Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017
Kỷ yếu khoa học
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC VI KHUẨN VÙNG RỄ KÍCH THÍCH TĂNG
TRƯỞNG THỰC VẬT Ở CÂY TIÊU SẺ (PIPER NIGRUM L.) TRỒNG TẠI HUYỆN
CHƠN THÀNH VÀ HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Đỗ Thị Thùy Trâm*, Châu Kim Xuyến, Hà Bảo Sơn
Trường Đại học Sài Gịn
* Tác giả liên lạc:
TĨM TẮT
Chín mươi dịng vi khuẩn có khả năng cố định nito, hịa tan phosphate được phân lập từ 40
mẫu đất vùng rễ của cây tiêu Sẻ trồng tại huyện Chơn Thành và huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình
Phước. Trong đó, 43 dịng phát triển tốt trên cả 2 loại môi trường Burk’s không đạm và
NBRIP chứa phosphate khó tan đã được lựa chọn để khảo sát định lượng khả năng cố định
nito, hòa tan phosphate và tổng hợp chất điều hòa sinh trưởng IAA. Năm dòng vi khuẩn
(LĐ11, LĐ5, LĐ8, TT2, LĐ6) cố định nito cao nhất (3,61-5,2 mg/L NH4+), 5 dòng (LĐ8,
ML42, LĐ3, ML63, LĐ5) hòa tan phosphate cao nhất (23,25-35,14 mg/L P2O5) và 5 dòng
(CT1, CT2, LT2, LT4, LT6) tổng hợp chất điều hòa sinh trưởng IAA cao nhất (2,86-3,22 mg/L
IAA). Căn cứ kết quả định lượng, 4 dòng đã được chọn để định danh theo phương pháp khối
phổ MALDI. Kết cho thấy dịng CT6 là lồi Bacillus weihenstephanensis, dịng ML42 là
Bacillus megaterium, dòng LĐ8 là Bacillus cereus và dòng TT6.1 là Staphylococcus warneri.
Từ khóa: Cố định nito, hịa tan phosphate, IAA, vi khuẩn đất vùng rễ, tiêu Sẻ.
ISOLATION AND SELECTION OF PLANT GROWTH-PROMOTING
RHIZOBACTERIA FROM PIPER NIGRUM L. RHIZOSPHERE SOIL IN CHON
THANH DISTRICT AND LOC NINH DISTRICT, BINH PHUOC PROVINCE
Do Thi Thuy Tram*, Chau Kim Xuyen, Ha Bao Son
Sai Gon University
*
Corresponding author:
ABSTRACT
Ninety isolates with the ability of fixing nitrogen and phosphorus solubility were isolated
from 40 rhizosphere soil of Piper nigrum L. in Chon Thanh district and Loc Ninh district,
Binh Phuoc province. Among them, 43 isolates grown high on 2 media (Burk’s N-free and
NBRIP) have been chosen to continue examining the ability to synthesize IAA. Five isolates
(LĐ11, LĐ5, LĐ8, TT2, LĐ6) had high abilities of nitrogen fixation (3,61-5,2 mg/L NH4+), 5
isolates (LĐ8, ML42, LĐ3, ML63, LĐ5) had high abilities of phosphorus solubilization and 5
isolates (CT1, CT2, LT2, LT4, LT6) synthesized high IAA levels (2,86-3,22 mg/L IAA). From
which, 15 isolates have been chosen to identify in MALDI mass spectrometry. The results
showed that CT6 isolate was Bacillus weihenstephanensis, ML42 isolate was Bacillus
megaterium, LĐ8 isolate was Bacillus cereus and TT6.1 isolate was Staphylococcus warneri.
Keywords: Nitrogen fixation, phosphorus solubility, IAA, rhizosphere bacteria, Piper
nigrum L.
TỒNG QUAN
Hồ tiêu vừa là loại gia vị được sử dụng phổ
biến trong ẩm thực vừa được dùng làm thuốc
chữa bệnh. Nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu trên thế
giới không ngừng gia tăng, trong khi cây tiêu
chỉ thích hợp với khí hậu vùng nhiệt đới. Do
vậy, hồ tiêu là nông sản xuất khẩu quan trọng
của một số nước châu Phi, châu Mỹ và châu
Á, trong đó có Việt Nam.
