MỤC LỤC
Lý do chọn chủ đề
- Tình hình dịch HIV trên thế giới .........................................................2
- Tình hình dịch HIV tại Việt Nam.......................................................3
- Việc áp dụng CTXH vào trợ giúp người bị ảnh hưởng bởi HIV . 3
I..Cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu..............................................................5
1.Khái niệm và các thuật ngữ liên quan tới chủ đề nghiên cứu về HIV/AIDS
.............................................................................................................................5
2.Lý luận về các nguyên tắc hoạt động, phương pháp, tiến trình, kỹ năng
CTXH trong việc hỗ trợ giải quyết vấn đề của người nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS............................................................................................................8
II.Thực trạng về chủ đề nghiên cứu…………………………………………10
1.Giới thiệu địa bàn Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La………………………….
….10
2.Thực trạng vấn đề HIV/AIDS tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La……………..10
3.Thực trạng hoạt động truyền thông chống lây nhiễm HIV tại huyện Mai Sơn,
tỉnh Sơn La………………………………………………………………….….11
4.Đánh giá hoạt động truyền thơng phịng chống lây nhiễm HIV trên địa bàn
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La…………………………………………………...14
5.Đánh giá dưới góc độ Công tác xã hội…………………………………..…..15
II.. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu của can thiệp của CTXH…….15
Kết luận……………………………………………………………………..…16
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
CÔNG TÁC XÃ HỘI
UBND
UỶ BAN NHÂN DÂN
BHYT
BẢO HIỂM Y YẾ
1
Lý do chọn chủ đề
Dịch HIV/AIDS đã trở thành mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới từ
nhiều năm nay, trong đó có Việt Nam. Đại dich này ảnh hưởng rất lớn đến sự
phát triển kinh tế, xã hội, đến cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng bất
chấp các nỗ lực của quốc gia và quốc tế trong phòng chống sự lây lan
HIV/AIDS.Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực can thiệp trong hỗ trợ dự phịng,
chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS: chương trình giáo dục, truyền
thơng thay đổi hành vi phịng lây nhiễm HIV/AIDS; Chương trình chăm sóc, hỗ
trợ người nhiễm HIV/AIDS, chương trình dự phịng lây nhiễm HIV/AIDS từ mẹ
sang con; chương trình an tồn truyền máu…Tuy nhiên tỷ lệ người nhiễm HIV
vẫn ở mức rất đáng lưu tâm.Chăm sóc, trợ giúp người nhiễm HIV/AIDS sẽ
được coi là toàn diện nếu như họ được chăm sóc hỗ trợ cả về mặt y tế, sức khỏe
và xã hội. Công tác xã hội với người có HIV là một trong những hoạt động thiết
thực và đặc biệt quan trọng.Hoạt động này không chỉ trợ giúp cho người có
HIV/AIDS vươn lên đấu tranh với bệnh tật mà cịn giúp phát hiện sớm HIV và
góp phần quan trọng trong ngăn ngừa sự lây nhiễm HIV.Bên cạnh đó, cơng tác
xã hội với người có HIV giúp nhân viên xã hội kết nối các nguồn lực trợ giúp
cho thân chủ.Huy động sự tham gia của người dân vào cơng tác phịng chống
HIV.Giúp cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về HIV, người có HIV, cơng tác
phịng tránh HIV và cách chăm sóc người có HIV.
- Tình hình dịch HIV trên thế giới
Năm 2021 đánh dấu 40 năm kể từ khi 5 trường hợp đầu tiên trên thế giới
được báo cáo chính thức bị mắc bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải mà sau này
được gọi là AIDS. Theo báo cáo của UNAIDS, tính đến năm 2020, số người
nhiễm HIV trên thế giới hiện đang sống chung với HIV là khoảng 37,7 triệu
người, trong đó có khoảng 1,8 triệu là trẻ em dưới 15 tuổi. Trong năm 2020, cả
thế giới phát hiện mới 1,5 triệu người nhiễm HIV, trong đó có khoảng 150.000
trẻ em nhiễm HIV. Trong năm có khoảng 680.000 người nhiễm HIV tử vong.
Kể từ đầu vụ dịch đến nay cũng đã có tới khoảng 38 triệu người chết do HIV.
Mặc dù gánh nặng của dịch HIV tiếp tục thay đổi đáng kể giữa các quốc gia và
khu vực. Khu vực châu Phi vẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, cứ 25 người
trưởng thành thì có gần 1 người (3,6%) sống chung với HIV và chiếm hơn 2/3
số người nhiễm HIV trên tồn thế giới.
Nhóm quần thể chính nhiễm HIV năm 2020 là người bán dâm và khách
hàng của họ, những người nam quan hệ tình dục đồng giới, người tiêm chích ma
túy, người chuyển giới và bạn tình của họ chiếm 65% số ca nhiễm HIV trên toàn
cầu. Cũng theo UNAIDS, nguy cơ nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma tuý
cao hơn 35 lần; đối với phụ nữ chuyển giới cao hơn 34 lần; cao gấp 26 lần đối
2
với người bán dâm và cao hơn 25 lần ở nhóm đồng tính nam và nam quan hệ
tình dục đồng giới khác khi so sánh với quần thể người dân nói chung.
- Tình hình dịch HIV tại Việt Nam
Theo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, số người nhiễm HIV hiện đang còn
sống được báo cáo đến thời điểm 30/9/2021 là 212.769 trường hợp. Số người
nhiễm HIV tử vong lũy tích tính từ đầu vụ dịch đến nay là 108.849 trường hợp.
Trong năm 2021, các tỉnh tiếp tục rà soát các trường hợp nhiễm HIV chưa tham
gia điều trị để tư vấn điều trị, trong q trình rà sốt phát hiện nhiều trường hợp
tử vong chưa được báo cáo và cũng trong quá trình rà sốt có một số trùng lặp
và đã được loại bỏ.
