Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Tieu luan quoc phong

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (108.5 KB, 22 trang )

Tiểu luận Quốc phòng - An ninh

A- MỞ ĐẦU
________

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển, sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta có nhiều khó khăn, thử thách trước những biến đổi phức tạp của tình hình
trong nước và quốc tế. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần phải có đường lối,
chiến lược đúng đắn để chỉ đạo mọi lĩnh vực hoạt động của tồn xã hội, trong đó
chiến lược bảo vệ Tổ quốc giữ vị trí trung tâm, hàng đầu. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này, Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khố IX đã thơng qua Nghị quyết về chiến lược bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chiến lược cũng đã nêu những nội dung, quan
điểm, nhiệm vụ cơ bản để tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo vệ tổ quốc. Một
trong những nhiệm vụ quan trọng là “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an
ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của
Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Qn đội nhân dân và Cơng an
nhân dân là lực lượng nòng cốt”.
Nội dung đề tài tiểu luận gồm hai phần:
Phần mở đầu:
Phần nội dung:
I. Tính tất yếu khách quan của việc tăng cường quốc phòng, giữ vững an
ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
II. Liên hệ thực tiễn địa phương


-2-

III: Một số giải pháp chủ yếu về tăng cường quốc phịng, giữ vững an ninh
quốc gia và tồn vẹn lãnh thổ trong thời gian tới.



B- NỘI DUNG
I. Tính tất yếu khách quan của việc tăng cường quốc phòng, giữ
vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ
1. Làm rõ một số khái niệm
Nắm vững quan điểm, nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với xây dựng
nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện
mới. Trước hết cần hiểu quốc phòng là gì, những tư duy mới về quốc phịng và
bảo vệ Tổ quốc của Ðảng ta?
Quốc phịng là: cơng cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể các
hoạt động đối nội, đối ngoại cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học
- cơng nghệ... của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo sức mạnh
tồn diện, cân đối, trong đó sức mạnh qn sự là đặc trưng nhằm giữ vững hịa
bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù, sẵn sàng đánh
thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mơ.
Như vậy hiểu quốc phịng, xây dựng nền quốc phịng tồn dân là hoạt
động của cả nước, trên mọi lĩnh vực, lấy lực lượng vũ trang là lực lượng nịng
cốt. Quốc phịng khơng đồng nghĩa với qn sự, với chiến tranh, nó được thực
hiện trong thời bình nhằm mục đích tự vệ, phịng thủ đất nước, nhưng không thụ


-3-

động phải chủ động ngăn chặn, đẩy lùi, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù và
sẵn sàng đánh thắng khi chiến tranh xảy ra. Chiến lược quốc phòng tối ưu là
chiến lược giữ nước mà không phải tiến hành chiến tranh, là chiến lược giải
quyết hợp lý các mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng và các mặt hoạt động
khác của xã hội. Vì vậy, Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã xác định rõ: "Xây
dựng nền quốc phịng tồn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo
vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ

Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị,
an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ
cương, an tồn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy
lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị
động, bất ngờ".
An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, khơng có dấu hiệu nguy hiểm đe
dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh
vực hoạt động của xã hội.
2. Vị trí, vai trị của Qn đội nhân dân, Cơng an nhân dân đối với việc
tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ
Trong nhiệm vụ quan trọng này, Đảng ta đã xác định lực lượng lãnh đạo,
chỉ đạo, quản lý, thực hiện nhiệm vụ tăng cường quốc phịng, giữ vững an ninh
và tồn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của Đảng, Nhà nước
và nhân dân mà lực lượng nòng cốt là Quân đội nhân dân và công an nhân dân.
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng Dân quân tự về là
những bộ phận hợp thành LLVT. Đó là lực lượng cách mạng cơ bản của các
cuộc cách mạng, chiến tranh. Cùng với toàn dân xây dựng thành thế trận quốc
phịng tồn dân, an ninh nhân dân vững chắc trước những âm mưu, thủ đoạn của
kẻ thù.


-4-

Vì vậy, trước tình hình mới, cần phải xây dựng lực lượng qn đội nhân
dân, Cơng an nhân dân tồn diện về mọi mặt, từng bước hiện đại, chính quy, tinh
nhuệ nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việ Nam XHCN.
Đồng thời, tăng cường nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, trang thiết bị, vũ
khí cho các lực lượng tác chiến. Khơng ngừng củng cố, hồn thiện thế trận quốc
phịng tồn dân và thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng các cơ quan nội chính,
pháp luật trong sạch, vững mạnh và chuẩn bị các phương án chủ động tác chiến

