vậy, bà đã có những hành động
gì?
- Chính quyền địa phương có đồng ý với u cầu đình chỉ chuyển quyền thừa kế của
chị em bà khơng?
- Khi bốn chị em bà giao cho ông Thuyên trông nom, quản lý thì thời điểm đó trên
thửa đất này có những tài sản gì? Những tài sản đó của ai?
- Giấy trơng nom này có được sự đồng ý của đầy đủ 4 chị em, ông Thuyên và bà Tám
hay khơng?
- Gia đình bà họp nội ngoại thống nhất giao cho ông Trương Khắc Chinh là trưởng họ
coi giúp thửa đất tranh chấp vào thời điểm nào?
3. Hỏi nguyên đơn – Chu Văn Sinh

- Nguồn gốc thửa đất có diện tích 777m 2, số 40, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại Thôn 6, xã
Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam mà ông khởi kiện là từ đâu mà có?
- Thửa đất này trước giờ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa? Ai là
người đứng tên trên hồ sơ địa chính thửa đất?
- Có phải ơng đã chuyển quyền thừa kế cho ơng Thuyên vào năm 1994? Việc ông
chuyển quyền như vậy đã được sự đồng ý của các chị em ông?
- Vào thời điểm ơng làm đơn chuyển quyền thừa kế đó, bao gồm những tài sản gì?
4. Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan – Chu Thị Loan

4


-

Trước ngày ông Sinh chuyển quyền thừa kế cho ông Thuyên, chị em bà có bao giờ
bàn về việc chia di sản thừa kế của cha mẹ bà?
Vào thời điểm nào bà biết việc ông Sinh chuyển quyền thừa kế cho ơng Chu Khắc
Thun?
Chị em bà có họp gia đình thống nhất giao cho ông Thuyên quản lý, thu hoa màu có
lập biên bản khơng?
Gia đình bà họp nội ngoại thống nhất giao cho ông Trương Khắc Chinh là trưởng họ
coi giúp thửa đất tranh chấp vào thời điểm nào?

5. Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan – Chu Thị Mai
- Bà có quan hệ thế nào với bà Đinh Thị Tám, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Thanh?
- Khoảng cuối năm 2011, bà và mẹ bà là bà Đinh Thị Tám đã xây một căn nhà cấp 4
trên thửa đất tranh chấp và chuyển về đó sống từ đó cho đến nay?
- Tài sản trên đất mà ơng Sinh, bà Thanh đang kiện địi mẹ đẻ bà là của ai?
- Phần nghĩa vụ tài chính và thuế đối với thửa đất này từ trước đến nay ai nộp?
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG

-

-

-

-

Bộ luật Dân sự năm 2005 (gọi tắt là BLDS 2005);
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (gọi tắt là BLTTDS 2015);
Luật Đất đai 2013;
Luật đất đai 1987;
Luật đất đai 1993;
Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 Hường dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa
kế.
Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi
hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS” đã
được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS;
Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi
hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ
thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLTTDS;
Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản
1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi
kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.
Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự số: 52-LCT/HĐNN8 (gọi tắt là “Pháp lệnh 1991”).

III LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUN ĐƠN
Kính thưa HĐXX
Tơi là Nguyễn Tuấn Khải từ cơng ty luật ABC thuộc đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh,

được sự yêu cầu của nguyên đơn và sự chấp thuận của Tồ án, hơn nay tơi có mặt để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ tôi là bà Chu Thị Thanh và ông Chu Khắc Sinh
trong vụ kiện “Tranh quyền sử dụng đất” được đưa ra xét xử tại phiên tịa ngày hơm nay.

5


Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua các chứng cứ, và qua phần xét hỏi công khai tại phiên tịa
ngày hơm nay, tơi xin được trình bày ý kiến bảo vệ cho nguyên đơn là bà Chu Thị Thanh và
ông Chu Văn Sinh như sau:
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và tại diễn biến tại phiên tịa hơm
nay, tơi xin đưa ra các quan điểm để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn của
tôi là bà Chu Thị Thanh và ông Chu Khắc Sinh. Tôi xin khẳng định các yêu cầu của nguyên
đơn chúng tôi đưa ra là hồn tồn có căn cứ.
I. Về nội dung vụ án:
Thứ nhất, tài sản đất đang tranh chấp là tài sản thừa kế chung hợp pháp của bà Chu Thị
Thanh, Chu Thị The, Chu Thị Loan và ông Chu Khắc Sinh. Ông Chu Khắc Trường và bà
Chu Thị Cúc đều đã mất. Năm 1990 bà Cúc mất, để lại di sản là mảnh đất thuộc thửa đất số
40, tờ bản đồ số 02 diện tích 777m2 tọa lạc tại thơn 6, xã Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam. Khi bà
Cúc mất không để lại di chúc, nên di sản để lại thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật, quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 24 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990. Theo đó, người được
hưởng di sản trong trường hợp này là người thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990, Mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
19/10/1990 thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, bà Thanh, bà The, bà Loan và ông Sinh thuộc hàng
thừa kế thứ nhất.
Tại khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 quy định: “Những người thừa kế cùng
hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.” Như vậy đã có đủ căn cứ để khẳng định bốn
người con của ông Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc hoàn tồn có quyền được hưởng
các phần di sản bằng nhau trong khối di sản mà bà Cúc để lại là mảnh đất thuộc thửa đất số