Cũng theo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, trong 10 tháng đầu năm 2021 tới
nay cả nước ghi nhận 10.925 trường hợp phát hiện mới HIV dương tính. Trong
số người mới phát hiện nhiễm HIV có 84,8% là nam giới, độ tuổi chủ yếu là từ
16 - 29 (46%) và 30 - 39 (29%), đường lây chủ yếu là quan hệ tình dục khơng
an tồn (79,1%) và qua đường máu (9,9%). Cũng từ đầu năm 2021 tới nay ghi
nhận 1.528 trường hợp tử vong. Ước tính đến hết năm 2021, cả nước phát hiện
khoảng 13.000 trường hợp HIV dương tính và 2000 trường hợp tử vong. Như
vậy so với năm 2020 số người nhiễm HIV được phát hiện có xu hướng gia tăng
mặc dù dịch covid 19 đã ảnh hưởng đến việc tiếp cận xét nghiệm HIV của các
quần thể có nguy cơ lây nhiễm HIV cao.
-
Việc áp dụng CTXH vào trợ giúp người bị ảnh hưởng bởi HIV có 4 Vai trị
ý nghĩa căn bản như sau:
+ Giúp người có HIV/AIDS
Giúp người có HIV thích ứng với những vấn đề cảm xúc đau đớn
Giúp người có HIV đạt tới mức độ thích hợp nào đó về tình cảm và hành vi.
Giúp người có HIV có cảm nghĩ tích cực, tốt về bản thân, yêu cuộc sống.
Giúp người có HIV chấp nhận các giới hạn và sức mạnh của mình, cảm thấy
yên tâm về những điều đó.
Giúp người có HIV thay đổi những hành vi có tác động tiêu cực.
Giúp người có HIV có hoạt động thoải mái, thích ứng với ngoại cảnh.
Tạo cơ hội tối đa cho người có HIV theo đuổi và thực hiện ước mơ.
+ Thỏa mãn nhu cầu của người có HIV
Xuất phát từ nhu cầu của người có HIV, dựa theo tháp nhu cầu của Malow
3
- Đối với cộng đồng: Thay đổi tích cực nhận thức, thái độ, hành vi, đối với người
có HIV, gia đình người có HIV, xây dựng cộng đồng an tồn, trách nhiệm và
thân thiện.
+ Đối với người trợ giúp – hoạt động của cơng tác xã hội:
Khẳng định vai trị, ý nghĩa, giá trị khoa học và chuyên môn nghề công tác
xã hội trong trợ giúp với thân chủ đặc biệt, người có HIV và gia đình họ, người
liên quan đến người có HIV
Góp phần hạn chế sự lây nhiễm của đại dich HIV và những ảnh hưởng tiêu
cực gây ra bởi những thất bại hay hạn chế của những phương pháp, hoạt động
giải quyết vấn đề khác.
-
Ý nghĩa của việc đưa CTXH vào trợ giúp cho người bị ảnh hưởng bởi HIV.
Thúc đẩy tiến độ điều trị HIV, trong suốt q trình điều trị sẽ giúp người
nhiễm HIV có thể sống hịa bình với tình trạng mãn tính của HIV, nâng cao nghị
lực trong quá trình bệnh tiến triển, ngay cả khi chuẩn bị ra đi họ cũng biết cách
ứng phó, xử lý các vấn đề một cách thoải mái, thanh thản.
Bên cạnh đó HIV thường đi cùng với thành kiến, kỳ thị đối với người nhiễm
HIV. Họ có cảm giác tội tỗi và sợ sự cô lập, kỳ thị của người xung quanh hơn là
bệnh tật thể chất gây bởi HIV. Hỗ trợ tâm lý xã hội giúp bệnh nhân đối phó với
những vấn đề này hiệu quả hơn và tích cực tham gia vào q trình bàn bạc, tìm
kiếm nguồn lực và ra quyết định trong quá trình điều trị HIV.
HIV cũng có thể ảnh hưởng đến các mối quan hệ của cá nhân. Sự thu hẹp
quan hệ xã hội trước đây họ từng có và chỉ quanh quẩn trong nếp nhà, sự kỳ thị
của cộng đồng, gia đình khiến họ khơng chỉ thu hẹp quan hệ xã hội ở góc độ số
lượng mà cả chất lượng của các mối quan hệ đó. Thay vì những quan hệ thân
mật, tương tác tích cực thì giờ đây họ chỉ còn sống trong bối cảnh sự lỏng lẻo
thờ ơ của gia đình, sự xa lánh lạnh nhạt của người thân quen hay đồng nghiệp.
Những cảm xúc sợ hãi, bối rối, và phủ nhận, ở những người thân yêu, gần gũi
với người có HIV cũng căng thẳng thêm các mối quan hệ giữa người có HIV
với người thân, người xung quanh.
Khi mắc HIV cá nhân còn phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề xã hội khác
khiến cho tâm lý họ càng trở nên căng thẳng và khó khăn làm chủ được cuộc
sống của bản thân cũng như gia đình mình. Đó là các vấn đề như: mất việc,
giảm thu nhập, và tốn kém cho chi phí chăm sóc sức khỏe, do khơng có nguồn
thu nhập vấn đề nhà cửa cũng gặp khó khăn, chế độ dinh dưỡng kém và còn
nhiều vấn đề hệ lụy khác.
I.
Cơ sở lý luận về chủ đề nghiên cứu
4
1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan tới chủ đề nghiên cứu về
HIV/AIDS
1.1 Khái niệm HIV/AIDS
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency
Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả
năng chống lại các tác nhân gây bệnh.
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency
Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường
được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến
tử vong
1.2 Cơ chế hoạt động.
Cơ chế HIV xâm nhập và gây bệnh trong cơ thể người
Hệ miễn dịch của con người, với thành phần chủ lực là bạch cầu, là lực
lượng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các loại tác nhân gây bệnh xâm
nhập từ bên ngoài hoặc mầm bệnh ung thư phát sinh từ một số tế bào trong cơ
thể.
