Tiểu luận Lịch sử Đảng
A- MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia - dân tộc văn hiến có truyền thống yêu nước
nồng nàn và kiên cường, bất khuất. Cuối thế kỷ XIX, dân tộc Việt Nam bị rơi
vào ách đô hộ của thực dân Pháp. Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược và
bình định bằng vũ lực, thực Pháp đã tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa
với quy mơ ngày càng lớn nhằm cướp đoạt tài ngun, bóc lột nhân công rẻ
mạt, mở rộng thị trường tiêu thụ cho tư bản Pháp. Chúng thi hành một chính
sách cai trị cực kỳ thâm độc nhằm đầu độc về văn hóa, ngu dân về giáo dục
hịng buộc nhân dân ta phải mãi mãi trong vịng nơ lệ. Dưới ách thống trị của
thực dân Pháp, xã hội Việt Nam phân hóa một cách sâu sắc, các giai cấp cũ
phân hóa, các giai cấp mới ra đời, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với thực
dân Pháp và tay sai trở thành mâu thuẫn chủ yếu và ngày càng gây gắt. Song,
ách áp bức càng nặng thì sự phản kháng dân tộc càng cao, đấu tranh càng
mạnh, đặc biệt là các tầng lớp cần lao liên tiếp nổi dậy đấu tranh giành độc
lập dân tộc theo nhiều xu hướng, con đường chính trị khác nhau, song đều
thất bại, do thiếu một đường lối chính trị đúng đắn và một giai cấp tiên tiến
lãnh đạo, giai cấp địa chủ phong kiến đã suy tàn và phản động, giai cấp tư sản
quá nhỏ bé không đảm đương được ngọn cờ dân tộc. Cách mạng Việt Nam
“đen tối khơng có đường ra”. Lịch sử đặt ra yêu cầu phải tìm được một đường
lối cứu nước đúng đắn, một phương pháp cách mạng khoa học để giải phóng
dân tộc, đưa đất nước tiếp tục đi lên theo trào lưu chung của nhân loại.
Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc, người con ưu tú của dân tộc, mang trong
mình lịng u nước, thương dân sâu sắc, đã ra đi tìm đường cứu nước. Trải
qua một hành trình qua nhiều châu lục, tắm mình trong nhịp sống thời đại,
khảo sát phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân nhiều nước trên thế
giới, từ các cuộc cách mạng tư sản điển hình ở châu Âu, châu Mỹ đến cách
mạng vơ sản Nga, với thiên tài trí tuệ và nhận thức sắc bén, Người đã đến với
Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin , xác định
con đường giải phóng dân tộc. Nhận thức sâu sắc vai trò của tổ chức và lý
luận cách mạng, sau khi trở thành một người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
tích cực nghiên cứu, phát triển lý luận giải phóng dân tộc theo cách mạng vơ
sản của chủ nghĩa Mác - Lênin để truyền bá vào Việt Nam, xúc tiến chuẩn bị
về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng cộng sản
ở Việt Nam. Đó chính là sự sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong xác
định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc và chuẩn bị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
B- NỘI DUNG
I- BỐI CẢNH LỊCH SỬ NƯỚC TA TRƯỚC NGÀY ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
l- Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa
Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong q trình dựng nước và giữ
nước. Với truyền thống đồn kết và bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều
kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Từ đâu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây,
trong đó có đế quốc Pháp, đã nhịm ngó, xâm lược nước ta, mở đâu bằng việc
khai thông buôn bán và truyền giáo.
Nǎm 1858, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta. Vua quan triều
đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng chúng. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1884, triều
đình nhà Nguyên đã ký Hiệp ước Patơnốt, hoàn toàn dâng nước ta cho đế
2
quốc Pháp. Từ đó, Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Dưới chế
độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai của chúng, xã hội Việt Nam có nhiều
thay đổi. Về chính tri thực dân Pháp thi hành chính sách chun chế điển
hình. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp, vua quan nhà Nguyễn
chỉ đóng vai trị bù nhìn. Chúng thi hành chính sách chia để trị. Chúng chia rẽ
giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, rồi lập ra xứ Đông Dương thuộc
Pháp nhằm xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới.
Đánh giá về chính sách này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết: "Chủ
nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn "chia để trị" của nó.
Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một
dịng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống,
chung một tiếng nói, đã bị chia nǎm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia
cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đồn kết, nghĩa đồng bào trong
lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với
nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các
thành phần ấy lại, lập nên một "Liên bang" gọi là Liên bang Đông Dương"...
Về kinh tế tư bản Pháp không phát triển công nghiệp ở nước ta, mà chỉ
mở mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác
tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp.
Chính sách độc quyền kinh tế Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường của
chính quốc, nơi vơ vét tài ngun và bóc lột nhân cơng rẻ mạt.
Bên cạnh sự bóc lột nhân cơng và cướp đoạt tài ngun, đất đai, bọn
thực dân Pháp cịn duy trì chế độ phong kiến để giúp chúng bóc lột địa tơ, lợi
tức và các hình thức thuế khố rất nặng nề.
