Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Xây dựng chương trình giáo dục an toàn mạng internet cho học sinh trung học phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (597.46 KB, 4 trang )

Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017

Kỷ yếu khoa học

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC AN TOÀN MẠNG INTERNET CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Nguyễn Thị Thu Hằng*, Nguyễn Quỳnh Chi, Trần Ngọc Thúy Anh
Trường Đại học Giáo Dục - ĐHQGHN
*Tác giả liên lạc:
TÓM TẮT
Thanh thiếu niên, đặc biệt là học sinh trung học phổ thơng (HS THPT) ln là nhóm sử dụng
Internet ở mức độ cao. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã xây dựng một chương trình
giáo dục an tồn mạng Internet cho học sinh trung học phổ thơng (THPT). Thực trạng sử
dụng internet được khảo sát trên 540 học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 tại 2 trường THPT ở địa
bàn thành phố Hà Nội, với độ tuổi trung bình là 17. Kết quả cho thấy có 450 em sử dụng
Internet hàng ngày (chiếm 83.3%). Chương trình giáo dục an tồn mạng Internet với 3 kỹ
năng chính: bảo mật thơng tin – phịng ngừa lộ thơng tin cá nhân; kết bạn qua mạng và ứng
phó với bắt nạt trực tuyến được xây dựng và thực nghiệm. Sau khi học xong bài học này, nhận
thức của các em về an toàn mạng Internet đã được cải thiện đáng kể.
Từ khóa: An tồn mạng Internet, chương trình giáo dục, học sinh.
BUILDING INTERNET SECURITY EDUCATION PROGRAM
FOR HIGH SCHOOL STUDENTS
Nguyen Thi Thu Hang*, Nguyen Quynh Chi, Tran Ngoc Thuy Anh
University of Education – VNU Ha Noi City
*Corresponding authour:
ABSTRACT
Adolescents, especially high-school students are among the heaviest Internet users. In this
study, we developed a program of Internet safety education for high school students.
Participants included 540 students from grade 10 to grade 12 in 2 schools in Ha Noi, the mean
age was 17. The results showed that 450 students used Internet everyday (accounting for
83.3%). The Internet safety training included 3 main skills: information security- prevention


of information disclosure; online friend making and responding to cyberbullying was
established and experimented. After the training session, student's perceptions of internet
safety was improved.
Keywords: Internet safety, education program, student.
TỔNG QUAN
Ngày nay, Internet là phương tiện không thể
thiếu đối với cuộc sống hiện đại, giúp con
người dễ dàng tiếp cận những thông tin, ứng
dụng vô cùng phong phú, cập nhật hàng
ngày, hàng giờ từ khắp nơi trên thế giới. Số
người sử dụng Internet ngày càng tăng trên
phạm vi toàn cầu, trong đó cả Việt Nam.
Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt
Nam tính đến tháng 11 năm 2012 có
31304211 người sử dụng internet (chiếm
35.58 %) và Việt Nam là quốc gia đứng thứ
4/10 nước Đông Nam Á cớ số người sử dụng
Internet nhiều nhất (tính đến năm 2010)[1].
Nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn và cộng sự
(2014) về thực trạng sử dụng Facebook của
vị thành niên đã cho thấy, trong số 424 học

sinh trung học được khảo sát, có 97.6% đã và
đang sử dụng Facebook, có 31.4% em bắt
đầu sử dụng từ khi học THCS; 25.8% thì sử
dụng khi là học THPT và 25.1% thì sử dụng
được khoảng một năm trở lại đây.
Tuy nhiên, tồn tại song song với rất nhiều lợi
ích mà internet đem lại là những tác động
tiêu cực đối với thanh thiếu niên như bắt nạt

trực tuyến (Nguyễn Thị Nga, 2011; Trần Văn
Công và cộng sự, 2015), nghiện internet (Lê
Minh Công, 2013), nghiện game (Trần Thị
Minh Đức và cộng sự, 2013), hành vi sexting
(gửi/đăng/chia sẻ tin nhắn gợi tình, phim ảnh
khỏa thân, bán khỏa thân) (Trần Thành Nam,
Nguyễn Thị Minh Phú, 2016), v.v. Đó là
những vấn đề đã và đang trở thành nỗi lo
ngại rất lớn đối với các bậc phụ huynh, giáo