Trong bạch cầu, có một loại đặc biệt gọi là lympho bào T có điểm thụ
cảm CD4 (gọi tắt là tế bào CD4), đóng vai trị như một “Tổng chỉ huy”, có
nhiệm vụ điều phối, huy động hay “rút lui” toàn bộ hệ thống miễn dịch của cơ
thể.
Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tấn công ngay vào các bạch cầu, nhất là
lympho bào T-CD4. HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của các tế bào bạch
cầu này để nhân lên, để sinh sôi nảy nở. Như vậy, bạch cầu không những
không bao vây, tiêu diệt được HIV, mà còn bị HIV biến thành “kẻ tòng phạm”
và cuối cùng bị HIV phá huỷ.
HIV phá huỷ bạch cầu ngày càng nhiều, dẫn đến hệ miễn dịch của cơ thể
bị suy giảm dần, cuối cùng là bị “vơ hiệu hóa” và điều đó có nghĩa là cơ thể
con người khơng cịn được bảo vệ nữa. Lúc đó, mọi mầm bệnh khác như vi
trùng, siêu vi trùng nhân cơ hội gây bệnh (nhiễm trùng cơ hội) và cả tế bào ung
thư “mặc sức hoành hành” gây nên nhiều bệnh nguy hiểm... và dẫn đến tử
vong.
Ngoài ra, sau khi xâm nhập cơ thể, HIV cịn có thể trực tiếp phá hoại tế
bào thần kinh đệm khiến người bệnh lú lẫn, mất trí... hoặc xâm nhập vào các
cơ quan thần kinh, dạ dày, ruột, da... gây nên một số bệnh cho các cơ quan này,
làm cho bệnh cảnh của AIDS vì thế mà trở nên hết sức đa dạng và phức tạp,
khó chẩn đốn.
1.3.Các giai đoạn phát triển.
Nhiễm HIV không phải chuyển ngay sang giai đoạn AIDS mà nó diễn ra
trong một khoảng thời gian nhất định, có thể lên đến hàng chục năm và trong
5
khoảng thời gian này, người nhiễm HIV hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn sống, lao
động và học tập bình thường, nhưng họ lại có thể làm lây truyền bệnh từ người
này sang người khác vì HIV đang tồn tại và “sinh sơi nảy nở” trong cơ thể
họ.Q trình từ nhiễm HIV thành AIDS dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, như sức đề kháng của người nhiễm, lối sống và sinh hoạt của họ sau khi
nhiễm bệnh, sự chăm sóc của gia đình, người thân, mức độ kỳ thị phân biệt đối
xử của xã hội...Theo các nhà nghiên cứu thì q trình phát triển từ nhiễm HIV
thành AIDS có thể trải qua một số giai đoạn và sự phân chia giai đoạn này có
thể khác nhau trong các tài liệu khác nhau, nhưng nhìn chung có thể chia làm 03
giai đoạn chính.
1.3.1.Giai đoạn cấp tính.
Thời gian: Vài tuần có khi 6 tháng đến 1 năm
1.3.2.Giai đoạn không triệu chứng.
Thời gian: kéo dài trong vài năm đến trên 10 năm.
1.3.3.Giai đoạn AIDS.
Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIV diễn
biến tự nhiên trong cơ thể. Giai đoạn này khơng lây qua chăm sóc nếu sử dụng
đúng các dụng cụ bảo hộ.
1.4.Phương thức lây truyền HIV.
Thực chất của sự lây truyền HIV từ người này sang người khác là do vi
rút trong máu và chất dịch cơ thể của người nhiễm HIV tiếp xúc trực tiếp với
da hoặc niêm mạc bị tổn thương ( đường vào) của người chưa bị nhiễm từ đó
vi rút tới hạch Lympho rồi sinh sản và lan tràn vào máu trở thành nhiễm trùng
tồn thể.Như vậy HIV chỉ có thể lây truyền từ người nhiễm sang người không
bị nhiễm khi thỏa mãn hai điều kiện:
Một là, máu và chất dịch cơ thể có chứa HIV của người nhiễm phải tiếp
xúc trực tiếp và bám vào da, niêm mạc của người khơng bị nhiễm
Hai là, tại chỗ tiếp xúc, bám dính phải có tổn thương thì HIV mới có thể
xâm nhập vào cơ thể người đó.
1.4.1. Lây truyền HIV qua đường máu.
HIV có nhiều trong máu tồn phần cũng như trong các thành phần của
máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đơng máu. Do đó HIV có
thể lây truyền qua máu và các chế phẩm của máu có nhiễm HIV.
Về nguyên tắc, có thể nói mọi trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu của người
mà ta khơng biết chắc chắn là họ có nhiễm HIV hay khơng đều có nguy cơ lây
nhiễm HIV, ví dụ:
Lây truyền HIV từ người này sang người khác qua các dụng cụ xuyên
chích qua da, như: Dùng chung bơm kim tiêm, kim xăm trổ, kim châm cứu,
các dụng cụ xăm mi, xăm mày, lưỡi dao cạo râu...; khi chưa được tiệt trùng
đúng cách.
6
Lây truyền qua các vật dụng có thể dính máu của người khác trong các
trường hợp như dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mùi xoa...
Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của
người nhiễm HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da xây sát hoặc niêm
mạc...
1.4.2. Lây truyền HIV qua đường tình dục .
Đường tình dục là một trong 3 con đường chính lây truyền HIV và được
coi là phương thức lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới.
Khoảng 70-80% tổng số người nhiễm HIV trên thế giới là bị lây nhiễm qua
con đường này.
1.4.3.Lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Người mẹ nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con
Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai
nhi. Nguy cơ lây truyền từ 5 – 10%.
Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ
khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá
trình đẻ). Nguy cơ lây truyền trong thời kỳ này nếu khơng có can thiệp điều trị
dự phòng là từ 10 – 25%.
Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú
người mẹ trong quá trình trẻ bú mẹ, nếu trẻ mắc các bệnh như viêm loét,
nấm… làm tổn thương niêm mạc miệng, sẽ tạo ra điều kiện để HIV từ sữa mẹ,
hoặc xây xát núm vú, bệnh lý tại vú của người mẹ lây truyền sang cho trẻ. Tỷ
lệ lây truyền trong thời kỳ này là 5 – 10%.
1.5.Cách thức phịng tránh
Phịng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường tình dục
Sống lành mạnh, chung thuỷ một vợ một chồng và cả hai người đều chưa
bị nhiễm HIV. Không quan hệ tình dục bừa bãi. Khơng để dịch sinh dục như
tinh dịch, dịch âm đạo của bạn tình tiếp xúc trực tiếp với da, niêm mạc của
mình trong khi quan hệ tình dục. Với những người trẻ, khơng quan hệ tình dục
trước hơn nhân cũng là cách phịng lây nhiễm HIV qua đường tình dục có hiệu
quả.
Phịng nhiễm HIV/AIDS lây qua đường máu:
Khơng tiêm chích ma túy. Chỉ truyền máu và các chế phẩm máu khi thật
cần thiết, và chỉ nhận máu và các chế phẩm máu đã xét nghiệm HIV. Không
dùng chung bơm kim tiêm. Sử dụng dụng cụ đã tiệt trùng khi phẫu thuật, xăm,
xỏ lỗ, châm cứu...
Tránh tiếp xúc trực tiếp với các dịch cơ thể của người nhiễm HIV. Dùng
riêng đồ dùng cá nhân: dao cạo, bàn chải răng, bấm móng tay,...
Phịng nhiễm HIV/AIDS lây truyền từ mẹ sang con:
Phụ nữ nhiễm HIV không nên mang thai, vì tỷ lệ lây truyền HIV sang con
là 30%. Nếu có thai thì uống thuốc dự phịng theo hướng dẫn của bác sĩ.
7
Nếu phụ nữ nhiễm HIV đã có thai thì nên: đến cơ sở y tế để khám thai và
được tư vấn cách xử lý.
2.Lý luận về các nguyên tắc hoạt động, phương pháp, tiến trình, kỹ
năng CTXH trong việc hỗ trợ giải quyết vấn đề của người nhiễm và bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS
2.1. Khái niệm Công tác xã hội với người có HIV/AIDS.
Cơng tác xã hội với người có HIV/AIDS là sự vận dụng các lý thuyết về
HIV/AIDS nhằm khôi phục chức năng xã hội, giải quyết các vấn đề liên quan
đến người có HIV/AIDS; can thiệp, trợ giúp cá nhân, nhóm, cộng đồng người
có HIV/AIDS thỏa mãn các nhu cầu; đồng thời ngăn sự lây lan của HIV.Là khoa
học công tác xã hội nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS, người
có HIV/AIDS và những vấn đề của họ.
2.2.Những hoạt động dịch vụ trợ giúp
Dịch vụ tư vấn và tham vấn:
-
Tham vấn trực tiếp
-
Tham vấn gián tiếp
-
Dịch vụ xét nghiệm HIV/AIDS tự nguyên và miễn phí
Dịch vụ khám chữa bệnh:
-
Phòng khám ngoại trú điều trị cho người có HIV/AIDS.
-
Phịng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
-
Điều trị lao cho bệnh nhân AIDS
-
Điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.
Loại hình sinh hoạt câu lạc bộ: Câu lạc bộ đồng đẳng, câu lạc bộ bạn giúp bạn...
Hoạt động truyền thông: Thay đổi thái độ hành vi của người có HIV, gia đình và
cộng đồng dân cư trong xã hội.
Dịch vụ hỗ trợ: Hỗ trợ về việc làm, vay vốn, trợ cấp đặc biệt...
2.3.Chăm sóc người có HIV/AIDS tại nhà.
Các nguyên tắc Chăm sóc người có HIV/AIDS tại nhà:
Tính tự nguyện: Tất cả người nhiễm HIV có quyền nhận dịch vụ chăm
sóc tại nhà khi có nhu cầu. Các nhóm chăm sóc tại nhà cần tơn trọng quyền
quyết định nhận dịch vụ chăm sóc tại nhà hay không nhận dịch vụ của những
người nhiễm HIV và gia đình họ.
8
Tính bảo mật: Cung cấp dịch vụ chăm sóc tại nhà cần tn theo Luật
phịng, chống HIV/AIDS. Thơng tin về tình trạng nhiễm HIV của người bệnh
cần được giữ bí mật. Các nhân viên chăm sóc tại nhà phải ký vào bản cam kết
giữ bảo mật thông tin cho người nhiễm HIV và cung cấp dịch vụ có chất lượng
khi tham gia vào nhóm chăm sóc tại nhà. Tồn bộ hồ sơ của người nhiễm HIV
cần được cất trong tủ có khóa, chỉ những nhân viên có liên quan mới được tiếp
cận hồ sơ.
Nâng cao năng lực của người nhiễm HIV và gia đình họ: Các thành viên
nhóm chăm sóc tại nhà cần hướng dẫn cách tự chăm sóc và xử trí các vấn đề
liên quan đến HIV/AIDS cho người nhiễm HIV và gia đình họ. Thành viên của
nhóm chăm sóc tại nhà cần có sự tham gia của người nhiễm HIV.
Lấy gia đình làm trung tâm: Các thành viên trong gia đình là người chăm
sóc và hỗ trợ tốt nhất cho người nhiễm HIV nên các nhóm chăm sóc tại nhà cần
đánh giá đầy đủ nhu cầu của họ và cung cấp các hỗ trợ phù hợp. Đặc biệt chú ý
đối tượng được chăm sóc là trẻ em.