3
Các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc. Mâu thuẫn giữa nhân
dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp phong kiến địa chủ chưa được giải
quyết, thì mâu thuần giữa dân tộc ta với bọn đế quốc Pháp thống trị và phong
kiến tay sai của chúng lại phát sinh, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng của
nhân dân ta.
Đánh giá về hiện tượng xã hội nói trên, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết:
"Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn
phải làm cái việc là gieo hạt giống của cơng cuộc giải phóng nữa thơi"
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của tư bản Pháp trùm lên
phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời đã làm phân hoá các giai cấp cũ, tạo
ra kết cấu giai cấp mới.
2. Giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hố, giai cấp cơng nhân ra
đời
Giai cấp địa chủ phong kiến trong những thế kỷ trước đã từng giữ vai
trò tiến bộ nhất định trong lịch sử. Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng đế
quốc Pháp thì bản thân giai cấp này cũng bị phân hóa. Một bộ phận can tâm
làm tay sai cho đế quốc Pháp để duy trì quyền lợi của bản thân, một bộ phận
khơng ít tiếp tục truyền thống dân tộc, đề xướng và lãnh đạo các phong trào
Vǎn Thân, Cần Vương chống đế quốc Pháp xâm lược, khơi phục triều đình
phong kiến. Một số trở thành những lãnh tụ của phong trào quần chúng nông
dân, vừa đấu tranh chống đế quốc Pháp, vừa chống lại triều đình bán nước.
Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa.
4
Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất (1914-1918), vừa ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và
phân hố thành hai bộ phận. Một số ít ôm chân đế quốc, tham gia vào các cơ
quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản mại bản. Một
bộ phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và triều đình phong
kiến, nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hướng chính
trị cải lương. Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam tuy có tinh thần yêu
nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ khơng có khả nǎng lãnh đạo
cách mạng. Họ chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất
định.
Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong
kiến và thực dân đào tạo. Nhưng do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao
khát độc lập, tự do, dân chủ, nên cũng bị phân hố. Một số ít cam tâm làm tay
sai. Số đơng vẫn giữ được khí tiết dù ở hồn cảnh nào cũng khơng ngi lịng
cứu nước. Khi có điều kiện, những trí thức u nước thường đóng vai trị
truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống
thực dân, phong kiến.
Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hǎng hái chống đế
quốc và phong kiến. Sau phong trào Vǎn Thân, Cần Vương, nhất là sau thất
bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1913), phong trào nông dân bị phân tán.
Nông dân là một lực lượng đông đảo, yêu nước, nhưng không thể tự vạch ra
đường lối đúng đắn để tự giải phóng và khơng thể đóng vai trị lãnh đạo cách
mạng.
5
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp. Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối
thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, đồn trại
và thành phố phục vụ cho cuộc xâm lược và bình định nước ta. Trước Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), giai cấp công nhân cịn ít, chỉ 10 vạn
người và trình độ cịn thấp. Qua thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (19241929), số lượng cơng nhân chun nghiệp đã có 22 vạn người, chiếm 1,2% số
dân. Nếu tính số người làm thuê trong các hãng kinh doanh tư nhân vừa, nhỏ
và số người vô sản, nửa vô sản sống ở thành thị và nơng thơn, thì đội qn vơ
sản ở Việt Nam trước nǎm 1930 có đến hàng triệu người.
Sinh trưởng trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, cũng như nông
dân và các tầng lớp lao động khác, giai cấp cơng nhân Việt Nam bị ba tầng áp
bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản, phần lớn xuất thân từ nơng
dân. Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho hai giai cấp cơ bản này có sự liên
minh tự nhiên từ khi ra đời và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng.
Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, khơng có cơ sở xã hội cho chủ
nghĩa cơng đồn và chủ nghĩa cải lương thâm nhập, lũng đoạn từ bên trong,
do vậy, giai cấp cơng nhân Việt Nam tuy cịn trẻ, số lượng ít, trình độ vǎn hố,
kỹ thuật cịn thấp, nhưng ở nước ta đó là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản
xuất tiến bộ nhất, sống tập trung, có ý thức kỷ luật, có nǎng lực cách mạng
triệt để và có tinh thần quốc tế vơ sản.
Là con đẻ của một dân tộc anh hùng, lớn lên trong thời đại mới, khi mà
giai cấp công nhân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Bơnsêvích đã
6
giành được chính quyền, Quốc tế cộng sản đã thành lập, lại được lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc giác ngộ, giai cấp công nhân Việt Nam đã từ giác ngộ dân
tộc đến giác ngộ giai cấp, nhanh chóng phát triển từ tự phát đến tự giác.
Tháng 11 nǎm 1922, 600 thợ nhuộm ở Chợ Lớn (Nam Bộ) đã bãi công. Từ
nǎm 1920 đến nǎm 1925, có đến 25 cuộc bãi cơng trong cả nước. Nổi bật nhất
là cuộc bãi công của công nhân Ba Son nổ ra từ ngày 4 tháng 8 đến ngày 28
tháng 11 nǎm 1925 để "kìm chân" chiếc tàu J.Misơlê của đế quốc Pháp chuẩn
bị đưa quân sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Cuộc đấu tranh này có tổ
chức, chỉ đạo và biểu hiện tinh thần quốc tế cao cả. Tuy vậy, chỉ đến những
nǎm 1928-1929, khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chủ trương "vơ sản
hố" mới tạo điều kiện cho phong trào cơng nhân chóng trưởng thành, phát
triển lên trình độ tự giác.