khi có tình huống xấu.
3. Tính tất yếu khách quan của việc tăng cường quốc phịng, giữ
vững an ninh quốc gia và tồn vẹn lãnh thổ
3.1. Quan điểm của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin về quốc phòng,
an ninh
C.Mác và Ph.Ăngghen là người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Trên cơ sở nghiên cứu bản chất của chủ nghĩa tư bản, quy luật ra đời, tồn tại và
phát triển của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, C.Mác đã khẳng định: Ngay từ giờ phút
đầu, sau khi giành được thắng lợi, công nhân phải được vũ trang và có tổ chức,
cần phải lập tức trang bị súng trường, các bin, đại bác và đạn dược cho tồn thể
giai cấp cơng nhân để bảo vệ cách mạng. Chừng nào kẻ thù cịn tìm cách bóp
chết cách mạng thì giai cấp cơng nhân khơng thể bỏ vũ khí được. Giai cấp cơng
nhân chỉ từ bỏ vũ khí khi mà giai cấp cơng nhân hồn tồn chiến thắng chủ
nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên tồn thế giới.
C.Mác và Ph.Ăngghen khơng những chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân, mà cịn chỉ ra cho giai cấp cơng nhân con đường đúng đắn nhất để tự
giải phóng mình. Đó chính là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp
công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân, dùng bạo lực cách mạng để
đập tan bộ máy thống trị của giai cấp tư sản, lập nên nhà nước của giai cấp vơ
sản, dùng nhà nước đó làm cơng cụ để bảo vệ quyền thống trị của mình đối với


-5-

toàn xã hội. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, giai cấp vơ sản tất yếu phải tổ
chức ra lực lượng vũ trang, lãnh đạo lực lượng vũ trang đó, cùng với nhân dân
lao động để giành và giữ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng.
Ph.Ăngghen đã tổng kết: “Giai cấp vô sản ở hầu khắp các nước bị đàn áp
bằng bạo lực” và Ông cũng đã khẳng định: “Giai cấp vô sản bị áp bức đứng lên
làm cách mạng, thì những người cộng sản chúng tơi sẽ bảo vệ sự nghiệp của giai

cấp vô sản bằng hành động” – Hành động đó, có nghĩa là bạo lực.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. C. Mác và Ph.Ăngghen
đã cơng khai tun bố rằng, mục đích của họ (giai cấp vơ sản) chỉ có thể đạt
được bằng cách mạng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện có.
V.I. Lênin đã phân tích và nêu lên tính tất yếu phải xây dựng một tổ chức
quân sự của giai cấp vô sản trong điều kiện tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc. V.I Lênin khẳng
định: Thắng lợi và sự tồn tại của một nước xã hội chủ nghĩa bên cạnh nhiều
nước tư bản mạnh, nhất định sẽ bị các thế lực phản động trong nước cấu kết với
giai cấp tư sản nước ngồi hịng đập tan nhà nước vô sản, phục hội chế độ tư
bản. Do vậy, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan của
cách mạng vô sản. V.I Lênin còn chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng một quân đội
thường trực, chính quy của Nhà nước Xơ viết trên cơ sở võ trang tồn dân.
Trong học thuyết về bảo vệ Tổ quốc, về quân đội kiểu mới của giai cấp công
nhân, V.I Lênin đã giải quyết thành cơng nhiều vấn đề, trong đó đã chỉ rõ
ngun tắc cơ bản nhất là Đảng cộng sản lãnh đạo chặt chẽ quân đội và sự
nghiệp quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, đó là tất yếu khách quan, là
nhân tố quyết định mọi thắng lợi đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh.
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I Lênin đã đề xuất và trực tiếp lãnh
đạo công cuộc phòng thủ đất nước, chống bọn can thiệp nước ngồi và nội chiến
trong những năm đầu của chính quyền Xơ Viết. Người nhắc nhở: Phải có thái độ
nghiêm túc đối với quốc phòng, an ninh. V.I Lênin cho rằng “Một cuộc cách


-6-

mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, “giành chính quyền đã khó, giữ chính
quyền cịn khó hơn”, Người còn chỉ ra yêu cầu Đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi
mặt sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đảng có trách nhiệm hướng dẫn và giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân nhằm

bảo vệ an ninh đất nước. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nguồn
gốc sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
3.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về quốc phịng, an
ninh:
Trên cơ sở quán triệt các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, ngay từ
khi mới ra đời tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương
“Tổ chức ra quân đội công nông”, trong Luận cương chính trị của Đảng tháng
10 năm 1930 cũng xác định phải “vũ trang cho công nông”, “tổ chức đội tự vệ
công nông”, để hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh, chống lại sự khủng bố của kẻ
thù và khi giành được chính quyền thì bảo vệ độc lập của đất nước... Tại Đại hội
Đảng lần thứ nhất (tháng 3/1935) đã ra nghị quyết riêng về tổ chức và lãnh đạo
tự vệ thường trực, trong đó chỉ rõ: Cơng nơng tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy
thống nhất của Trung ương quân ủy Đảng cộng sản ... phải luôn luôn giữ quyền
chỉ huy nghiêm ngặt của Đảng trong tự vệ thường trực. Mặc dù lúc đó các chủ
trương, đường lối về quốc phòng, an ninh, quân sự bước đầu mới được hình
thành, nội dung chưa đầy đủ, nhưng quan điểm, tư tưởng về quốc phòng, an
ninh, quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhất quán. Trong bản Tuyên ngơn
khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hịa, đọc tại quảng trường Ba Đình – Hà
Nội vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“...Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy...”. Những tư tưởng, quan điểm
đó ngày càng được hồn chỉnh và phát triển lên trình độ cao trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân, đế quốc và trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.