252


Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017

viên và là mối quan ngại chung của tồn xã
hội bởi nó để lại những hậu quả nghiêm
trọng cả về thể chất và tinh thần của học sinh
(Trần Thị Minh Đức và cộng sự, 2013;
Nguyễn Phương Hồng Ngọc và cộng sự,
2016, Đặng Hoàng Minh và cộng sự, 2013).
Đó là hồi chng gián tiếp cảnh báo với các
nhà quản lý cũng như thầy cô, cha mẹ các em
trong việc giáo dục các em về nhận thức,
cách sử dụng Internet an toàn, hợp lý, hiệu
quả.
Trên thế giới, một số chương trình giảng dạy
về an tồn mạng đã được xây dựng và triển
khai tại các trường học. Ví dụ như iSAFE
Internet Safety Program (i-SAFE Inc., 1998)

dành cho học sinh tất cả các cấp học, chương
trình Cyber Bullying: A Prevention
Curriculum (Kowalski & Agatston, 2008,
2009) dành cho học sinh các lớp 6-12,
chương trình Let’s Fight It Together: What
We All Can Do to Prevent Cyberbullying”
(Childnet, 2007) [10], Cyberbullying:
Prevention and Intervention to Protect Our
Children and Youth - một chương trình
phịng ngừa và can thiệp để bảo vệ trẻ em và
thanh thiếu niên trước bắt nạt trực tuyến, v.v.
Tại Việt Nam, Tài liệu giảng dạy về phịng
chống và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới
trong trường học dành cho giáo viên THPT
và THCS, nằm trong dự án Trường học an
toàn, thân thiện và bình đằng đã đề cập đến
một khía cạnh của nội dung giáo dục an toàn
mạng là bắt nạt qua mạng (bắt nạt trực
tuyến). Tuy nhiên, trong phạm vi tìm kiếm
của chúng tơi, hiện vẫn chưa có chương trình
giáo dục an tồn mạng chính thức được triển
khai tại các trường học.
Trước thực trạng các vấn đề tiêu cực mà học
sinh gặp phải như đã nêu ở trên, việc có một
chương trình như vậy là vơ cùng cần thiết.
Do đó, chúng tơi xây dựng và thử nghiệm
chương trình giáo dục an tồn mạng Internet,
đây là một kế hoạch tổng thể từ mục đích,
nội dung, phương pháp và cách thức kiểm tra
đánh giá về quá trình giảng dạy các quy tắc

sử dụng và tự bảo vệ mình khi truy cập
internet với mong muốn góp phần tăng
cường nhận thức và kỹ năng sử dụng mạng
Internet an tồn cho HS.
“Chương trình giáo dục an tồn mạng
Internet” là kế hoạch tổng thể từ mục đích,
nội dung, phương pháp và cách thức kiểm

Kỷ yếu khoa học

tra đánh giá về quá trình giảng dạy các quy
tắc sử dụng và tự bảo vệ mình khi truy cập
Internet”.
Bên cạnh rất nhiều lợi ích mang internet đem
lại như: cung cấp nhiều thơng tin, giúp con
người giải trí...Song nó cũng làm cho con
người nghiện và lạm dụng quá nhiều thời
gian ảnh hưởng đến cuộc sống vật chất và
tinh thần (Trần Minh Trí, Đỗ Minh
Hoàng,2011). Các kĩ năng sử dụng cần thiết
bao gồm bảo mật thông tin cá nhân, sử dụng
những phần mềm bảo vệ khỏi virut. Chỉ kết
bạn trực tuyến khi thực sự biết họ ngồi đời.
Khơng nên tìm cách truy cập vào những
trang web khơng an tồn, có nội dung bạo
lực, khiêu dâm, thô tục,…hoặc được cho là
không phù hợp với trẻ vị thành niên. Khi bị
bắt nạt trực tuyến, dù bằng hình thức nào,
hãy chia sẻ với bố mẹ hoặc với người mà các
em tin tưởng biết (Harrisonburg City Public