3- Cuộc khủng hoảng đường lối giải phóng dàn tộc, nhiều đảng
phái xuất hiện
Lịch sử nước ta từ khi đế quốc Pháp xâm lược đến những nǎm hai mươi
của thế kỷ này đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh hết sức anh dũng của
dân tộc ta chống đế quốc Pháp xâm lược. Nhưng cuối cùng đều không giành
được thắng lợi vì khơng có một đường lối cứu nước đúng đắn.
Trước kia, chế độ phong kiến khi đang ở giai đoạn hưng thịnh, giai cấp
phong kiến đã từng lãnh đạo dân tộc đánh thắng bọn phong kiến phương Bắc
lớn mạnh xâm lược. Nhưng khi chế độ phong kiến đã suy tàn và phải đối phó
với một kẻ thù mới, một đế quốc thuộc loại cường quốc thế giới, thì giai cấp
phong kiến bất lực và trở thành phản động.
7
Thất bại của phong trào Cần Vương là do thiếu đường lối đúng, thiếu
một tổ chức cách mạng có khả nǎng dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi. Thất bại
của phong trào này đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm
trong khuôn khổ hệ tư tưởng phong kiến. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên
Thế dưới sự lãnh đạo của cụ Hoàng Hoa Thám cũng chứng tỏ đó khơng phải
là con đường giành thắng lợi.
Khi các phong trào trên chấm dứt thì cuộc khủng hoảng đường lối cứu
nước ở nước ta bộc lộ sâu sắc. Sau khi từng bước ly khai con đường giải
phóng dân tộc theo hệ tư tưởng phong kiến, nhiều người yêu nước Việt Nam
hướng ra nước ngồi, tìm đến nhưng con đường mới để mưu sự nghiệp giải
phóng dân tộc như: con đường Duy Tân của Nhật Bản (1860), con đường
Cách mạng tư sản Pháp (1789), con đường Cách mạng Tân Hợi của Trung
Quốc (1911)...
Vào đầu thế kỷ này, nước Nhật từ sau cuộc vãn động Duy Tân đã trở
thành nước đế quốc chủ nghĩa, đã đánh bại Nga Hồng trong cc chiến tranh
Nga - Nhật (1905). Cách mạng 1905 ở Nga nổ ra nhưng không thắng lợi.
Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (nǎm 1911) đã đánh đổ triều đình Mãn
Thanh, lập ra nước Trung Hoa dân quốc. Những sự kiện trên đây đã ảnh
hưởng đến phong trào yêu nước Việt Nam.
Ý thức hệ tư sản phương Tây đã thâm nhập vào Việt Nam. Một số sĩ
phu tiến bộ tiếp thu tràn lưu tư tưởng này, mong muốn nước mạnh, dân giàu
theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ muốn noi theo con đường phát triển của
Nhật Bản, dựa vào Nhật để đánh Pháp. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là
hội Duy Tân do cụ Phan Bội Châu sáng lập, với mục đích cổ động phong trào,
8
tổ chức lực lượng chống Pháp theo tôn chỉ "mở mang dân trí, chấn hưng dân
khí, vun trồng nhân tài". Số khác như các cụ: Lương Vǎn Can, Nguyễn
Quyền... mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội nhằm cổ động tinh thần
yêu nước, bài xích chính sách cai trị của thực dân Pháp, khuyến khích cải
cách, chế diễu lũ phong kiến, cường hào v.v.. Là một nhà yêu nước nhiệt
thành, nhưng chủ trương của cụ Phan Chu Trinh khác hẳn với cụ Phan Bội
Châu. Cụ Phan Chu Trinh tiêu biểu cho xu hướng cải cách dân chủ tư sản
(1789), phản đối việc vũ trang bạo động chống Pháp. Cụ nói: "Bất bạo động,
bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, ngoại vọng tất vong". Đó là lời tuyên bố của
cụ Phan Chu Trinh sau khi đi Nhật về (15-8-1906). Sau này trong thư "thất
trảm" gửi vua Khải Định khi y sang Pháp (1922), cụ Phan Chu Trinh viết:
"Mau mau quay đâu lại mà thối vị đi, đem chính quyền trả lại cho quốc dân
để quốc dân được trực tiếp với chính phủ Pháp mà làm việc đặng mưu lợi ích
sau này". Phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, chống đi phu, nộp
thuế ở Trung Kỳ là kết quả của khuynh hướng tư tưởng tư sản.
Tính chất phong trào dân tộc ở thời kỳ này có chuyển biến khác trước
Một số tổ chức yêu nước ra đời như hội Duy Tân (1904), trường Đông Kinh
Nghĩa Thục (1907), hội Đông Á đồng minh (1908), Việt Nam quang phục Hội
(1912-1924) v.v.. Song, vì đường lối chính trị của các tổ chức này không rõ
ràng, nhất là không dựa vào quần chúng lao động, mà dựa vào uy tín cá nhân,
nên khơng tạo ra được sự thống nhất trong những người đề xướng phong trào.