-7-

Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu lên những quan điểm
cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay

cụ thể là: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh
toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ; bảo vệ Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ
an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội;
duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước,
ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch,
không để bị động, bất ngờ. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường
sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất
nước, xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an
ninh nhân dân; đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; tiếp
tục phát triển các khu tinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng - kinh
tế. Xây dựng Quân đội nhân dân và Cơng an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là lực lượng nòng cốt của sức mạnh quốc phòng an ninh; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật
sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ
quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn được nhân dân tin cậy, yêu mến.
Theo quan điểm của Ðảng, mục tiêu của việc tăng cường quốc phịng, giữ
vững an ninh quốc gia và tồn vẹn lãnh thổ hiện nay không chỉ làm nhằm bảo vệ
độc lập chủ quyền, tồn vẹn lãnh thổ... mà cịn phải gắn chặt với bảo vệ vững
chắc chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Ðảng, Nhà nước và nhân dân; khơng chỉ có
đối ngoại mà cịn cả đối nội; quốc phịng ln gắn bó chặt chẽ với an ninh và đối
ngoại. Quốc phịng khơng chỉ nhằm đối phó với chiến tranh, mà điều quan trọng
là nó phải ngăn chặn và đẩy lùi chiến tranh, không để đất nước xảy ra chiến tranh,
xử lý có hiệu quả mọi tình huống liên quan đến quốc phòng, an ninh của quốc gia,
bảo đảm mơi trường ổn định, hịa bình cho sự phát triển của đất nước.


-8-

3.3. Thực tiễn đòi hỏi phải phải tăng cường quốc phịng, giữ vững an
ninh quốc gia và tồn vẹn lãnh thổ

Như vậy, kể cả trên phương diện về lý luận và thực tiễn đều chứng minh
rằng: Quốc phòng, an ninh là một trong hai nhiệm vụ chiến lược có vị trí cực kỳ
quan trọng của mỗi quốc gia, đó là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên thực tế sau
khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội
hiện thực và phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Với bản chất
chống chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới, chủ nghĩa đế quốc đã
tăng cường hoạt động chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách
mạng thế giới, nhằm thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ cầm đầu. Để phục
vụ cho những tính tốn chiến lược của mình, Mỹ điều chỉnh chiến lược từ “răn
đe ngăn chặn”, “vượt trên ngăn chặn” sang can dự và mở rộng; gần đâu là “đánh
phủ đầu”, phát động cuộc chạy đua vũ trang, triển khai chương trình tên lửa
phịng thủ quốc gia. Về kinh tế, chúng ra sức thúc đẩy “kinh tế thị trường tự do”
theo “luật chơi” của Mỹ; núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” can thiệp
vào công việc nội bộ các nước, kích động chủ nghĩa ly khai, xung đột tôn giáo,
dân tộc. Đặc biệt là sau sự kiện ngày 11/9/2001, Mỹ đã lợi dụng cuộc đấu tranh
“chống khủng bố” để xác lập quyền thống trị thế giới một cách hung hăng, ngạo
mạng hơn, ngang nhiên chà đạp chủ quyền các quốc gia, luật pháp và thể chế
quốc tế. Tiếp sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, chiến tranh bán đão
Bancăn vào cuối những năm 90, Mỹ đã tiến hành chiến tranh ở Afghanistan năm
2001, chiến tranh xâm lược Iraq...
Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong những năm qua là
khu vực phát triển năng động do tập trung những điều kiện phát triển năng động,
nhất là phát huy nhân tố con người, văn hóa và hợp tác quốc tế. Nhưng sự phát
triển đó cũng làm nảy sinh những mâu thuẫn và sự biến động. Những thế lực lớn
trên thế giới đều có lợi ích ở vùng này, tìm mọi cách để phát huy ảnh hưởng của
mình. Mâu thuẫn giữa các nước lớn và cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng của họ