40, tờ bản đồ số 02 diện tích 777 m2 tọa lạc tại thơn 6, xã Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam.
Thứ hai, việc chuyển quyền thừa kế giữa ông Chu Khắc Sinh và ông Chu Khắc Thun
khơng có giá trị pháp lý. Theo như đã phân tích, bà Thanh, bà The, bà Loan và ông Sinh
được hưởng các phần di sản bằng nhau khi chia đều di sản mà mẹ mình để lại. Tuy nhiên,
ngày 20/01/1994 Ông Sinh đã tự ý làm đơn chuyển quyền thừa kế toàn bộ mảnh đất và tài
sản trên đất cho ơng Chu Khắc Thun mà khơng có sự đồng ý của các chị của mình, là
những người đồng thừa kế.Cũng theo lời khai của bà Tám trong Biên bản lấy lời khai ngày
21/11/20112, bà Tám thừa nhận việc chuyển quyền thừa kế trên bà Thanh, bà The, bà Loan
không hề biết. Ngày 10/4/1994 UBND xã Phù Vân đã có văn bản thơng báo về việc tạm
đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế của ông Sinh cho ông Thuyên. Như vậy đã có thể khẳng
định việc chuyển quyền thừa kế giữa ông Sinh và ông Thuyên là không thể thực hiện được
và đã bị đình chỉ, việc này hồn tồn khơng có giá trị pháp lý.
Thứ ba, về hành vi chiếm hữu và xây dựng nhà trái phép trên mảnh đất thuộc quyền sở
hữu của các nguyên đơn. Theo nội dung Giấy giao quyền trông nom được ký ngày
15/4/1994 ơng Thun có trách nhiệm phải gìn giữ nhà cửa, tài sản, giữa nguyên mặt bằng
đất, không được đào khoét, không được làm nhà. Đồng thời ông Thuyên không được chặt

6


phá cây cối lâu năm, tổng thu nhập cây lâu năm hằng năm phải có sự chứng kiến của hai
bên nội ngoại, ơng Thun
được hưởng 50%, phần cịn lại là của chị em bà Thanh. Do đó, căn cứ theo thỏa thuận và
quy định tại Điều 638 BLDS năm 2005 thì ơng Thun là người quản lý phần di sản trên.
Ơng Thun có các quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản theo quy định tại Điều 639
BLDS năm 2005 và Điều 640 BLDS năm 2005. Theo đó, người quản lý di sản không được
bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nếu khơng
được những người đồng thừa kế đồng ý bằng văn bản. Thời hạn ông Thuyên được giao
quyền quản lý di sản trên là 05 năm, từ 15/4/1994 đến 15/4/1999. Do đó,sau khi ơng Thun
mất năm 1999 thì bà Tám có nghĩa vụ phải giao lại tồn bộ di sản cho các chị em nhà bà

Thanh. Nhưng đến tháng 6/2012, bà Tám đã xây dựng nhà trên mảnh đất di sản trên mặc dù
có sự ngăn cản của UBND xã Phù Vân.
Như vậy, việc bà Tám tự ý xây dựng các cơng trình trên đất là vi phạm quy định của pháp
luật vì bản thân bà Tám khơng có quyền sử dụng đối với thửa đất trên. Mặt khác, việc bà
Tám khẳng định mảnh đất trên thuộc quyền sở hữu của ông Thuyên và bà là không có căn
cứ. Theo quy định tại điểm b, mục 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQHĐTP TANDTC, trường hợp
người chết để lại di sản cho các thừa kế, nhưng các thừa kế không trực tiếp sử dụng quản lý,
mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu, quản lý theo ủy quyền thì các thừa kế có
quyền kiện địi tài sản.
Như vậy tơi hồn tồn có thể kết luận việc chiếm hữu và xây dựng của bà Tám là trái luật
nên thân chủ của tơi hồn tồn có quyền địi lại tài sản theo quy định tại Điều 256 BLDS
năm 2005 về Quyền đòi lại tài sản:“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu
cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ
pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải
trả lại tài sản đó”.
Kính thưa Hội đồng xét xử, từ những chứng cứ trong quá trình tham gia bảo vệ cho thân chủ
của mình, tơi khẳng định các u cầu của thân chủ tơ là hồn tồn hợp pháp và có căn cứ. Vì
vậy, tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của thân chủ
tôi:
1. Yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 02 diện tích 777m2 tọa lạc
tại thơn 6, xã Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam cho bà Thanh, ông Sinh, bà Then và bà Loan.
2. Buộc bà Đinh Thị Tám trả lại hoa màu trên đất với 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên
kể từ ngày 15/4/1994 đến ngày 15/9/1999 theo giấy giao quyền trông nom lập ngày
15/4/1994 gửi UBND xã Phù Vân, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
3. Yêu cầu bà Đinh Thị Tám tháo dỡ các cơng trình xây dựng trái phép trên thửa đất đất số
40, tờ bản đồ số 02 diện tích 777m 2 tọa lạc tại thơn 6, xã Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam.