Vì vậy, khi những người thủ lĩnh bị đế quốc Pháp bắt thì phong trào cũng tan
rã theo. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917) đánh dấu bước phát
triển mới trong lịch sử nhân loại. Quốc tế cộng sản, bộ tham mưu của giai cấp
9
vơ sản và các dân tộc bị áp bức tồn thế giới được thành lập. ở Trung Quốc,
sau phong trào Ngũ Tứ, Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời (1921). ở Pháp,
Đảng cộng sản Pháp được thành lập (1920), sự kiện lịch sử này không chỉ là
thắng lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp, mà còn là thắng
lợi của các dân tộc thuộc địa Pháp. Đồng thời, với những chuyển biến trên thế
giới, cách mạng Việt Nam lúc này cũng bắt đâu có những chuyển biến mới.
Nguyễn Ái Quốc thay mặt tổ chức những người Việt Nam yêu nước ở
Pháp đưa bản "yêu sách 8 điểm" đến Hội nghị các nước đế quốc thắng trận ở
thành phố Vécxây (6-1919); đồng chí Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia
nhập Quốc tế cộng sản tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp ở thành
Tua và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp (1920).
Nguyễn Ái Quốc được bầu vào đoàn chủ tịch Hội nông dân Quốc tế (l01923), và dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản (1924). Tiếng bom Phạm
Hồng Thái mưu sát toàn quyền Méclanh (6-1924) ở Quảng Châu (Trung
Quốc) v.v.. Tất cả như sự báo hiệu bước chuyển biến mới về chất của phong
trào cách mạng Việt Nam.
Tháng 4 nǎm 1921, trên Tạp chí Cộng sản của Đảng cộng sản Pháp,
đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết: "Người Đơng Dương giấu một cái gì đang sơi
sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến".
Đúng như nhận xét của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, từ những nǎm 1920
trở đi, phong trào cách mạng Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ. Bên
cạnh những đảng cách mạng theo xu hướng tư tưởng tư sản, đã xuất hiện
những tổ chức yêu nước tiếp thu tư tưởng tiến bộ mới. Đặc biệt là chủ nghĩa
10
Mác-Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng có tác động mạnh
mẽ vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân.
Ở Việt Nam, giai cấp tư sản dân tộc chưa bao giờ giương được ngọn cờ
giải phóng dân tộc. Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu (1919) về cǎn bản là
một tập đoàn địa chủ "tư sản hoá".
Nǎm 1926, họ đưa ra thuyết "Pháp Việt đề huề" thì mặt nạ làm tay sai
cho đế quốc Pháp lộ rõ. "Thuyết trực trị" của Nguyễn Vǎn Vĩnh, "Thuyết bảo
hoàng lập hiến" của Phạm Quỳnh đã bộc lộ chân tướng ôm chân đế quốc
Pháp. Xu hướng quốc gia cải lương của nhóm Huỳnh Thúc Kháng cũng ít
tiếng vang.
Phong trào đấu tranh trong những nǎm 1923-1927, đòi tự do, dân chủ
theo kiểu cách mạng tư sản, nhưng động lực của nó là những người tiểu tư
sản chứ khơng phải do đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo. Biểu hiện của phong
trào này là nhiều hội, đảng yêu nước của thanh niên trí thức kế tiếp nhau ra
đời: Tân Việt thanh niên đoàn - tức Tâm tâm xã (1923-1925), hội Phục Việt
(1925), Đảng thanh niên của Trần Huy Liệu (1926), Thanh niên cao vọng
đảng của Nguyễn An Ninh (1926-1929), Tân Việt cách mạng đảng (19261930), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925-1929), Việt Nam quốc
dân đảng (1925-1930) v.v... Những tổ chức yêu nước cách mạng nói trên đã
có tác dụng nhất định trong việc truyền bá tư tưởng mới, giáo dục lòng yêu
nước và tập hợp số quần chúng thanh niên trí thức, tiểu tư sản. Nhưng, họ
chưa vạch ra được một đường lối cách mạng phù hợp với yêu cầu của dân tộc.
Tâm tâm xã nêu cao quyết tâm "khôi phục quyền làm người của người Việt
Nam", nhưng "chưa bàn đến chính thể". Tân Việt cách mạng đang nhận rõ
11
mục đích giải phóng dân tộc, nhưng chưa thấy vị trí lịch sử của giai cấp cơng
nhân, Việt Nam quốc dân đảng chủ trương chống đế quốc, chống phong kiến,
nhưng lại sao chép rập khuôn chủ nghĩa Tam dân của Tơn Dật Tiên (Trung
Quốc).