Chăm sóc có chất lượng: Các thành viên nhóm chăm sóc tại nhà có nhiệm
vụ cung cấp các dịch vụ chăm sóc tại nhà với chất lượng tốt nhất trong khả năng
nguồn lực của mình. Đồng thời khơng được cung cấp những dịch vụ khơng có
trong nhiệm vụ của mình ( như tiêm, truyền dịch cho người nhiễm tại nhà…)
2.4.Tham vấn cho người có HIV.
2.4.1.Khái niệm tham vấn cho người có HIV
Tham vấn người nhiễm HIV/AIDS là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong
đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề
nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với người nhiễm HIV hoặc
gia đình họ nhằm giúp cá nhân và gia đình người nhiễm HIV thay đổi cảm xúc,
suy nghĩ, hành vi và sống tích cực, giảm nguy cơ lây nhiễm cho bản thân và
những người xung quanh.
2.4.2.Nguyên tắc tham vấn người có HIV/AIDS.
Giữ bí mật thơng tin:
Mọi thơng tin của thân chủ/người có HIV cần được giữ kín, khơng được
tiết lộ trừ phi được người nhiễm HIV đồng ý.
Về khía cạnh pháp lý: Những tiết lộ thơng tin của thân chủ mà không
được sự đồng ý của họ sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Về khía cạnh tâm lý: Nếu tiết lộ thông tin của thân chủ mà không có sự
chấp thuận của họ hay họ chưa sẵn sàng cho người thân được biết, việc đó sẽ
làm cho họ không tin tưởng và không hợp tác tiếp tục trong quá trình trợ giúp.
9
Về khía cạnh xã hội: Sẽ làm tăng sự kỳ thị xa lánh của cộng đồng, xã hội
đối với họ và người thân của họ.
Lắng nghe tích cực:
Đây là một nguyên tắc trước tiên của hoạt động tham vấn đối với người
nhiễm HIV, ngay cả với thân chủ có HIV. Dù họ là ai, là thân chủ hay người bị
HIV do sử dụng ma túy, hay lây nhiễm qua con đường mại dâm, họ vẫn cần
được lắng nghe, đươc tôn trọng và chú ý.
Kiên nhẫn:
Hãy bình tĩnh, kiên trì với sự im lặng, thậm chí sự chống đối, khơng
muốn hợp tác ban đầu của cá nhân, gia đình trong quá trình tham vấn cho người
nhiễm HIV. Khơng hối thúc, sốt ruột nếu họ chưa sẵn sàng chia sẻ, hãy chờ đợi
cho tới khi họ sẵn sàng hợp tác.
Tôn trọng những cảm xúc, suy nghĩ của thân chủ:
Họ có thể phê phán, đổ lỗi, quy gán và có những nhận định khơng hợp lý.
Hãy xem đó là những điều bình thường bởi họ đang bức xúc, họ đang khủng
hoảng với tình trạng của họ.
Không áp đặt, không phán xét hay lên án họ:
Trong số những người nhiễm HIV ở Việt Nam có nhiều người nghiện ma
túy hoặc tham gia vào mại dâm. Nhiễm HIV lại là hệ quả của những hoạt động
đó. Vì vậy sự định kiến thường làm ảnh hưởng tới hành vi ứng xử đối với họ.
Không quyết thay (dành quyền tự quyết cho thân chủ):
Hãy để họ tự quyết định trên cơ sở trao đổi, tìm hiểu thơng tin chính xác
và hợp lý được cung cấp từ nhà tham vấn và những nguồn thông tin khác. Nhà
tham vấn chỉ giúp họ đưa ra được những quyết định đúng đắn. Việc xét nghiệm
hay khơng xét nghiệm đó là họ quyết định, việc nói ra với người thân là đã có
HIV dương tính hay chưa nói ra, nói với ai... đều phụ thuộc vào sự tự quyết của
họ
I. Thực trạng về chủ đề nghiên cứu
1. Giới thiệu địa bàn Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Phía Bắc giáp huyện Mường La, thành phố Sơn La. Ranh giới chủ yếu là
đồi núi, khe suối
Phía Đơng giáp huyện n Châu, ranh giới chủ yếu là đồi núi, khe suối;
giáp huyện Bắc Yên với ranh giới là dịng Sơng Đà (chảy qua hai xã Chiềng
Chăn và Tà Hộc).
10
Phía Tây giáp huyện Sơng Mã, huyện Thuận Châu. Ranh giới chủ yếu là
đồi núi, khe suối.
Phía Nam giáp huyện Sông Mã, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào). Ranh
giới chủ yếu là đồi núi, khe suối, với chiều dài dường biên giới 6,4 km.
Huyện lỵ đóng tại thị trấn Hát Lót. Từ TP Sơn La đến huyện lỵ đi theo
đường Quốc lộ 6, dài khoảng 30 km. Từ Hà Nội đến huyện lỵ có hai tuyến
đường: Tuyến Quốc lộ 6 (đường 41 ngày xưa) dài khoảng 270 km, hướng về Hà
Nội qua các huyện Yên Châu, Mộc Châu...; tuyến đường 113A (tức đường 13)
đi qua huyện Bắc yên, Phù Yên sang tỉnh Yên Bái về Hà Nội dài khoảng 370
km.
Tổng diện tích tự nhiên là 143.247,0 ha
2.
Thực trạng vấn đề HIV/AIDS tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Số ca nhiễm HIV tại địa phương luỹ tích đến năm 2020 theo báo cáo của
trung tâm y tế huyện là 919 người.
Phân tích theo nhóm tuổi người nhiễm HIV được phát hiện vẫn chủ yếu ở
nhóm tuổi từ 19 đến 48 tuổi.
-
Đối tượng nhiễm HIV đa số lây qua đường tiêm chích ma túy.