-9-


trong khu vực là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn gây mất ổn định trong
khu vực. Điều đó đặt ra cho chúng ta – một nước vừa thoát ra khỏi tình trạng
kém phát triển, có mức thu nhập trung bình trong khu vực, cần phải có chiến
lược về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phịng, an ninh, đối ngoại đúng đắn,
năng động, khôn khéo để giữ vững độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập
quốc tế, thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp đổi mới và công cuộc cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Trên tinh thần đó, Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X
của Đảng đã nhân đinh: “Trên thế giới, hịa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu
thế lớn. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hội và phát triển nhưng vẫn
tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường. Tồn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát
triển, nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách
thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Cạnh tranh kinh tế thương mại, giành dật những nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn
vốn, công nghệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Khoa học công nghệ sẽ có
bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn. Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung
đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp,
lật đổ, li khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển
đảo và các tài nguyên thiên nhiên vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất
ngày càng phức tạp. Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt... Ở khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đơng Nam Á nói riêng, xu thế hịa
bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố
gây mất ổn định như: tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực, về biên giới, lãnh
thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước; những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã
hội ở một số nước”.
II. Liên hệ thực tiễn địa phương
1. Vị trí địa lý của tỉnh Trà Vinh
Nằm ở khu vực duyên hải Tây Nam bộ, tỉnh Trà Vinh có vị trí chiến lược,
có bờ biển dài 65 km, nằm giữa hai con sông Tiền và sông Hậu - "cửa ngõ" ra


-10-


biển Đơng, thuận lợi cho trung chuyển hàng hóa nội địa và ra thế giới của khu
vực miền Tây Nam bộ và các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông, khu vực
Đông Á. Với vị thế chiến lược và đầy tiềm năng, triển vọng đó, Trà Vinh là một
địa bàn chiến lược trọng yếu về quốc phòng - an ninh.
Bên cạnh đó, Trà Vinh là vùng đất văn hóa đặc sắc và truyền thống cách
mạng vẻ vang, với dân số hơn 1 triệu người, trong đó có khoảng 35% đồng bào
thuộc các dân tộc thiểu số (Khmer, Hoa), số lượng dân số theo các tơn giáo
chiếm khoảng 60%.
b. Tình hình quốc phòng, an ninh trên địa bàn Trà Vinh
Những năm gần đây, tình hình trong nước có nhiều diễn biến phức tạp,
các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá chính phủ trên nhiều lĩnh
vực thơng qua âm mưu "Diễn biến hịa bình", bạo loạn lật đổ với nhều thủ đoạn
ngày càng tinh vi, xảo quyệt.
Trà Vinh là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch, bọn phản động
trong và ngồi nước ln tập trung chống phá, nhằm gây mất ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội. Nhiều vụ việc liên quan đến khiếu nại tố cáo của nhân dân
chưa được giải quyết, tình hình dân tộc - tơn giáo phức tạp (các hoạt động truyền
đạo Tin lành trái pháp luật, dùng lợi ích vật chất dưới hình thức cứu trợ nhân
đạo, từ thiện để vận động, lơi kéo, phát triển tín đồ, nhất là tín đồ người dân tộc
Khmer; các tổ chức Khmer phản động bên ngoài đẩy mạnh hoạt động xâm nhập,
câu móc, xây dựng lực lượng tại chỗ để kích động gây rối chính trị, tun truyền
chống đối nhà nước...).
Trước tình hình đó, Đảng bộ Trà Vinh đã tăng cường cơng tác lãnh đạo,
chỉ đạo, quan tâm phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh. Tỉnh
đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt thường xuyên hai nhiệm vụ chiến lược,
kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng - an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng an ninh. Chú trọng nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động nắm chắc tình hình,
đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hịa bình", bạo loạn



-11-

lật đổ. Trong đó, đã quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ
Chính trị khóa VIII về "Chiến lược an ninh quốc gia", Nghị quyết Trung ương 8
khóa IX về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", tạo được sức
mạnh tổng hợp trong xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân và phong trào quần
chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tỉnh thường xuyên quan tâm tập trung đầu tư cơ
sở vật chất, phương tiện chiến đấu, các cơng trình phịng thủ; tăng cường tiềm
lực quốc phòng - an ninh, nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến
đấu cho lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân, thế trận an
ninh nhân dân, thế trận phòng thủ, đơn vị an tồn làm chủ; giữ vững an ninh,
chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và bảo vệ chủ quyền biên giới của
Tổ quốc. Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, cơng an viên được củng
cố, chất lượng chính trị nâng lên, bảo đảm lực lượng nòng cốt trong xử lý các
tình huống. Mối quan hệ giữa các lực lượng vũ trang với cơ sở chặt chẽ; thực
hiện tốt phương châm "5 tại chỗ" (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư tại
chỗ, hậu cần tại chỗ và tự quản tại chỗ) trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ,
cứu nạn. Cơng tác phịng, chống, đấu tranh các loại tội phạm (tội phạm quốc tế,
ma túy, buôn lậu, tham nhũng...) và tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông thường
xuyên được duy trì có hiệu quả. Đặc biệt, tỉnh đã chủ động, kịp thời làm thất bại
mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hịa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù
địch; đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các đối tượng
phản động trong và ngồi nước lợi dụng vấn đề tơn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân
quyền, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo mơi trường thuận lợi cho phát
triển kinh tế - xã hội.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong cơng tác tăng cường quốc phịng an ninh,
tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phụcnhư: Cơng tác xây dựng
Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cơng tác cán bộ chưa theo kịp tình hình và
u cầu của hội nhập và phát triển; Quốc phòng, an ninh cịn tiềm ẩn những yếu
tố mất ổn định; Cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành có lúc, có nơi

cịn hạn chế, chưa sâu sát tháo gỡ khó khăn cho cơ sở...