Schools, Educational Technology Plan 20102015, Approved by the HCPS School Board
6/15/2010.).Một số chương trình giáo dục sử
dụng mạng Internet: Chương trình đầu tiên
là “iSAFE Internet Safety Program (i-SAFE
Inc., 1998)” dịch ra là chương trình an tồn
mạng iSAFE, đây là một chương trình phịng
chống dựa trên những đăng kí cho sinh viên
trong các lớp K-12. “Cyber Bullying: A
Prevention Curriculum (Kowalski &
Agatston, 2008, 2009)”,một chương trình
giảng dạy phịng chống bắt nạt trực tuyến do
Kowalski và Agatston xây dựng năm 2008,
chương trình này giảng dạy 8 buổi dành cho
học sinh các lớp 6-12...v.v. Tài liệu giảng
dạy về phịng chống và ứng phó với bạo lực
trên cơ sở giới trong trường học dành cho
giáo viên THPT, nằm trong dự án Trường
học an toàn, thân thiện và bình đằng thuộc
bản quyền của Tổ chức Plan Quốc tế tại Việt
Nam ở phần I có đề cập đến những chủ đề
bạo lực trên cơ sở giới trong trường học. Và
một số bài dạy về an toàn Internet của tổ
chức Commom sense media (link web:
như:
Risky Online Relationships (Các mối quan
hệ trực tuyến rủi ro); Who Are You Online?
(Bạn là ai khi trực tuyến?).
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Chúng tôi nghiên cứu tài liệu, xây dựng bảng


253


Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017

hỏi sơ lược. Tiến hành xuống trường thêm
một buổi nữa để điều tra. Sau khi phát phiếu
hỏi, chúng tôi trực tiếp hướng dẫn HS trả lời
các câu hỏi ghi trên các phiếu và thu ngay
sau khi HS hồn thành. Chúng tơi tiến hành
xử lý thơng tin,dựa trên các số liệu đã thu
được từ bảng hỏi và hệ thống lý luận đã tìm
hiểu, chúng tơi xây dựng chương trình và tiến
hành thực nghiệm để dạy trên một lớp, đánh
giá hiệu quả của chương trình được thực hiện
trước và sau khi thực nghiệm bằng bảng hỏi.
Chúng tôi khảo sát 337 em HS trong tổng
1930 em của trường THPT Phan Đình Phùng
và 203 em là HS của trường THPT Phú
Xuyên A, được chia thành 3 khối, khối 10 là
200 em, khối 11 là 194 em và khối 12 là 146
em. Phương pháp nghiên cứu lý luận, điều tra
bảng hỏi, phương pháp thực nghiệm, phương
pháp thống kê toán học.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Để khảo sát thực trạng sử dụng mạng Internet
của học sinh THPT, chúng tôi sử dụng 13
câu hỏi khảo sát tần suất, địa điểm sử dụng
mạng Internet, cách kết bạn trực tuyến và

đánh giá về Internet của các em học sinh.
Về tần suất sử dụng Internet, kết quả cho
thấy trong tổng số 540 học sinh, có 450 em
truy cập hàng ngày (chiếm 83.3%); có 63 em
sử dụng nhiều hơn một lần mỗi tuần (chiếm
11.7%); có 11 em sử dụng mỗi tuần một lần
(chiếm 2%); có 3 em sử dụng một tháng một
lần. Trong khi đó, số lượng học sinh không
bao giờ sử dụng Internet là 3 em (chiếm
0.6%) và sử dụng ít hơn một tháng một lần là
10 em (chiếm 1.9%). Như vậy, đa số học
sinh đều sử dụng Internet hàng ngày.
Kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng
Internet của HS THPT cho thấy các em có
mức độ, tần suất sử dụng Internet rất lớn. So
sánh với số liệu thống kê đã được công bố
trong các nghiên cứu trước khảo sát tại 25
quốc gia châu Âu thì số liệu thu được trong
nghiên cứu có nét tương đồng.Trong nghiên
cứu này, mặc dù chưa thống kê được một
cách đầy đủ các hành vi nguy cơ khi sử dụng
Internet của HS THPT do những giới hạn
trong việc xây dựng câu hỏi đảm bảo không
quá nhạy cảm, nhưng chúng tôi cũng đã quy
về được hai nhóm nhân tố là hành vi nguy cơ
gây nguy hiểm cho mình và hành vi nguy cơ
gây nguy hiểm cho người khác, một số mô tả