Nhìn chung, các hội và đảng u nước nói trên có tinh thần chống đế
quốc, nhưng chưa nhận thức được xu thế phát triển khách quan của thời đại
sau Cách mạng tháng Mười Nga, nên không thấy được giải phóng dân tộc
phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng xã hội, chủ nghĩa
yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chưa thấy
độc lập dân tộc phải gắn liền với chế độ mới để đi đến xoá bỏ mọi sự bất cơng
và áp bức bóc lột. Những người trong các tổ chức này cũng không thấy hết
bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, không nhận thức được vai
trị lãnh đạo của giai cấp cơng nhân, vai trò của quần chúng nhân dân, trước
hết là nơng dân trong cách mạng. Bởi những hạn chế đó, những người yêu
nước trong các tổ chức này chưa thể xác định được một đường lối cách mạng
đúng đắn.
Riêng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do đồng chí Nguyễn Ái
Quốc sáng lập, là một tổ chức cách mạng, phần lớn gồm những người trí thức,
tiểu tư sản, sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, sớm có khuynh hướng cộng
sản chủ nghĩa. Đảng Tân Việt, sau những nǎm 1926-1927 đã chịu ảnh hưởng
về đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Cuộc đấu tranh về ý thức hệ và về đường lối cứu nước giữa Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên và các tổ chức yêu nước nói trên đã diễn ra từ
những ngày đầu đồng chí Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư
12
tưởng và tổ chức cho việc thành lập đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam, từng
bước khắc phục sự khủng hoảng về đường lối cứu nước.
II- SỰ SÁNG TẠO CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG
XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ
CHUẨN BỊ THÀNH LẬP ĐẢNG
l- Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu
nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối
cũ, thì đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước theo phương
hướng mới.
Gần mười nǎm bơn ba khắp các châu lục (1911-1920), Người đến
những nước thuộc địa và những nước đế quốc như Anh, Mỹ, Pháp... quan sát,
nghiên cứu, suy nghĩ, đã phát hiện một chân lý: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa
đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ của giai cấp cơng nhân với
nhân dân lao đồng ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa...
Dưới ánh sáng Cách mạng tháng Mười, Đề cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa của Lênin và ảnh hưởng của cuộc đấu tranh thành lập Đảng công
sản Pháp..., chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý cách mạng của thời đại đã sớm
được khẳng định trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 12 nǎm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở
Tua, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng
sản và chủ trương thành lập Đảng cộng sản Pháp. Giải thích việc làm đầy ý
nghĩa đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết: "Đệ tam Quốc tế nói sẽ giúp đỡ các
13
dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Cịn Đệ nhị Quốc tế
khơng hề nhắc đến vận mạng các thuộc địa. Vì vậy, tơi đã bỏ phiếu tán thành
Đệ tam Quốc tế. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đây là tất
cả những điều tôi muốn."
Sự kiện này đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và
lập trường chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ đó Người xác định con
đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam là: giải phóng giai cấp vơ
sản mới thực sự giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có
thể là sự nghiệp cua chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới .Từ khi trở
thành người cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã xúc tiến mạnh mẽ việc
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào giải phóng dân tộc và phong
trào vô sản ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Cuối nǎm 1921, tại Đại hội lân thứ nhất của Đảng cộng sản Pháp, đồng
chí Nguyễn Ái Quốc đã trình bày dự thảo nghị quyết về vấn đề "chủ nghĩa
cộng sản và thuộc địa", và kiến nghị thành lập Ban nghiên cứu thuộc địa của
Đảng. Nǎm 1922, Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng cộng sản Pháp được
thành lập Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử làm trưởng tiểu ban nghiên cứu
về Đông Dương. Với cương vị này, đồng chí đã tích cực tuyên truyền, giáo
dục và giới thiệu cho Đảng cộng sản Pháp nhiều chiến sĩ cách mạng của các
nước thuộc địa ở châu á châu Phi...
Cũng nǎm 1921, nhờ sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp, Người đã
cùng với một số chiến sĩ cách mạng ở các nước Angiêri, Mađagátxca,
Xênêgan, Tuynidi, Marốc, Đahômây v.v..sáng lập ra Hội liên hiệp thuộc địa. ở
Pari, trong đó Hội người Việt Nam yêu nước ở Pháp làm nòng cốt.
14
Thông qua tổ chức này và báo Người cùng khổ, diễn đàn của các dân tộc bị
áp bức, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đến với các dân tộc thuộc địa, đồng thời
tình hình các nước thuộc địa đã đến với nhân dân Pháp. Cùng với báo Người
cùng khổ mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút và quản
lý, Người còn viết nhiều bài đǎng trên các báo Nhân đạo (L'humanité), cơ
quan Trung ương của Đảng cộng sản Pháp, Đời sống thợ thuyền (La Vie
Ouvrière), tiếng nói của giai cấp cơng nhân, Tạp chí Cộng sản (La Revue
communiste), cơ quan lý luận của Đảng cộng sản Pháp v.v.. Hầu hết bài viết
của Người đều tập trung lên án chủ nghĩa thực dân.
Nǎm 1925, được sự giúp đỡ của những người cộng sản Pháp, tác phẩm
Bản án chế độ thực dân Pháp của đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng
Pháp được xuất bản lần đầu tiên ở Pari. Tư tưởng, quan điểm cơ bản của
Người về chiến lược và sách lược cách mạng thuộc địa đã bước đầu thể hiện
trong tác phẩm.
Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo trước nhân dân Pháp và thế giới
những tội ác của bọn thực dân không chỉ ở Việt Nam, Angiêri mà ở khắp các
thuộc địa. Bằng biểu tượng "con đỉa hai vòi", Nguyễn Ái Quốc đã làm cho
người đọc thấy rằng: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung
của giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc lột ở các nước
chính quốc và các dân tộc thuộc địa. Bản án chế độ thực dân Pháp đã góp
phần vào việc thiết lập sự liên minh giữa cách mạng vơ sản ở chính quốc với
cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa, phải thực hiện sự liên minh
chật chẽ với nhau để chống kẻ thù chung, vì "chỉ có sự hợp tác này mới bảo
đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng".
15
Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả nǎng cách mạng to lớn. Phải làm
cho các dân tộc thuộc địa từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau
hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai,
khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản".
Bản án chế đô thực dân. Pháp đã phê phán thái độ "cầu cạnh xin xỏ thay
đổi quốc tịch" của một số người mang tư tưởng cải lương tư sản, đồng thời đề
cao tinh thần tự lực, tự cường, tự mình giải phóng cho mình: "cơng cuộc giải
phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em"
và hướng cách mạng thuộc địa phát triển theo con đường cách mạng của
Quốc tế cộng sản.
Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm lý luận đầu tiên của cách
mạng nước ta, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Nhờ
tác phẩm đó và các bài viết của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta, trước
hết là những người trí thức tiểu tư sản yêu nước, tiến bộ đã hướng về và tiếp
thụ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tháng 6 nǎm 1923, đồng chí Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp đến
Mátxcơva để tham dự Hội nghị nông dân quốc tế tân thứ nhất (10-1923);
đồng thời trực tiếp học tập, nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười
Nga và chủ nghĩa Lênin. Ngày 17-6-1924, đồng chí được Trung ương Đảng
cộng sản Pháp uỷ nhiệm tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản. Sau
đó, đồng chí cịn tham gia các đại hội Quốc tế công hội đỏ, Quốc tế phụ nữ,
Quốc tế thanh niên, Quốc tế cứu tế đỏ Tại các Đại hội quốc tế nói trên, đồng
chí Nguyễn Ái Quốc tiếp tục làm rõ những quan điểm của mình về vai trị lịch
16
sử của giai cấp vô sản thuộc địa, về mối quan hệ giữa phong trào cách mạng ở
thuộc địa với cách mạng vơ sản ở chính quốc và nêu rõ sự cần thiết phải thủ
tiêu hệthống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc trước khi xoá bỏ chế độ thối nát
này trên toàn thế giới.
2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho
việc thành lập Đảng
Giữa tháng 12 nǎm 1924, với tư cách là uỷ viên Bộ phương Đông của
Quốc tế cộng sản, trực tiếp phụ trách Cục phương Nam, đồng chí Nguyễn Ái
Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) để hoạt động, xây dựng
phong trào và đào tạo cán bộ cách mạng cho một số nước ở Đông Nam Á. Tại
đây, đồng chí đã cùng với các nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, Triều
Tiên, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, v.v..sáng lập ra Hội liên hiệp các
dân tộc bị áp bức ở Á - Đơng.
Tháng 5-1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên, trong đó có tổ chức trung kiên là cộng sản đồn làm nịng
cốt để trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị điều
kiện cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vơ sản Việt Nam. Người đã
trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện, đào tạo được hơn 200 cán bộ cách mạng.
Trong số này, nhiều người được chọn đi học trường Đai học phương Đông ở
Liên Xô (Trần Phú, Lê Hông Phong, Hà Huy Tập, v.v..), một số được cử Vào
học quân sự ở trường Hoàng Phố (Trung Quốc) như Trương Vân Lệnh, Phùng
Chí Kiên. Cịn phần lớn đưa về nước hoạt động. Người cho ra tờ báo Thanh
niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội.
17
Đầu nǎm 1927, cuốn Đường cách mệnh gồm những bài giảng của
Người trong các lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu, được Bộ tuyên truyền của
Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á - Đông xuất bản. Trong tác phẩm quan
trọng này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc nêu ra những tư tưởng cơ bản về chiến
lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Đường cách mệnh đề cập đầu
tiên đến vấn đề tư cách người cách mạng, nhắc nhở cán bộ phải vị công vong
tu, nói thì phải làm,... giữ chủ nghĩa cho vững,... ít lịng tham muốn về vật
chất,... hy sinh,... giữ bí mật,... phục tùng đoàn thể v.v..
Tác phẩm nêu ra ba loại tư tưởng về cách mạng và chia ra hai thứ cách
mạng là "dân tộc cách mạng" và "thế giới cách mạng", rồi khẳng định tuy có
khác nhau "nhưng 2 thứ cách mệnh ấy vẫn có quan hệ với nhau". "Tất cả dân
cày, người thợ trong thế giới bất kỳ nước nào, nòi nào đều liên hợp nhau lại
như anh em một nhà, để đạp đổ tất cả tư bản trong thế giới, làm cho nước nào,
dân nào cũng được hạnh phúc, làm cho thiên hạ đại đồng - ấy là thế giới cách
mệnh".