Từ năm 2000 đến nay, Việt Nam liên tục là
quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn
nhất thế giới, đến hơn 100 quốc gia khác
nhau. Đặc biệt, năm 2014, hồ tiêu Việt Nam
chiếm lĩnh khoảng 58% thị phần xuất khẩu
quốc tế. Có thể nói, nước ta đang nắm quyền
chi phối ngành hàng nơng sản này trên toàn
cầu, giúp đời sống người dân được cải thiện
đáng kể. Nước ta có 6 vùng trồng hồ tiêu
trọng điểm, trong đó có tỉnh Bình Phước.
Để tăng cường dinh dưỡng cho đất và duy trì
442
Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017
sản lượng hồ tiêu, người dân thường có thói
quen sử dụng phân bón hóa học. Việc lạm
dụng phân bón hóa học gây ra nhiều bất lợi
cho cây trồng, hệ sinh thái và sức khỏe con
người. Do vậy, ngày nay sản xuất và sử dụng
phân bón sinh học trong đó có phân vi sinh
nhằm bổ sung và thay thế phân bón hóa học
là một biện pháp được quan tâm ở nhiều
quốc gia. Các nhà khoa học không ngừng tìm
kiếm và ứng dụng các chủng vi khuẩn kích
thích tăng trưởng thực vật (Plant Growth
Promoting Bacteria - PGPB), trong đó có các
vi khuẩn vùng rễ, để sản xuất các chế phẩm
sinh học bón cho cây trồng.
“Vi khuẩn vùng rễ” (rhizopheric bacteria) là
thuật ngữ nhằm mô tả các vi khuẩn đất có
khả năng cạnh tranh tốt trong tiến trình dịng
hóa (colonization) rễ cây và kích thích tăng
trưởng thực vật, từ đó làm giảm tỷ lệ mắc
bệnh ở cây. Kloepper và Schroth (1981) gọi
những vi khuẩn vùng rễ có lợi là “vi khuẩn
vùng rễ thúc đẩy tăng trưởng thực vật” (Plant
Growth Promoting Rhizobacteria - PGPR).
PGPR có khả năng xâm chiếm rễ và thúc đẩy
tăng trưởng thực vật thông qua các hoạt động
trực tiếp hoặc thơng qua việc kiểm sốt sinh
học các bệnh hại cây trồng. Sự thúc đẩy tăng
trưởng thực vật có thể trực tiếp thông qua cố
định đạm sinh học (Biological Nitrogen
Fixation – BNF), hòa tan phosphate, sản xuất
phytohormone, sản xuất siderophore, ức chế
sinh tổng hợp ethylene nhằm đáp ứng với các
stress sinh học và phi sinh học, v.v..., hay
gián tiếp thông qua sự giảm bớt hoặc ngăn
ngừa các tác động có hại của một hoặc nhiều
sinh vật gây bệnh bằng cách tạo ra các chất
đối kháng hoặc gây ra đề kháng với mầm
bệnh.
Sau 24 – 48 giờ, chọn những khuẩn lạc rời,
đều nhau nằm trên đường cấy, tiếp tục cấy
chuyển cho tới khi quan sát dưới kính hiển vi
trường NBRIP và Burk’s đặc khơng N để
chọn lọc những dịng vi khuẩn có cả hai khả
năng cố định nito và hịa tan phosphate.
Chuyển các dòng đã thuần vào các ống
nghiệm chứa mơi trường đặc trữ ở 4oC.
Đã có nhiều quốc gia như Ấn Độ, Nam Phi,
Malaysia nghiên cứu về vi khuẩn kích thích
tăng trưởng thực vật ở hồ tiêu nhưng hiện
chưa thấy có nghiên cứu nào ở Việt Nam.
Kỷ yếu khoa học
ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN
CỨU
Mục tiêu nghiên cứu là phân lập, tuyển chọn
các vi khuẩn vùng rễ có khả năng cố định
nito, hòa tan phosphate, tổng hợp chất điều
hòa sinh trưởng IAA ở cây tiêu Sẻ (Piper
nigrum L.) trồng tại huyện Chơn Thành và
huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, hướng tới
các nghiên cứu chọn lọc các dịng có tiềm
năng ứng dụng vào sản xuất phân bón vi
sinh.