-12-

c. Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc
phòng - an ninh tỉnh Trà Vinh trong tình hình mới
Trà Vinh là có đơng đồng bào dân tộc Khmer, là địa bàn trọng điểm về
dân tộc, tôn giáo. Là tỉnh nghèo của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Đảng
bộ tỉnh xác định trong những năm tới phải đưa tỉnh nhà phát triển nhanh và bền
vững, thốt khỏi tình trạng kém phát triển trong khu vực đồng bằng sông Cửu
Long, huy động mọi nguồn lực tập trung phát triển kinh tế; có quốc phịng, an
ninh được tăng cường, chính trị - xã hội ổn đinh, vững chắc; có hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng được nâng cao rõ rệt; có đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân không ngừng được cải thiện.
Để thực hiện phương hướng trên. Đảng bộ tỉnh Trà Vinh cần tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Gắn phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, tạo
thế ổn định vững chắc về chính trị để phát triển kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
tình hình mới.
- Tăng cường cơng tác quốc phịng, an ninh, đặc biệt là an ninh tơn giáo, an
ninh chính trị. Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an tồn xã hội trong mọi tình
huống; thực hiện có hiệu quả cơng tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội
- Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị: chú trọng
cơng tác đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ, đảng viên, tiếp tục đổi mới, tạo bước
đột phá về công tác cán bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn
dân. Tiếp tục chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, thực
hiện tốt cuộc vận động "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

- Lãnh đạo tồn dân, tồn qn phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu,
chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, công tác xây


-13-

dựng hệ thống chính trị mà Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng bộ tỉnh đề
ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.
- Tăng cường chỉ đạo các cấp, các sở, ban, ngành thực hiện tốt việc kết
hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh ngay trong
quy hoạch, kế hoạch phát triển tổng thể của tỉnh, và đối với từng ngành, từng địa
phương.
- Tăng cường cơng tác cải cách hành chính nhằm tạo mơi trường thuận lợi
cho thu hút đầu tư toàn xã hội, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập
xã hội. Đồng thời, tổ chức tốt việc thẩm định các chương trình, dự án kinh tế,
trọng điểm, mở rộng đối tác, ngăn ngừa đối tượng để vừa đáp ứng được yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, vừa đáp ứng yêu cầu tăng cường tiềm lực và giữ vững
quốc phòng, quân sự và an ninh của khu vực phòng thủ.
- Cơ quan quân sự các cấp cần chủ động phối hợp với cấp ủy, chính
quyền, các ban, ngành thường xuyên kiểm tra, nắm chắc tình hình, kịp thời điều
chỉnh, bổ sung các kế hoạch, phương án phòng thủ, chiến đấu, động viên quốc
phòng... bảo đảm sát với những thay đổi thực tế trên địa bàn, yêu cầu nhiệm vụ
và quy hoạch phát triển tổng thể của các địa phương trong tỉnh.
- Phát huy vai trị tích cực của các khu vực kinh tế - quốc phòng trong
phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn. Tăng
cường quản lý, khai thác tốt những khu vực cửa sơng, cửa biển, ven biển có giá
trị qn sự để tạo dựng thế trận phịng thủ liên hồn, có chiều sâu, nhiều tầng,
nhiều tuyến, có khả năng bảo vệ tại chỗ và khả năng cơ động, chuyển hóa thế
trận linh hoạt để phịng thủ và tấn cơng địch.

- Tập trung kiện toàn và vận hành tốt cơ chế quản lý nhà nước đối với
cơng tác quốc phịng, qn sự, an ninh. Trong đó, chú trọng nâng cao năng lực
lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở; vai trò
tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan quân sự, các lực lượng vũ