7



Trên đây là toàn bộ luận điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ tơi – bà
Chu Thị Thanh và ông Chu Khắc Sinh. Tôi xin cảm ơn Hội đồng xét xử, những người tham
gia tố tụng và tham gia phiên tòa đã chú ý lắng nghe ý kiến của tôi
IV. NHẬN XÉT VỀ BUỔI DIỄN ÁN
1. Thư ký phiên tòa:
- Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, tuân theo quy định về pháp luật tố tụng dân
sự.
- Giọng nói to, rõ.
- Tác phong, trang phục phù hợp.
- Phần trình bày cịn vấp.
2. Thẩm phán phiên tịa:
- Thẩm phán được phân cơng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình: tuân theo đúng
trình tự tham gia tại phiên tịa; có nghiên cứu và nắm rõ nội dung hồ sơ vụ án.
- Giọng nói rõ, nhưng chưa dứt khốc.
- Tác phong, trang phục phù hợp.
- Có sự dẫn dắt, điều khiển phiên tịa theo đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
- Phần hỏi các đương sự có sự chuẩn bị, nội dung câu hỏi phù với để làm rõ vấn đề (về
nguồn gốc đất)
3. Hội thẩm nhân dân 1:
- Hội thẩm thực hiện tốt vai trò, đặt câu hỏi phù hợp cho các đương sự.
- Trang phục phù hợp
- Giọng nói cịn nhỏ, ngập ngừng,
4. Hội thẩm nhân dân 2:
- Hội thẩm thực hiện tốt vai trò, đặt câu hỏi phù hợp cho các đương sự (trong việc hỏi
bị đơn, nguyên đơn, về nguồn gốc đất tranh chấp)
- Tác phong, trang phục phù hợp
- Giọng nói to, rõ
5. Đại diện Viện kiểm sát:
- Tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa.
- Đặt câu hỏi cho đương sự phù hợp

- Có chuẩn bị phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát đầy đủ nội dung vụ án, thể
hiện những ưu điểm và hạn chế trong quá trình tố tụng của Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm.
- Giọng nói to, rõ, nhưng cịn ngập ngừng
- Tác phong, trang phục phù hợp với phiên tòa.
6. Luật sư nguyên đơn:

8


- Có sự chuẩn bị tốt khi trình bày u cầu của nguyên đơn, các luận cứ chặt chẽ, thuyết
phục trong bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
- Đặt câu hỏi đúng trọng tâm, có sự chuẩn bị giữa câu hỏi của luật sư và câu trả lời của
nguyên đơn.
- Sử dụng điều luật phù hợp với quy định hiện hành.
- Tuân thủ trình tự hỏi và đáp tại phiên tịa, tn theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên
tòa.
- Phần luận cứ để bảo vệ cho nguyên đơn: có sự chuẩn bị về quy định pháp luật và các
tài liệu, chứng cứ cần thiết đảm bảo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ;
- Trang phục lịch sự, phù hợp với phiên tịa.
- Phần trình bày u cầu khởi kiện của nguyên đơn còn dài dòng.
- Phần hỏi các đương sự cịn phụ thuộc vào kịch bản.
- Giọng trình bày có phần thiếu tự tin, cần nói to hơn, dứt khốt hơn,
7. Luật sư bị đơn:
- Có sự chuẩn bị tốt khi trình bày yêu cầu của bị đơn
- Bản luận cứ chặt chẽ, thuyết phục
- Sử dụng điều luật phù hợp với quy định hiện hành.
- Tuân thủ trình tự hỏi và đáp tại phiên tịa, tn theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa.
- Đặt câu hỏi đúng trọng tâm, có sự chuẩn bị giữa câu hỏi của luật sư và câu trả lời của bị
đơn.
- Luật sư có hỏi bị đơn xoay quanh về hồn cảnh khó khăn, về trách nhiệm thờ cúng khi bị

đơn quản lý mảnh đất.
- Tuy nhiên ở phần phản biện ý kiên của luật sư nguyên đơn, chưa nêu rõ căn cứ pháp
lý.
8. Nguyên đơn:
− Thực hiện tốt vai diễn nguyên đơn, tuân theo sự điều khiển của phiên tòa, có nghiên cứu
và nắm rõ nội dung hồ sơ.
− Phần trả lời có sự tự tin, thể hiện được tinh thần khởi kiện và nguyện vọng của nguyên
đơn.
− Giọng nói rõ, trang phục lịch sự
9. Bị đơn:
- Bị đơn sự chuẩn bị tốt về tinh thần, câu trả lời đúng trọng tâm, rõ ràng.
- Có phần phản biện ý kiến luật sư nguyên đơn rõ ràng.
- Trang phục lịch sự.

9



×