PHƯƠNG PHÁP
Mẫu đất
Các mẫu đất vùng rễ tiêu Sẻ (khoảng 2 kg đất
bao gồm cả cây tiêu) được thu thập từ các
vườn tại 2 huyện (Chơn Thành, Lộc Ninh)
của Bình Phước. Đất vùng rễ là lớp đất bao
quanh rễ (< 1 cm) của từng mẫu tiêu. Mỗi
mẫu đất bao quanh bộ rễ được xử lý theo
phương pháp “Lắc” (Shaking) (Luster and
Finlay, 2006). Mỗi mẫu này là một “mẫu
đơn” sau đó sẽ được gộp chung tạo thành
“mẫu tổ hợp” theo từng vườn (TCVN 75282:2005). Có tổng cộng 40 mẫu, mỗi mẫu
được bảo quản trong lọ thủy tinh sạch ở 5oC
và được dùng để tiến hành phân lập vi khuẩn
trong vòng 10 ngày.
Phân lập vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng
trưởng thực vật (PGPR)
Cân 1 g đất vùng rễ cây tiêu Sẻ đã qua xử lý
và nghiền mịn, cho vào bình tam giác chứa 99
mL nước vô trùng. Lắc trong 12 giờ với tốc
độ 200 rpm (vòng/phút) giúp cho các hạt đất
rời ra và vi khuẩn phân tán đều trong nước.
Sau khi lắc, để lắng trong khoảng 3 giờ rồi thu
lấy phần dịch trong cho vào ống nghiệm vô
trùng và bảo quản lạnh để sử dụng trong ngày.
Lấy 30 L dịch huyền phù trang đều trên môi
trường thạch đĩa Burk’s không N hoặc môi
trường NBRIP. Sau 24 – 48 giờ, tiến hành
quan sát. Nếu thấy xuất hiện khuẩn lạc, dùng
que cấy đã khử trùng cấy chuyển vi khuẩn
sang môi trường thạch đĩa tương ứng theo
phương pháp cấy ria.
443
Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017
Định lượng nito, phosphate hòa tan, IAA
của những dòng đã phân lập được
Các dòng vi khuẩn phân lập trên từng loại
môi trường được đo khả năng cố định nito
bằng phương pháp so màu ở bước sóng 640
nm (OD640nm) (Solarzano, 1969), đo khả năng
hòa tan phosphate bằng phương pháp so màu
ở bước sóng 880nm (OD880nm) (Murphy và
Riley, 1962). Từ kết quả định lượng, tuyển
chọn được 43 dòng vi khuẩn có khả năng cố
định nito, hịa tan phosphate cao tiếp tục định
lượng khả năng tổng hợp chất điều hòa sinh
trưởng IAA bằng phương pháp so màu ở
bước sóng 530nm (OD530nm) Gordon và
Weber, 1951). Kết quả đo OD được thay vào
phương trình đường chuẩn, từ đó suy ra được
hàm lượng (nito, phosphate hòa tan, IAA)
sinh ra trong dung dịch.
Định danh vi khuẩn
Căn cứ kết quả định lượng khả năng cố định
nito, hòa tan phosphate, tổng hợp chất điều
hòa sinh trưởng IAA chọn ra một số dòng nổi
trội. Gửi các mẫu để định danh bằng phương
pháp khối phổ MALDI (Matrix Assisted
Laser Desorption Ionization - Giải hấp laser
hỗ trợ bởi chất nền).
Mẫu phân tích được trộn với các chất nền
chứa các phân tử hữu cơ nhỏ có khả năng
hấp thụ năng lượng ánh sáng ở những bước
sóng nhất định. Hỗn hợp mẫu và chất nền
được đưa lên khay và bay hơi tạo thành các
hạt tinh thể bám với peptid.
Dưới tác dụng của nguồn năng lượng laser
Kỷ yếu khoa học
cực lớn chiếu vào làm cho các chất nền (axit
yếu) hấp thụ năng lượng, làm nóng lên nhanh
chóng gây ra sự thăng hoa cục bộ của tinh
thể chất nền từ pha rắn vào pha khí.