Tác phẩm phân tích những hạn chế của cách mạng tư sản ở Mỹ (1776),
ở Pháp (1789) và khẳng định chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách
mạng triệt để. Đường cách mệnh chỉ rõ đối tượng đấu tranh của cách mạng
Việt Nam là tư bản đế quốc chủ nghĩa, phong kiến địa chủ; đồng thời, chỉ rõ
động lực và lực lượng cách mạng: "công nông là gốc cách mệnh cịn học trị,
nhà bn nhỏ, điền chủ nhỏ... chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nơng".
Trong khi kêu gọi sự đồng tâm, nhất trí làm cách mạng, giải phóng dân tộc,
tác phẩm đã phê phán hành động ám sát cá nhân và những khuynh hướng cơ
18
hội chủ nghĩa khác chỉ xúi dân bạo động mà khơng bày cách tổ chức; hoặc
làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính tự cường.
Quần chúng một khi đã được giác ngộ, có tổ chức và lãnh đạo sẽ là lực
lượng cách mạng vơ địch: "dân khí mạnh thì qn lính nào súng ống nào cũng
khơng chống lại". Đường cách mệnh chỉ rõ cách mạng Việt Nam là một bộ
phận của cách mạng thế giới. Tác phẩm còn nhấn mạnh ý thức tự lực tự
cường, muốn người ta giúp cho thì mình phải tự giúp mình trước. Đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đã thấy khả nǎng cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi
trước, khơng thụ động chờ đợi cách mạng vơ sản chính quốc thắng lợi để
được giải phóng Người viết: "An Nam dân tộc cách mệnh thành cơng thì tư
bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì cơng nơng Pháp làm giai cấp cách mệnh
cũng dễ".
Tác phẩm khẳng định: muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, trước hết
phải có đảng cách mạng. Đảng ấy phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ
nam: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin". Tác phẩm đã
giới thiệu các tổ chức chính trị quốc tế, các hình thức làm ǎn hợp tác và
hướng nhân dân ta tham gia các tổ chức đó. Đường cách mệnh chỉ rõ: "Ai làm
cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam".
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tác phẩm Đường cách mệnh
đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng, lý luận chính trị và tổ chức cho việc thành
lập Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam. Đây là sự chủ động, sáng tạo của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc cho sự ra rời của Đảng cộng sản Việt Nam.
19
3- Thống nhất các tổ chức cộng sản và sự thành lập Đảng cộng sản
Việt Nam.
Trước tình hình xuất hiện ba tổ chức cộng sản trong một nước. Quốc tế
cộng sản gửi thư cho những người cộng sản ở Đông Dương nêu rõ "nhiệm vụ
quan trọng hơn hết và tuyệt đối cần thiết của tất cả những người cộng sản
Đông Dương là sớm lập một đảng cách mạng của giai cấp vô sản, nghĩa là
một đảng cộng sản quần chúng. Đảng ấy phải là một đảng duy nhất và ở
Đông Dương chỉ là đảng ấy là tổ chức cộng sản mà thơi.
Quốc tế cộng sản chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc chịu trách
nhiệm "hợp nhất các phần tử cộng sản chân chính lại, để thành lập một đảng
duy nhất". Nhận chỉ thị này, mùa thu nǎm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ
Thái Lan trở lại Hương Cảng chuẩn bị kế hoạch thực hiện nhiệm vụ lịch sử
trọng đại nêu trên.Từ ngày 3 đến 7 tháng 2 nǎm 1930, Hội nghị hợp nhất
được tiến hành tại nhà một cơng nhân ở xóm thợ đường Cửu Long gần Hương
Cảng (Trung Quốc). Tham dự Hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu và
Nguyễn Đức Cảnh, đại biểu của Đơng Dương cộng sản đảng; Nguyễn Thiệu
và Châu Vǎn Liêm, đại biểu của An Nam cộng sản đảng. Hội nghị tiến hành
dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại biểu của Quốc tế cộng sản.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, các đại biểu hồn tồn nhất trí tán
thành ý kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và thống nhất các tổ chức cộng
sản thành một đảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam.Hội nghị thơng qua
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng cộng sản
Việt Nam. Những vǎn kiện quan trọng này đều do đồng chí Nguyễn Ái Quốc
dự thảo. Hội nghị cũng thông qua Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
20
thay mặt Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam gửi đến quần chúng
công, nông, binh, đồng bào và đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập
Đảng.
Hội nghị nhất trí về việc hợp nhất và tổ chức các đồn thể quần
chúng; thơng qua Điều lệ tóm tắt của Cơng hội, Nơng hội, Đồn thanh niên
cộng sản, Hội phụ nữ, Hội cứu tế, Hội phản đế (tức Mặt trận dân tộc thống
nhất chống đế quốc)v.v…Hội nghị cũng quyết định kế hoạch thống nhất các
cơ sở Đảng trong cả nước, thể thức cử Ban chấp hành trung ương lâm thời và
bàn việc liên hệ để thu nạp Đông Dương cộng sản liên đồn. Hội nghị cũng
nhất trí rằng, khi về nước các đại biểu lấy danh nghĩa thay mặt đại biểu quốc
tế (tức là đồng chí Nguyễn Ái Quốc) mà tiến hành cơng việc của Hội nghị
hợp nhất.