Kỷ yếu khoa học


về hành vi an tồn vẫn khơng được các em
lựa chọn nhiều. Như vậy, mức độ nguy hiểm
trong nhận thức của các em vẫn còn cao.Khi
khảo sát nhận thức của các em về mức độ cần
thiết của việc giáo dục an tồn mạng Internet
cho HS THPT, có 45.7% đánh giá rất cần
thiết. Và đa số khách thể cũng lựa chọn Bảo
mật thông tin là kỹ năng hàng đầu phải học
để sử dụng Internet an toàn.Từ những khảo
sát về thực trạng sử dụng Internet, thực trạng
hành vi nguy cơ cũng như những mong muốn
của các em HS về nội dung giáo dục an tồn
mạng, chúng tơi đã xây dựng và tiến hành
thực nghiệm bài dạy giáo dục an toàn mạng
Internet cho các em. Chúng tôi tiến hành thực
nghiệm dạy thử bài dạy trên một lớp 10 gồm
45 học sinh lớp thực nghiệm và 44 học sinh
lớp đối chứng trường THPT Phú Xuyên A.
Bài thực nghiệm gồm 2 phần chính: Phần 1
tìm hiểu về thực trạng sử dụng Internet và cá
hành vi nguy hiểm bị cấm khi sử dụng
Internet và phần 2 là tìm hiểu về các kỹ năng
khi sử dụng Internet gồm: kỹ năng bảo mật
thông tin cá nhân và phịng ngừa lộ thơng tin
cá nhân; kỹ năng kết bạn trực tuyến; kỹ năng
chống bắt nạt trực tuyến và được giảng dạy
trong 45 phút bằng các phương pháp dạy học
tích cực. Bài thực nghiệm chúng tôi dạy trên
1 lớp và có 1 lớp đối chứng. Trước khi dạy,
chúng tơi có phát một phiếu đánh giá để kiểm

tra nhận thức của HS về các hành vi nguy
hiểm khi sử dụng và các cách ứng phó khi
gặp các tình huống tiêu cực. Sau khi dạy thực
nghiệm xong cả 2 lớp đều được phát 1 bài
kiểm tra về an toàn khi sử dụng mạng
Internet để kiếm tra lại về nhận thức của 2
lớp thay đổi như thế nào?Đối với lớp được
chọn để thực nghiệm, sau khi dạy xong bài
thực nghiệm ngoài phát phiếu kiểm tra về
nhận thức cách sử dụng mạng Internet thì
chúng tơi cịn phát phiếu đánh giá phản hồi ý
kiến của HS về hiệu quả của bài dạy.Bảng
hỏi đánh giá hiệu quả thực nghiệm là sự kết
hợp một phần của bảng hỏi khảo sát về
Internet chung và nội dung bài dạy.Tuy được
các em HS tham gia thực nghiệm đánh giá
khá tốt về nội dung, hình thức, kết cấu bài
dạy, chúng tơi nhận thấy bài dạy vẫn cần tiếp
tục bổ sung, chỉnh sửa, xây dựng thêm.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận

254


Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIX năm 2017

Qua xử lý số liệu thu được từ khảo sát, chúng
tơi có cơ sở thấy được thực trạng sử dụng
Internet, thực trạng hành vi nguy cơ và cách

xử lí của các em HS THPT khi gặp phải
những tình huống tiêu cực và nhận thức của
HS về giáo dục an tồn mạng Internet. Từ đó
giúp chúng tơi trả lời những câu hỏi nghiên
cứu đã đặt ra. Thứ nhất, chúng tôi xác định
đa số HS THPT tham gia vào nghiên cứu đều
sử dụng Internet với tần suất cao, mức độ sử
dụng các ứng dụng lớn với nhiều mục đích
khác nhau. Thứ hai, bên cạnh những mặt tích
cực, các em vẫn còn đối mặt với nhiều hành
vi nguy cơ. Trước những tình huống nguy cơ,
các em vẫn có lựa chọn hành vi nguy cơ
tương đối nhiều. Mức độ an toàn khi sử dụng
Internet của các em qua tự đánh giá cũng
chưa thực sự cao. Thứ ba, HS đều đã có
những nhận thức nhất định về giáo dục an
toàn mạng và tầm quan trọng của giáo dục an
toàn mạng, thể hiện mong muốn của mình về
hình thức, nội dung và đối tượng tham gia
vào việc giáo dục an toàn mạng Internet. Đó
là cơ sở để xây dựng những chương trình
giáo dục an toàn mạng phù hợp.Thứ tư, từ
các nhu cầu của các em HS hai trường THPT
Phan Đình Phùng và THPT Phú Xun A,
chúng tơi đã xây dựng nên chương trình giáo
dục an toàn mạng cho HS THPT và được
thực nghiệm trên các bạn HS lớp 10A6 của
trường THPT Phú Xuyên A.
Khuyến nghị
Về phía nhà trường và giáo viên: Tổ chức