Mẫu được hấp thụ photon và năng lượng sẽ
được đi vào hệ thống khối phổ TOF. Sự phân
tách các phân tử dựa trên khối lượng, các ion
lớn hơn sẽ có thời gian bay dài hơn và các
phân tử nhỏ hơn sẽ có thời gian bay ngắn
hơn. Detector là nơi tiếp nhận các ion và biến
thành các tín hiệu điện để được ghi nhận
thành các tín hiệu phổ khối.
Số liệu được phân tích thống kê bằng phần
mềm SPSS22 với mức tin cậy 95%, lập bản
ANOVA, kiểm định Duncan để so sánh sự
khác biệt giữa trị số trung bình và từng
nghiệm thức.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chín mươi dịng vi khuẩn có 2 khả năng cố
định nito, hòa tan phosphate phân lập được từ
40 mẫu đất vùng rễ tiêu Sẻ trồng tại huyện
Chơn Thành và huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình
Phước. Trong đó, 47 dịng vốn được phân lập
từ mơi trường NBRIP và 43 dịng vốn được
phân lập từ mơi trường Burk’s. Hầu hết các
khuẩn lạc thu được có màu trắng đục hoặc
trắng trong, một số dòng xuất hiện sắc tố
vàng. Đa số các khuẩn lạc có dạng bìa
ngun, độ nổi mơ, đường kính khuẩn lạc
dao động từ 0,1 – 1 cm (Hình 1), tế bào hình
cầu và que ngắn (Hình 2), phần lớn đều
chuyển động.
Hình 1. Hình thái khuẩn lạc của một số dòng (isolate) vi khuẩn phân lập được
444
Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017
Kỷ yếu khoa học
Hình 2. “Kéo sợi KOH” và hình nhuộm Gram của một số dịng vi khuẩn
A: Gram dương; B: Gram âm
Bảng 1. Khả năng cố định nito (mg/L NH4+) qua các ngày của 43 dòng vi khuẩn
STT
Dòng vi
Lượng STT
Dòng vi
Lượng STT
Dòng vi
Lượng
+
+
khuẩn
NH4
khuẩn
NH4
khuẩn
NH4+
(mg/L)
(mg/L)
(mg/L)
1
LĐ1
0,20
16
LT5
1,61
31
CT1
2,96
2
LĐ5
4,76
17
LT2
1,89
32
TT7
1,01
3
LĐ10
3,61
18
LT4
1,34
33
TT6.1
1,60
4
LĐ6
3,66
19
TT4
0,90
34
TT2
4,43
5
CT3
0,18
20
TT1
0,58
35
ML43.1
1,02
6
CT2
0,15
21
CT7
0,33
36
ML57
0,56
7
CT8
0,29
22
ML6.3
0,64
37
ML13.1
0,75
8
LT6
1,77
23
CT4
0,19
38
ML17.2
0,58
9
LĐ8
4,51
24
TT5
2,00
39
ML43.2
2,21
10
LĐ11
5,20
25
LĐ7
2,72
40
ML6.1
0,46
11
CT10
2,51
26
CT9
0,61
41
ML42
0,91
12
CT5
1,25
27
LĐ9
0,24
42
ML41
1,62
13
LĐ4
1,30
28
LĐ3
1,55
43
LĐ2
2,85
14
LT3
1,65
29
TT3
1,19
44
ĐC
0,00
15
LT1
1,68
30
CT6
3,08
CV%
8,87
Kết quả Bảng 1 cho thấy, sau 8 ngày khảo sát phosphate của dòng đó càng cao (Hình 3).
43 dịng vi khuẩn đất vùng rễ đã được phân Lượng phosphate được hòa tan qua các ngày
lập và nuôi trên môi trường Burk’s lỏng của các dịng vi khuẩn đất vùng rễ ở cây tiêu
khơng nito đều có khả năng cố định nito. Sẻ phân lập được dao động từ 4,13 - 35,14
Lượng ammonium được tạo ra dao động từ mg/L. Năm dịng có khả năng hịa tan
0,15 mg/L đến 5,20 mg/L. Năm dịng có khả phosphate nổi trội nhất là LĐ8, ML42, LĐ3,
năng tổng hợp nito (tính bình qn 4 đợt đo) ML63, LĐ5 (19,94 - 35,14 mg/L). Theo kết
cao nhất là LĐ11, LĐ5, LĐ8, TT2, LĐ6.