-
Số người nhiễm HIV đã được điều trị ARV là 717 người
-
Phân tích theo khu vực:
Xã có tỷ lệ người nhiễm cao nhất là Hát Lót, với 17 người nhiễm
Xã Chiềng Chăn có 9 người nhiễm, đứng thứ 2 tồn huyện.
Thấp nhất là xã Chiềng Mung có 3 người nhiễm.
3.
Thực trạng hoạt động truyền thông chống lây nhiễm HIV tại huyện Mai
Sơn, tỉnh Sơn La.
Trong giai đoạn 2016-2019, địa phương đã tổ chức 1 buổi tập huấn kiến
thức tuân thủ điều trị ARV, sống tích cực cho bệnh nhân AIDS. 3 buổi truyền
thơng về lợi ích của thẻ BHYT với người nhiễm HIV và sự cần thiết của việc
tham gia BHYT cho 100 người; tổ chức 2 buổi tập huấn kiến thức dự phòng lây
nhiễm HIV từ mẹ sang con cho 20 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Đảm bảo công tác vô khuẩn trong các dịch vụ y tế để phòng lây chéo.
Các hoạt động tư vấn xét nghiệm tự nguyện, hoạt động dự phòng lây truyền mẹ
con được đẩy mạnh, bắt đầu từ tháng 1/2018 đã triển khai hoạt động tư vấn xét
nghiệm HIV tại địa phương
UBND huyện Mai Sơn đã triển khai Số: 84/KH-UBND, ngày 29 tháng 03
năm 2021 về cơng tác phịng chống HIV/AIDS thực hiện mục tiêu 90-90-90 vào
11
năm 2022 trên địa bàn. Cụ thể là 90% số người nhiễm HIV trên thực tế được xét
nghiệm phát hiện nhiễm HIV và biết tình trạng nhiễm HIV của mình. 90% số
người đã biết tình trạng nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc kháng vi rút ARV.
90% số người đang được điều trị bằng ARV có tải lượng vi rút HIV dưới
ngưỡng ức chế. Để thực hiện được mục tiêu đó, UBND huyện Mai Sơn đã đề ra
các biện pháp chủ yếu và chỉ tiêu để thực hiện, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể
cho các đơn vị, các phòng ban ngành đồn thể liên quan, các Trạm xá đóng trên
địa bàn huyện nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ đã được phân công.
Để nâng cao hiệu quả trong công tác truyền thông, cán bộ huyện Mai Sơn
tham gia các lớp tập huấn, hội nghị chuyên đề để cung cấp cho đội ngũ cán bộ
làm công tác truyền thông ở các ban, ngành, đoàn thể, địa phương những kiến
thức về HIV, cách chăm sóc, điều trị, các hoạt động can thiệp giảm tác hại do
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Thông tin, Truyền thông và ngành Y tế tổ chức;
đồng thời, giới thiệu các dịch vụ y tế trong chăm sóc, dự phịng lây nhiễm và
điều trị cho người nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS. Thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng như Báo chí, Loa phát thanh địa phương, Bản tin giáo dục
sức khỏe,... nhiều tác phẩm báo chí về lĩnh vực này đã đến được với cộng đồng,
nhất là những người đang sống chung với HIV, trong đó có nội dung phịng
chống lây nhiễm với người nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS.
Các hoạt động truyền thông được Trung tâm Y tế huyện tích cực triển
khai tại cộng đồng với phương châm “Hướng về cơ sở” qua việc triển khai thực
hiện phong trào “Tồn dân tham gia phịng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân
cư” lồng ghép với phong trào “Toàn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hố ở
khu dân cư”.
Cơng tác truyền thơng được đa dạng hố các loại hình để chuyển tải
thơng tin, kiến thức phịng, chống HIV/AIDS đến cộng đồng như: Tổ chức
tháng chiến dịch truyền thơng hưởng ứng ngày Thế giới phịng, chống
HIV/AIDS với quy mô lớn. Các ngành chức năng phối hợp với các trường học
tổ chức truyền thơng phịng, chống HIV/AIDS thơng qua các hình thức hội thảo,
tập huấn, các buổi học ngoại khố…
Bên cạnh đó tăng số lượng tài liệu truyền thơng (pano, tờ gấp, áp phích,
sổ tay truyền thơng, tranh lịch…) tại các trường học, cơ quan
Năm 2018, Trung tâm Y tế huyện phối hợp với các ngành chức năng tổ
chức 18 lượt truyền thơng về HIV bằng các hình thức cho 215 người. Bên cạnh
đó, cơng tác giám sát dịch HIV/AIDS và can thiệp giảm tác hại dự phòng lây
nhiễm HIV được tăng cường.
Hàng năm các ngành chức năng đều tổ chức điều tra, đánh giá thực trạng
tình hình nhiễm HIV/AIDS, số lượng đối tượng nguy cơ cao; rà soát số liệu
12
định kỳ, giám sát bệnh nhân chuyển giai đoạn AIDS và tử vong do HIV/AIDS
tại tuyến xã; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giám sát, quản lý,
thống kê báo cáo số liệu HIV/AIDS; nâng cao chất lượng xét nghiệm sàng lọc,
đào tạo nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức mới về xét nghiệm HIV cho cán
bộ làm công tác xét nghiệm. Hệ thống cán bộ chuyên trách về giám sát
HIV/AIDS được củng cố nâng cao năng lực hoạt động nghiêm túc chế độ rà
soát, báo cáo thống kê số liệu theo quy định. Cũng trong chương trình can thiệp
giảm tác hại lây nhiễm HIV, các ngành chức năng tích cực thực hiện chương
trình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone.
Để triển khai công tác điều trị ARV cho bệnh nhân HIV, được sự hỗ trợ
của dự án Quỹ toàn cầu, từ năm 2006, Trung tâm Y tế huyện triển khai phòng
khám ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS. Hiện phòng khám ngoại trú của
Trung tâm đang điều trị ARV cho 38 người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn
huyện.