Nói về nỗi vui sướng của người cộng sản trước sự kiện lịch sử này, về
sau đồng chí Nguyễn Thiệu, đại biểu của An Nam cộng sản đảng dự Hội nghị
hợp nhất viết: "Tơi vơ cùng cảm ơn đồng chí Vương (tức đồng chí Nguyễn
Ái Quốc) làm cho tơi được thoả lịng. Đảng mới, tên mới, tất cả đều thống
nhất theo tinh thần mới. Có thể nói rằng, mỗi người đều được mà chẳng ai
mất gì. Đồng chí Vương đem lại cho chúng tôi nhiều quá, nhiều gấp mấy lần
những điều mà chúng tôi mong ước. Đêm ấy về nhà, chúng tôi khơng ngủ
được vì q vui mừng.
Nhờ sự hoạt động tích cực của các đồng chí đại biểu thay mặt đồng chí
Nguyễn Ái Quốc, chỉ trong một thời gian ngắn, các đảng bộ ở cơ sở được hợp
nhất. Cac tổ chức quần chúng cũng thống nhất theo điều lệ mới. Lâm thời
chấp uỷ của Đảng ở các xứ được chỉ định và Ban chấp hành trung ương lâm
21
thời được thành lập. Các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Hới, Trần Vân
Lan, Nguyễn Phong Sắc Lê Mao, Phan Hữu Lầu, Hồng Quốc Việt được các
đảng bộ cử vào Ban chấp hành trung ương lâm thời do đồng chí Trịnh Đình
Cửu đứng đầu.Đảng bộ Hoa kiều ở Chợ Lớn cũng cử đồng chí Lưu Lập Đạo
tham gia Ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 24 tháng 2 nǎm 1930, hai đồng chí Châu Vǎn Liêm, Nguyễn Thiệu thay
mặt đại biểu quốc tế, các đồng chí Phan Hữu Lầu, Hồng Quốc Việt thay mặt
Ban chấp hành trung ương lâm thời cùng với đồng chí Ngơ Gia Tự, Bí thư
lâm thời chấp uỷ của Đảng bộ Nam Kỳ họp và quyết định chấp nhận Đông
Dương cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam.
Như vậy, chỉ nửa tháng sau, kể từ ngày hội nghị hợp nhất bế mạc, ba tổ
chức cộng sản ở Đơng Dương hồn tồn thống nhất trong một đảng duy nhất Đảng cộng sản Việt Nam. Thay mặt Quốc tế cộng sản, từ ngày 0307/02/1930, Nguyễn Quốc chủ trì hội nghị và thống nhất các tổ chức cộng
sản thành lập một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, thơng
qua chính cương vắn tắt , sách lược vắn tắt , điều lệ vắn tắt của Đảng và lời
kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng do Nguyễn Aí Quốc soạn thảo.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam do Nguyễn
Aí Quốc soạn thảo là một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn
và sáng tạo , nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp thấm đượm tính dân tộc và
tính nhân văn .Độc lập dân tộc và tự do là tư tưởng cốt lõi của của cương lĩnh
này.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam tháng 2 nǎm 1930
có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng. Hội nghị vạch ra một đường lối cách
22
mạng và đường lối xây dựng Đảng đúng đắng, sáng tạo, phù hợp với điều
kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Đường lối đúng đắn là điều kiện
quan trọng nhất để ba tổ chức cộng sản nhanh chống thống nhất ý chí và hành
động, gánh vác sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội.
C- KẾT LUẬN
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt được cuộc khủng hoảng về
đường lối cứu nước của dân tộc ta mà Nguyễn Aí Quốc là vị anh hùng của
dân tộc sau nhiều năm bôn ba ở hải ngoại đã tìm ra con đường cứu nước cho
dân tộc Việt Nam: đó là tư tưởng của chủ nghĩa Chủ Nghĩa Mác- Lênin, tinh
thần của cách mạng vô sản .Sau khi tìm được con đường cứu nước Nguyễn Ái
Quốc đã ra sức truyền bá tư tưởng đường lối cứu nước của mình về Việt Nam,
chuẩn bị về mặt tư tưởng và lực lượng cho phong trào cách mạng trong nước
và chuẩn bị thành lập Đảng.
Nhiều nhà nghiên cứu và chính khách trên thế giới cũng đã đánh giá
tầm vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, nhãn quan sáng suốt nhìn xa thấy rộng
của Người bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc về những lực lượng thúc đẩy sự
biến đổi có tính chất bùng nổ nhất của lịch sử ở những bước ngoặt có tính
chất cách mạng nhất. Gớt Hơn - Tổng Bí thư Đảng cộng sản Mỹ nhận định về
vai trị sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt
Nam rằng: “Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu
cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy mà đồng chí
đã làm nên lịch sử”.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Văn kiện Đảng toàn tập.
3. Website Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam - 80 năm xây dựng và phát triển.
24