quả nghiên cứu khả năng hòa tan phosphate
Sau 20 ngày khảo sát 43 dòng vi khuẩn đất của vi khuẩn đất vùng rễ ở một số cấy rau ăn
vùng rễ đã được phân lập và nuôi trên môi lá trồng tại Thành phố Cần Thơ (Trần Thị
trường NBRIP lỏng cho thấy tất cả các dòng Giang và ctv., 2014) lượng phosphate được
đều có khả năng hịa tan phosphate. Khả vi khuẩn hòa tan dao động từ 13,52 - 50,63
năng hòa tan phosphate của các dòng vi mg/L. Như vậy, hàm lượng phosphate hòa
khuẩn biểu hiện qua phản ứng màu. Những tan của 43 dòng vi khuẩn phân lập được nằm
mẫu có màu xanh càng đậm thì mức hấp thụ trong khoảng dao động trên.
quang càng lớn, chứng tỏ khả năng hòa tan
445
Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017
Kỷ yếu khoa học
Hình 3. Phản ứng màu đường chuẩn phosphate và một số dòng vi khuẩn ở ngày 5
Bảng 2. Lượng IAA tổng hợp được qua các ngày của 43 dòng
Dòng vi
Lượng STT
Dòng vi
Lượng STT
Dòng vi
Lượng
khuẩn
IAA
khuẩn
IAA
khuẩn
IAA
(mg/L)
(mg/L)
(mg/L)
1
LĐ1
2,69
16
LT5
2,52
31
CT1
3,04
2
LĐ5
2,54
17
LT2
3,22
32
TT7
2,48
3
LĐ10
2,64
18
LT4
3,07
33
TT6.1
3,13
4
LĐ6
2,66
19
TT4
2,64
34
TT2
2,16
5
CT3
2,48
20
TT1
2,39
35
ML43.1
2,63
6
CT2
2,85
21
CT7
2,39
36
ML57
2,05
7
CT8
2,55
22
ML6.3
2,28
37
ML13.1
2,49
8
LT6
2,61
23
CT4
2,29
38
ML17.2
2,11
9
LĐ8
2,50
24
TT5
2,37
39
ML43.2
2,74
10
LĐ11
2,47
25
LĐ7
2,15
40
ML6.1
2,19
11
CT10
2,09
26
CT9
2,53
41
ML42
2,14
12
CT5
2,44
27
LĐ9
2,78
42
ML41
1,78
13
LĐ4
2,67
28
LĐ3
2,55
43
LĐ2
1,98
14
LT3
2,47
29
TT3
2,51
44
ĐC
0,00
15
LT1
2,38
30
CT6
2,22
CV%
4,51
Sau 8 ngày khảo sát 43 dòng vi khuẩn đất điều hòa sinh trưởng IAA vi khuẩn đất vùng
vùng rễ đã được phân lập và nuôi trên môi rễ ở cây rau ăn lá trồng tại Thành phố Cần
trường Burk’s lỏng có bổ sung Tryptophan Thơ (Trần Thị Giang và ctv., 2014); trong
cho thấy tất cả các dịng đều có khả năng nghiên cứu này lượng IAA tổng hợp trung
tổng hợp chất điều hịa sinh trưởng IAA. Kết bình dao động từ 1,01 – 8,25 mg/L. Năm
quả bảng 2 cho thấy lượng IAA đo được dao dịng có khả năng tổng hợp IAA cao nhất là
động từ 1,77 - 3,22 mg/L. Kết quả định LT2, TT6, LT4, CT1, CT2. Mức IAA tổng
lượng được của các dòng vi khuẩn phân lập hợp trung bình cao nhất là 3,22 mg/L do
tại huyện Lộc Ninh và Chơn Thành nằm dòng LT2 tổng hợp được, thấp nhất là 1,77
trong khoảng giá trị hàm lượng IAA trung mg/L do dịng ML41 tổng hợp được.
bình của nghiên cứu khả năng tổng hợp chất
STT
Hình 4. Phản ứng màu đường chuẩn IAA và một số dòng vi khuẩn ở ngày 6
446
Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017
Căn cứ vào kết quả định lượng đã chọn ra 4
dịng nổi trội và có sự sai khác về hình thái
khuẩn lạc, tế bào là CT6, ML42, LĐ8, TT6.1
để gửi định danh bằng phương pháp MALDI.