-14-

trang, vai trị tích cực của các tổ chức quần chúng. Các cấp ủy, chính quyền cần
quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về cơng tác quốc
phịng, qn sự, an ninh, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX về Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ
Chính trị khóa X và các chỉ thị, nghị quyết của Quân khu 9, của Tỉnh ủy... Trên
cơ sở đó, đề ra các chủ trương, biện pháp sát hợp, lãnh đạo, chỉ đạo địa phương,
đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh được giao; gắn việc
xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh tồn diện với xây dựng xã, phường, thị trấn,
ấp khóm an toàn, làm chủ, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược,
vùng sâu, vùng xã, ven biển...
- Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt, trước
hết là về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm nịng cốt trong củng cố nền quốc
phịng tồn dân, nền an ninh nhân dân trên địa bàn. Đối với lực lượng thường
trực, tiếp tục hoàn chỉnh biên chế tổ chức, trang bị chiến đấu, tăng cường xây
dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; kết hợp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn
diện với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh các phong
trào thi đua quyết thắng gắn với việc thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", hướng mạnh việc làm theo trong từng
cán bộ, chiến sĩ, từng việc làm cụ thể.
- Đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng, củng cố Hội đồng giáo dục
quốc phòng của tỉnh, đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng cơng
tác giáo dục quốc phịng - an ninh, nhất là bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an

ninh cho các đối tượng. Bên cạnh đó, cần tổ chức tốt việc phối hợp hoạt động
giữa quân đội và cơng an, biên phịng theo Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ; tăng cường chỉ đạo thực hiện cơng tác xây dựng khu vực
phòng thủ tỉnh, huyện, thành phố theo hướng "cơ bản, liên hoàn, vững chắc"; tập
trung nâng cao chất lượng, hiệu quả huấn luyện, diễn tập theo các kế hoạch,
phương án tác chiến phòng thủ trong khu vực phòng thủ đã phê duyệt, đáp ứng


-15-

yêu cầu "thiết thực, hiệu quả, an toàn, tiết kiệm". Đồng thời, coi trọng và kết hợp
chặt chẽ việc xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân với thế trận an ninh nhân
dân, lấy thế trận lịng dân làm chính.
III. Một số giải pháp chủ yếu để tăng cường quốc phịng, giữ vững
an ninh quốc gia và tồn vẹn lãnh thổ trong thời gian tới
1. Xây dựng cơ chế Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, điều hành đối
với hoạt động qc phịng, an ninh
Tăng cường quốc phịng, giữ vững an ninh quốc gia, tồn vẹn lãnh thổ có
ý nghĩa chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt nhiệm vụ này, hơn bao giờ hết phải tăng
cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đồng thời xây
dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Xây dựng toàn diện, hiện đại, chính
quy lực lượng vũ trang, quân đội nhân và an ninh nhân dân nhằm đáp ứng những
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước. Nghị quyết Đại hội X
của Đảng xác định cần thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện
chế độ chính ủy, chính trị viên, tăng cường cơng tác Đảng, cơng tác chính trị
trong qn đội. Bổ sung quy chế phối hợp hoạt động giữa quốc phòng, an ninh,
đối ngoại và các bộ, ngành có liên qua trong phân tích, dự báo tình hình và làm
tham mưu đề xuất các giải pháp thực hiện. Bổ sung, xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật, các chính sách xã hội có quan hệ đến nhiệm vụ quốc phòng an

ninh. Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hoạt động lãnh đạo của
Ðảng, quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của toàn Ðảng, toàn dân và toàn
quân là yêu cầu tất yếu của sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam XHCN.
2. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới


-16-

Tại Ðại hội IX, quan điểm xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân
dân được Ðảng ta xác định rõ phương hướng: "Xây dựng Quân đội nhân dân và
Cơng an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại...". Văn
kiện Ðại hội X vẫn trên quan điểm cơ bản như Ðại hội IX, Ðảng ta đã có sự cụ
thể hơn nội hàm của phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân và Công an
nhân dân. Nghị quyết nêu rõ: "Xây dựng Quân đội nhân dân và Cơng an nhân
dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao chất lượng
tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong
sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, Nhà nước và
nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Ðổi mới tổ chức, nội dung, phương
pháp huấn luyện, đào tạo đi đôi với cải tiến, đổi mới vũ khí, trang bị, phương
tiện phù hợp với yêu cầu tác chiến mới; phát triển khoa học quân sự, khoa học
công an, nghệ thuật chiến tranh nhân dân; cải tiến phương thức hoạt động của
lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách; phối hợp với các tổ chức nhân dân
trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội".
Quan điểm Ðại hội X của Ðảng thể hiện trên các nội dung chính sau:
ơ

Kiên trì và từng bước cụ thể hóa phương châm xây dựng quân đội nhân

dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Ðây là phương châm cơ bản trong quá trình xây dựng quân đội và công an. Các
nội dung của phương châm này đã được Ðảng ta đề cập qua các kỳ Ðại hội trong
q trình đổi mới và hồn chỉnh, nhấn mạnh tại Ðại hội X.
Tư tưởng xuyên suốt trong q trình xây dựng qn đội nhân dân và
cơng an nhân dân của Ðảng là không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, lấy
xây dựng quân đội và công an vững mạnh về chính trị làm cơ sở để xây dựng
các lĩnh vực khác. Vì thế, trong quá trình đổi mới, Ðảng ta luôn chỉ đạo tập
trung xây dựng những nội dung cơ bản, những vấn đề cốt lõi trong xây dựng
qn đội và cơng an về chính trị. Ðó là vấn đề bản chất giai cấp cơng nhân, tính
nhân dân, tính dân tộc của qn đội và cơng an; lòng trung thành tuyệt đối của