Hàng tháng Trung tâm khám và cấp thuốc nhiễm trùng cơ hội cho trung
bình gần 30 lượt bệnh nhân. Trước đây kinh phí điều trị cho bệnh nhân ARV do
dự án Quỹ toàn cầu chi trả; từ năm 2019, kinh phí điều trị cho số bệnh nhân này
do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán (nếu bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế). Cùng với
cơng tác điều trị, Trung tâm tăng cường hoạt động tư vấn xét nghiệm để người
nhiễm HIV/AIDS, người có nguy cơ cao được tiếp cận các dịch vụ y tế và dịch
vụ xã hội khác; triển khai cơng tác chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại
cộng đồng thông qua đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, cộng tác viên; phát huy trách
nhiệm người nhiễm HIV trong chăm sóc HIV/AIDS tại cộng đồng; phối hợp tốt
giữa chương trình phịng, chống HIV/AIDS và chương trình Lao trong cơng tác
dự phịng, điều trị, chăm sóc.
Năm 2018, trung tâm y tế huyện tư vấn và xét nghiệm cho 127 trường
hợp, trong đó phát hiện 3 trường hợp dương tính (+) với HIV. Các trường hợp
này đã được tư vấn và chuyển gửi đến phòng khám để được khám và điều trị.
Với nhiều giải pháp đồng bộ, cơng tác phịng chống HIV/AIDS ở huyện
Mai Sơn đã đạt hiệu quả tích cực, chất lượng điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS
ngày càng được nâng cao. Công tác dự phòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng
đã đến được các đối tượng nhiễm HIV; hàng nghìn người có hành vi nguy cơ
cao được tiếp cận truyền thơng tư vấn.
Đồn thanh niên cùng các tình nguyện viên tham gia chiến dịch phòng
chống HIV đã phát bơm kim tiêm và bao cao su cho hàng tram đối tượng nghiện
chích ma túy trên địa bàn; tuyên truyền cho nhân dân và các đối tượng nguy cơ
cao hiểu và biết cách phòng lây nhiễm HIV, góp phần giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV
trên địa bàn.
13
4.
Đánh giá hoạt động truyền thơng phịng chống lây nhiễm HIV trên địa
bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
a.
Kết quả đạt được
Qua hoạt động truyền thông, đã phát hiện thêm 3 trường hợp nhiễm HIV, thông
qua tư vấn và khám xét nghiệm. Cho thấy nhận thức của người dân đã có những
chuyển biến tích cực.
Số lượng bệnh nhân HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế có xu hướng tăng trong
hai năm gần đây.
Với những nỗ lực triển khai phòng, chống HIV/AIDS trong những năm qua,
huyện Mai Sơn đã giảm hơn 3/4 số người nhiễm mới và số người tử vong do
HIV/AIDS so với mức 5 năm trước đây, giữ vững mục tiêu khống chế tỷ lệ
người nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư ở mức dưới 0,3%.
Công tác truyền thông đã góp phần khơng nhỏ vào q trình thay đổi nhận thức
của người dân về người nhiễm HIV, giảm thiểu tình trạng kỳ thị, phân biệt đối
xử với người có HIV/AIDS, bởi người dân được cung cấp những kiến thức
chính xác về con đường lây truyền và các kiến thức liên quan thơng qua truyền
thơng phịng chống lây nhiễm.
b.
Những hạn chế cịn tồn tại
Cơng tác tun truyền, giáo dục về tệ nạn ma tuý, HIV tới quần chúng nhân dân
của các cấp ngành cịn thiên về hình thức chạy theo chiến dịch và các đợt phát
động phong trào, chưa chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ này do đó hiệu quả
chưa cao.
Trong giai đoạn tới, viện trợ quốc tế cho cơng tác phịng, chống HIV/AIDS bị
cắt giảm, nguồn lực trong nước cịn hạn chế, khiến các hoạt động truyền thơng
phịng, chống HIV/AIDS gặp nhiều khó khăn. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ
hội thể hiện sự năng động, sáng tạo của các địa phương đối với cơng tác phịng,
chống HIV/AIDS nói chung và truyền thơng phịng, chống HIV/ AIDS nói
riêng.
Sự phối hợp giữa các ngành các cấp tại một số địa phương chưa chặt chẽ và
đồng bộ dẫn đến chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cộng đồng trong
cơng tác phịng chống HIV, sự lồng ghép các chương trình phịng, chống tệ nạn
ma t, mại dâm, HIV chưa được thường xuyên nên sự thiếu hiểu biết của mọi
người về phòng chống lấy nhiễm HIV vẫn còn.
Chưa thu hút được sự đầu tư từ các doanh nghiệp địa phương cho các hoạt động
truyền thơng phịng chống lây nhiễm HIV
5.
Đánh giá dưới góc độ Cơng tác xã hội
14
Địa phương chưa có sự can thiệp của hoạt động CTXH chun nghiệp nên đây
là một thiệt thịi khơng nhỏ với địa phương. Cụ thể là trong công tác truyền
thông phòng chống lây nhiễm. NVCTXH sẽ làm việc trực tiếp với người nhiễm
HIV và có những hoạt động hỗ trợ sau:
- Nhân viên Công tác xã hội can thiệp, hỗ trợ người bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS
bằng phương pháp công tác xã hội cá nhân theo tiến trình cụ thể nhằm giúp họ
phát huy được tiềm năng của bản thân trong việc giải quyết vấn đề của mình.
- Nhân viên Cơng tác xã hội sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm để can
thiệp, hỗ trợ nhóm bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, thơng qua việc sinh hoạt nhóm,
giúp mọi người đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
- Nhân viên Công tác xã hội sử dụng kỹ năng biện hộ để giúp người bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS thực hiện quyền được đến trường của mình.