Kết quả cho thấy dịng CT6 là lồi Bacillus
weihenstephanensis, dịng ML42 là Bacillus
megaterium, dòng LĐ8 là Bacillus cereus và
dòng TT6.1 là Staphylococcus warneri. Đây
là 4 dòng vi khuẩn đất vùng rễ đã được phân
lập từ một số cây trồng trên thế giới và có
nhiều tiềm năng thúc đẩy sự tăng trưởng của
thực vật.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Từ 40 mẫu đất vùng rễ của cây tiêu Sẻ trồng
tại huyện Chơn Thành và huyện Lộc Ninh,
tỉnh Bình Phước đã phân lập được 90 dịng vi
khuẩn đất vùng rễ có khả năng cố định nito,
hịa tan phosphate. Trong số 90 dịng thì có
43 dịng phát triển tốt trên cả 2 môi trường
Burk’s không đạm và NBRIP đặc đã được
phân tích khả năng cố định nito, hòa tan
phosphate và tổng hợp chất điều hòa sinh
trưởng IAA.
Lượng nito trung bình dao động trong
khoảng 0,15 – 5,20 mg/L. Lượng phosphate
trung bình hịa tan trong khoảng 4,13 – 35,14
mg/L. Về kết quả định lượng IAA, hàm
Kỷ yếu khoa học
lượng IAA trung bình của các dịng tổng hợp
được trong khoảng 1,77 – 3,22 mg/L.
Căn cứ vào kết quả định lượng đã chọn ra 4
dịng nổi trội và có sự sai khác về hình thái
khuẩn lạc, tế bào là CT6, ML42, LĐ8, TT6.1
để gửi định danh bằng phương pháp MALDI.
Kết quả cho thấy dịng CT6 là lồi Bacillus
weihenstephanensis, dịng ML42 là Bacillus
weihenstephanensis, dòng ML42 là Bacillus
megaterium, dòng LĐ8 là Bacillus cereus và
dòng TT6.1 là Staphylococcus warneri.
Đề xuất
Tiến hành định danh, khảo sát các yếu tố
kích thích sinh trưởng thực vật khác của các
dòng vi khuẩn đã được phân lập.
Sử dụng các dịng đã định danh, nghiên cứu
các hoạt tính khác và tiến hành thực nghiệm
các hoạt tính khác và tiến hành thực nghiệm
trên cây trồng với quy mơ phịng thí nghiệm
hoặc vườn tiêu để ứng dụng sản xuất phân
bón vi sinh.
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả xin chân thành gởi lời cảm ơn
đến thầy cơ cán bộ phịng thí nghiệm Vi sinh
đã hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng
tôi thực hiện nghiên cứu này. Xin cảm ơn các
tác giả có cơng trình nghiên cứu được sử
dụng trong nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GORDON, S.A. AND WEBER R.P., 1951. Colorimetric estimation of indoleacetic acid.
Plant Physiol. 26(1):192-195.
KLOEPPER J.W. AND M.N. SCHROTH. 1978. Plant growth promoting rhizobacteria on
radishes. In: Station de Pathologic Vegetal et Phytobacteriologic (eds.) Proceedings of
the 4th International Conference on Plant Pathogenic Bacteria. Angers, France. 2:879 –
882.
LUSTER, J., AND R. FINLAY. 2006. Handbook of Methods Used in Rhizosphere
Research. Birmensdorf. Swiss Federal Research Institute WSL:536.
MURPHY, J., RILEY, J.P., 1962. A modified single solution method for the determrnation
of phosphate in natural waters. Anal Chim Acta. 27:31-36.
SOLARZANO, L.,1969. Determination of ammonia in natural waters by the
phenolhypochlorite methods. Limnol Oceanogr. 14(5):799-801.
TRẦN LINH THƯỚC, NGUYỄN ĐỨC HOÀNG, PHAN THỊ PHƯỢNG TRANG VÀ
PHẠM THỊ HỒNG TƯƠI. 2001. Thực tập vi sinh vật học. Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Tp. Hồ Chí Minh.
447