-17-

quân đội và công an đối với Ðảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN...
Trong xây dựng quân đội và cơng an về chính trị, vấn đề giữ vững, tăng cường
nguyên tắc Ðảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội và
công an được Ðảng ta quan tâm hàng đầu, bảo đảm cho quân đội và cơng an
ln là lực lượng chính trị trung thành với Tổ quốc, với Ðảng, với nhân dân,
vững vàng trong mọi tình huống, hồn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
Ðể nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu
của lực lượng quân đội và cơng an phải thường xun đổi mới nội dung, chương
trình, phương pháp đào tạo, huấn luyện; đổi mới vũ khí trang bị, phương tiện;
nâng cao khả năng nghiên cứu, ứng dụng khoa học cơng nghệ, có phương thức
hoạt động phù hợp để sẵn sàng đánh thắng khi có chiến tranh và giữ vững an
ninh quốc gia, ổn định chính trị xã hội tạo điều kiện phát triển kinh tế.
3. Củng cố, hồn thiện thế trận quốc phịng tồn dân và thế trận an
ninh nhân dân
Quan điểm của Ðảng về sức mạnh của nền quốc phịng tồn dân là sức

mạnh tổng hợp, không phải đơn thuần hoặc chủ yếu là sức mạnh quân sự. Trong
quá trình đổi mới đất nước, Ðảng ta ln có nhận thức đúng đắn về thế trận và
lực lượng của nền quốc phịng tồn dân. Xây dựng tiềm lực quốc phòng mạnh
phải đồng bộ, nhiều lực lượng, nhiều lĩnh vực cả tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân
sự, đặc biệt là tiềm lực chính trị tinh thần.
- Xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân. Sức mạnh quốc phòng được
tạo ra bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng và thế trận quốc phòng; được tổ
chức, bố trí hợp lý trên phạm vi cả nước kết hợp với từng hướng, từng địa bàn
chiến lược, từng địa phương, cơ sở. Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ:
"Xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh
nhân dân. Ðẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố. Tiếp tục
phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế
với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa


-18-

bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền,
biển đảo".
- Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc là một nội
dung quan trọng trong xây dựng thế trận, tạo nên sức mạnh của nền quốc phịng
tồn dân. Trong hai mươi năm đổi mới đất nước, trước yêu cầu của sự nghiệp
củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vấn đề xây dựng khu
vực phòng thủ tỉnh, thành phố đã trở thành một vấn đề quan trọng trong chiến
lược quốc phòng, an ninh của nước ta, được Ðảng ta nhận thức và chỉ đạo trong
thực tiễn ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn. Xây dựng khu vực phịng thủ là xây
dựng tỉnh, thành phố vững mạnh khơng chỉ về quốc phịng, an ninh mà cịn cả
về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Khu vực phịng thủ vừa phải bảo đảm được
yêu cầu bảo vệ và tác chiến trên địa bàn toàn tỉnh, thành phố, vừa nằm trong thế
trận liên hồn phịng thủ quốc gia, góp phần củng cố sự vững chắc thế trận quốc

phịng tồn dân của đất nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng,
bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN trong mọi tình huống.
- Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội là nội dung quan trọng của việc xây
dựng thế trận quốc phịng tồn dân, được Ðảng ta hoạch định ngày càng cụ thể
và sâu sắc hơn trong quá trình đổi mới. Nội dung xây dựng cơ sở chính trị - xã
hội ngày càng được đề cập rõ hơn và cụ thể hơn qua các kỳ Ðại hội của Ðảng.
Tại Ðại hội IX, Ðảng ta nhấn mạnh: "Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận
quốc phịng tồn dân và an ninh nhân dân; coi trọng xây dựng thế trận trên các
địa bàn chiến lược trọng yếu;xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và công an,
bảo vệ cơ sở". Trong xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của nền quốc phịng tồn
dân, vấn đề xây dựng các tổ chức chính trị, nhất là các cơ sở, vùng sâu, vùng xa,
biên giới, hải đảo và tăng cường công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng là những nội dung rất quan trọng được Ðảng ta thường xuyên quan tâm
lãnh đạo. Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội phản ánh sâu sắc nguồn sức mạnh to