những hoạt động ngoài giờ lên lớp để giáo
dục HS cách sử dụng mạng Internet, các
phương tiện thiết bị điện tử lành mạnh, an

Kỷ yếu khoa học

tồn, đúng mục đích.Đưa ra những quy định
cụ thể về việc sử dụng mạng Internet.Đưa
những bài dạy giáo dục an toàn mạng
Internet cho HS vào giảng dạy rộng rãi.
Về phía gia đình: Cha mẹ nên tăng cường sự
giám sát, quan tâm của mình với việc sử
dụng Internet của con cái, đồng thời giáo dục
con về cách sử dụng Internet một cách lành
mạnh. Quan tâm tới việc gặp gỡ, làm quen
bạn bè của con, nhất là khi những mối quan
hệ bạn bè đó khơng xuất phát từ những quen
biết ngồi đời thực.
Về phía HS: Ln ln tự bổ túc nhận thức,
kỹ năng và hành vi ứng xử của mình trong
đời thực lẫn khi trực tuyến.Tham gia vào các
hoạt động, khóa học, chương trình,…hoặc tự
mình tìm hiểu về những cách sử dụng
Internet an toàn, hiệu quả.Trước bất kỳ tình
huống bất ngờ nào gặp phải trên mạng xã
hội, cần giữ bình tĩnh, tham khảo ý kiến của
bạn bè, người lớn để có cách giải quyết tốt
nhất.
Về chương trình giáo dục an toàn mạng
internet: Cần được bổ sung, xây dự thêm

những nhóm lỹ năng an tồn sử dụng mạng
internet, và những nhóm kỹ năng này cần
được đổi mới và bổ sung liên tục đáp ứng
nhu cầu phát triển của công nghệ thông tin.
Bài dạy cần tổ chức thêm nhiều hình thức
hoạt động mới mẻ, hấp dẫn hơn. Mở rộng
quy mô cả về mẫu khách thể tham gia lẫn
thời lượng tổ chức chương trình. Và đặc biệt
là cần có sự kết hợp chắc chẽ giữa tác giả
chương trình, nhà trường và GV đảm bảo
chương trình được đưa vào ứng dụng rộng rãi
và có hiệu quả hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
THS. LÊ MINH CƠNG (2014), Tình trạng nghiện Internet ở học sinh Trung học cơ sở
(THCS) tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ 3 về
Tâm lý trường học tại Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, NXB Đại học Sư phạm TP.
HCM.
TRẦN HỮU HOAN (2011), Phát triển chương trình giáo dục (Tập bài giảng dành cho học
viên khóa đào tạo chủ yếu ngành quản lý giáo dục), Đại học Quốc Gia Hà Nội.
ĐẶNG HOÀNG MINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG, (2013), Tương quan giữa mức độ sử
dụng Internet và các vấn đề sức khỏe tâm thần của HS trung học cơ sở, Nghiên cứu
Giáo dục, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 29, Số 2, tr. 34‐42.
HUỲNH VĂN SƠN, NGUYỄN HUỲNH NGỌC TRÂM (2014), Thực trạng việc sử dụng
Facebook của thanh thiếu niên 15-18 tuổi tại thành phố Hồ Chí, Tạp chí Khoa học Đại
học Sư phạm TP.HCM số 63.
TRẦN MINH TRÍ, ĐỖ MINH HỒNG (2011), Thực trạng sử dụng Internet và những tác
động của Internet đến sinh viên trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM.
255




×