- Tranh thủ sự ủng hộ của các cấp chính quyền địa phương, tuyên truyền phòng
chống lây nhiễm HIV tại các cơ quan, doanh nghiệp, trường học,…
II.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu của can thiệp của CTXH
- Về tổ chức: Đề nghị Lãnh đạo Sở Y tế, Lãnh đạo Trung Lãnh đạo Trung
tâm Kiểm sốt bệnh tật; Trung tâm Phịng, chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố
quan tâm chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm theo hướng dẫn của Ban
quản lý dự án trung ương; ưu tiên bố trí các cán bộ chun mơn làm việc trong
lĩnh vực phịng, chống HIV/AIDS để tiếp tục làm việc trong lĩnh vực phòng,
chống HIV/AIDS; Kinh phí cho lĩnh vực phịng, chống HIV/AIDS cần được chi
tiêu đúng các nội dung của chương trình.
- Về các hoạt động chuyên môn: Cần đẩy mạnh các hoạt động xét nghiệm
dựa vào cộng đồng, xét nghiệm theo dấu bạn tình, bạn chích chung; Tiếp tục
đẩy mạnh truyền thơng và thu hút bệnh nhân vào chương trình điều trị nghiện
các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone và các các giải pháp giảm bỏ trị;
Với các tỉnh triển khai chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
bằng Buprenorphine cần có giải pháp tăng nhanh bệnh nhân điều trị; Đẩy mạnh,
khơi thông các kênh cấp phát vật dụng can thiệp giảm tác hại cũng như tập
trung chuyển đổi bảo hiểm y tế cho người điều trị HIV/AIDS; Tăng cường xét
nghiệm tải lượng vi rút cho người điều trị ARV và sử dụng kinh phí bảo hiểm y
tế để thay thế cho nguồn kinh phí dự án.
- Về xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật: Hiện nay, Cục Phòng, chống
HIV/AIDS đang tiến hành việc chuẩn bị sửa đổi Luật phịng, chống HIV/AIDS
để Chính phủ trình Quốc hội vào năm 2020 cũng như xây dựng Chiến lược Kết
thúc dịch AIDS vào năm 2030; Xây dựng Kế hoạch 5 năm phòng, chống
15
HIV/AIDS tại Việt Nam bao gồm tiếp tục vận động sự hỗ trợ của Quỹ Toàn cầu
về AIDS, Lao và Sốt rét cũng như Trung tâm Kiểm soát bệnh dịch Hoa Kỳ tiếp
tục hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho chương trình phịng, chống HIV/AIDS giai
đoạn tới. Do vậy các địa phương cần phối hợp với Cục Phòng, chống
HIV/AIDS thực hiện những nhiệm vụ này.
- Tăng cường đầu tư, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư; chỉ
đạo việc tham gia phối hợp liên ngành; phối hợp hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc, các ban, ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, đồn thể tạo sự đồng thuận
cao trong nhận thức và hành động đối với cơng tác phịng, chống HIV/AIDS,
ma túy, mại dâm. Kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết các chỉ thị của
Trung ương và của Tỉnh ủy về cơng tác phịng, chống HIV/AIDS, nhằm rút kinh
nghiệm và kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả.
- Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm cơng tác phịng, chống
HIV/AIDS tuyến tỉnh, huyện, đặc biệt là các khóa đào tạo về kỹ năng lập kế
hoạch, thu thập, phân tích và sử dụng số liệu, theo dõi, đánh giá tình hình dịch.
- Tập huấn về kỹ năng thực hiện phần mềm báo cáo thuốc ARV, phần mềm
quản lý bệnh nhân Methadone và các báo cáo phòng, chống HIV/AIDS khác.
- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động dự phịng, can thiệp giảm tác hại bao gồm
thơng tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vị, các hoạt động chống kỳ thị
phân biệt đối xử tại cộng đồng, gia đình và các cơ sở y tế. Duy trì, mở rộng và
nâng cao chất lượng điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay
thế Methadone và Buprenorphine; mở rộng điều trị trước phơi nhiễm HIV
(PrEP); mở rộng cấp phát bơm kim tiêm, bao cao su cho các đối tượng nguy cơ
cao.
- Mở rộng xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV tại cộng đồng, tự xét nghiệm
HIV, tập trung xét nghiệm HIV ở các khu vực trọng điểm và các nhóm nguy cơ
cao, xét nghiệm bạn tình, bạn chích... Tư vấn, kết nối điều trị ARV cho >90%
người mới phát hiện nhiễm HIV.
- Cần có sự can thiệp của hoạt động CTXH chuyên nghiệp tại địa phương để
nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông cũng như trợ giúp cho các đối tượng
nhiễm HIV/AIDS.
Kết luận
Hiện nay tại Việt nam nói chung và huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng,
số người nhiễm HIV cũng như tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS diễn ra rất phức
tạp, đây là mối quan tâm chung và là một bài tốn khó của mỗi quốc gia, khơng
riêng quốc gia nào. Quan tâm chăm sóc người có HIV/AIDS vừa mang ý nghĩa
kinh tế, chính trị, vừa thể hiện tính nhân văn sâu sắc của người Việt Nam, giúp
16
cho họ có được cuộc sống ổn định, có cơng việc để làm lại cuộc đời. Làm cho
xã hội có cái nhìn khác về họ. Từ đó đóng góp sức lực của mình vào việc xây
dựng đất nước, giúp xã hội ổn định hơn.
Để thực hiện, quan tâm tốt đến người nhiễm HIV/AIDS thì Đảng, nhà nước,
các cấp chính quyền, đảng ủy cần có những chính sách hợp lý, kịp thời… và
thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện cơng tác phịng chống lây nhiễm
HIV tại cộng đồng để người có HIV có thể có cuộc sống tốt hơn, hạn chế được
các tệ nạn xã hội, làm cho đất nước ngày càng ổn định.
17