-19-

lớn của nền quốc phịng tồn dân nước ta là từ nhân dân, của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân.
- Xây dựng "Thế trận lòng dân" là nội dung cơ bản, là vấn đề mấu chốt
của việc xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân của Ðảng trong điều kiện mới.
Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng chỉ rõ: "Xây dựng thế trận lòng dân làm nền
tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Qn đội nhân dân
và Cơng an nhân dân là nịng cốt". Có thể nói, vấn đề này có tầm quan trọng
hàng đầu trong lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc được Ðảng ta kế
thừa xuất sắc trong thực tiễn chỉ đạo xây dựng sức mạnh quốc phịng bảo vệ Tổ
quốc trong q trình đổi mới. u cầu cơ bản có ý nghĩa quyết định của xây
dựng sức mạnh quốc phòng, của "thế trận lòng dân" là: Khi chưa xảy ra chiến
tranh thì tồn dân hăng hái lao động sản xuất, mọi cơng dân đều có trách nhiệm

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khi xảy ra chiến tranh thì thực hiện chiến tranh
nhân dân "Cả nước một lịng, tồn dân đánh giặc", tạo ra những "Tấm lưới sắt",
"Bức thành đồng", "Thiên la địa võng" đánh giặc bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng
"Thế trận lòng dân" là nội dung cơ bản nhằm hướng vào đáp ứng yêu cầu trên và
cũng chỉ trên cơ sở xây dựng "Thế trận lịng dân" vững mạnh mới có điều kiện
và khả năng làm thất bại âm mưu "diễn biến hịa bình", bạo loạn lật đổ của các
thế lực thù địch, mới nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ
chức, cơ quan, đơn vị. Ðó là sức mạnh của nền quốc phịng tồn dân, là bí quyết
chiến thắng của nhân dân ta.
4. Xây dựng các cơ quan nội chính, pháp luật trong sạch, vững mạnh
- Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng một nền tư pháp trong sạch, công
tâm, khách quan, độc lập trong hoạt động nghiệp vụ đồng thời chịu sự kliểm tra,
giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền. Tích cực đổi mới và hoàn thiện hệ
thống pháp luật làm cơ sở cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ
quan tư pháp theo hướng phục vụ kịp thời công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội,
bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Viện


-20-

kiểm sát thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp
lại hệ thống toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của tòa án các cấp.
Tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng gọn đầu mối.
- Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức,
ý thức tổ chức kỷ luật của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành, thực hiện tốt
Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Tăng
cường mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao chuyên môn, vị thế của các ngành tư
pháp, trên cơ sở đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước. Bảo đảm tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp.
5. Chuẩn bị các phương án chủ động xử trí các tình huống xấu, phức

tạp có thể xảy ra
Với xu thế của tình hình thế giới và khu vực, với tiềm lực và vị thế quốc
tế của nước ta sẽ tiếp tục được tăng cường trong thời gian tới, chúng ta có cơ sở
tin tưởng trong những năm tới khả năng giữ vững hịa bình, ổn định là có nhiều
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta. Ta cần tranh thủ thời cơ, nắm bắt cơ hội, đẩy
lùi ngu cơ, vượt qua thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cần nghiên cứu và dự báo chính xác về các tình
huống phức tạp cụ thể để có phương án chủ động phịng ngừa, xử trí các tình
huống xấu, tránh để rơi vào tình thế đối đầu, hoặc bị cô lập, kiên quyết không để
xảy ra những diễn biến xấu. Trong bất cứ tình huống nào cũng khơng để lâm vào
hoặc bị động và bảo đảm đủ sức đối phó thắng lợi trong mọi tình huống.


-21-

C- KẾT LUẬN
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa luôn
gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh vững chắc.
Trong đó, phát triển kinh tế tạo ra những điều kiện vững chắc để tăng cường
quốc phòng an ninh; tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh và tồn vẹn lãnh
thổ tạo mơi trường hồ bình, ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển, những vận hội mới mở ra
những cũng khơng ít những khó khăn, thách thức phải đối mặt. Trong đó, nguy
cơ chống phá của chủ nghĩa đề quốc đối với chế độ xã hội chủ nghĩa, đối với sự
lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trở thành một trong những nguy cơ
lớn. Diễn biến hồ bình, bạo loạn lật đổ là những âm mưu, thủ đoạn được kẻ thù
sử dụng như một phương pháp hữu hiệu nhất.
Trước những âm mưu đó, Đảng ta khẳng định nhiệm vụ tăng cường quốc
phịng, giữ vững an ninh quốc gia và tồn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu,
thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của tồn dân, trong đó Qn đội nhân dân

và Cơng an nhân dân là lực lượng nịng cốt. Thực hiện thắng lợi đó góp phần to


-22-

lớn cho sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Kiến thức Quốc phịng - an ninh - Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Văn kiện Đại hội Đại biểu tồn quốc lần thứ X
3. Website Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Văn kiện Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ VIII.
4. Nghị quyết về nhiệm vụ cơng tác quốc phịng - an ninh tỉnh Trà Vinh
trong tình hình mới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×