Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
Kỷ yếu khoa học
ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NHÓM NGƯỜI HOA PHÚC
KIẾN TẠI THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Nguyễn Thị Hòa*
Trường Đại học Thủ Dầu Một
*Tác giả liên lạc:
TĨM TẮT
Bài viết tìm hiểu về năng lực ngơn ngữ và tình hình sử dụng ngơn ngữ của nhóm
người Hoa Phúc Kiến tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Kết quả điều
tra bằng phiếu kết hợp với quan sát và phỏng vấn sâu với trên 118 cộng tác viên
người Hoa Phúc Kiến hiện sinh sống tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương cho thấy: 87.2% người Hoa đểu nói thạo tiếng Việt vì họ sống ở Việt Nam
đã lâu đời. Do đó, phần lớn người Hoa Phúc Kiến tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ
đẻ chiếm tỷ lệ rất cao do họ đã có sự chuyển đổi ngơn ngữ mà cụ thể là chuyển
từ tiếng Hoa phương ngữ sang tiếng Việt.
Từ khóa: Năng lực ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ, người Hoa Phúc Kiến, Thủ Dầu
Một.
CHARACTERISTICS OF LANGUAGE USE IN THE HOKKIEN
CHINESE GROUP IN THU DAU MOT CITY, BINH DUONG
PROVINCE
Nguyen Thi Hoa*
Thu Dau Mot University
*Corresponding Author:
This article reports the results of language competence and language use of the
Hokkien Chinese group in Thu Dau Mot city, Binh Duong province. The survey
was carried out by using observation and questionnaire with 118 Hokkien
Chinese respondents in Thu Dau Mot city, Binh Duong province. And the results
of the study reveal that 87.2% Hokkien Chinese respondents use Vietnamese
fluently because they have lived in Vietnam for a long time. For this reason, the
majority of the Hokkien Chinese group self-recognizing Vietnamese as their
mother tongues is relatively high as they have switched the language, specifically
in this case, from Chinese dialect to Vietnamese.
Keywords: Language competence, language use, Hokkien Chinese group, Thu
Dau Mot.
TỔNG QUAN
Bình Dương cũng như các tỉnh, thành
phố khác ở Việt Nam, là một tỉnh đa
dân tộc và đa ngôn ngữ. Trên địa bàn
tỉnh Bình Dương hiện có 54 dân tộc
sinh sống, ngoài dân tộc Kinh (Việt)
chiếm đa số (1.421.233 người, chiếm
95.92% dân số); các dân tộc thiểu số có
dân số trên 3 nghìn người gồm: dân tộc
Hoa có 18.783 người, chiếm 1.26%;
dân tộc Khmer: 15.435 người (chiếm
1.04%); dân tộc Mường: 10.227 người
(chiếm 0.69%); dân tộc Tày: 5.443
người, chiếm 0.36; dân tộc Thái: 3.869
người, chiếm 0.26%; dân tộc Nùng:
3.050 người, chiếm 0.20%. Cộng đồng
người Hoa sinh sống chủ yếu tại thành
phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã
Thuận An và rải rác ở một số huyện thị
khác. Theo số liệu thống kê của Hội
695
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
tương tế người Hoa và số liệu thống kê
của UBND thành phố Thủ Dầu Một
năm 2014, người Hoa hiện có 1.229 hộ
(khoảng 6.000 người) gồm bốn nhóm
địa phương khác nhau: nhóm Phúc
Kiến (500 hộ, khoảng 3.000 người)
nhóm Quảng Đơng (270 hộ, 1.500
người), nhóm Hẹ (cịn gọi là Hakka,
Sùng Chính, Khách Gia): 75 hộ
(khoảng 400 người). Số dân tuy ít
nhưng người Hoa sinh sống khắp các
phường trong thành phố, cộng cư cùng
với dân tộc Kinh (Việt) từ bao đời nay.
Sự giao lưu và tiếp xúc văn hóa, ngơn
ngữ giữa dân tộc Kinh và Hoa ở đây đã
tạo nên những giao thoa về văn hóa và
ngơn ngữ. Hiện tượng song/đa ngữ và
đa văn hóa trong cùng một dân tộc tại
cùng một địa phương vẫn còn đang tồn
tại trong hiện thực sinh động hiện nay.
Như chúng ta đã biết, khi có nhiều dân
tộc khác nhau cùng chung sống trên
một địa bàn thì việc tiếp xúc, quan hệ
với nhau là điều tất yếu. Vấn đề đặt ra
là, để quan hệ, tiếp xúc với nhau, cư
dân các dân tộc khác nhau sẽ sử dụng
tiếng mẹ đẻ và các ngôn ngữ khác như
thế nào?
Trong lời nói đầu của cuốn “Language
in contact” của U. Weinreich, A.
Martinet đã nói “Bây giờ đã đến lúc
chúng ta phải nhấn mạnh rằng một
cộng đồng ngôn ngữ không bao giờ
đồng nhất và khép kín”. Thật vậy,
trong q trình hội nhập, việc di cư của
các tộc người đã làm thay đổi diện mạo
chung về văn hóa, ngơn ngữ của dân
tộc ấy.
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ góp phần
nhỏ vào việc nghiên cứu hiện tượng đa
ngữ xã hội từ góc nhìn của ngôn ngữ
học xã hội như cảnh huống ngôn ngữ,
vấn đề giao tiếp trong xã hội đa ngữ, sự
phân bố chức năng giữa một ngôn ngữ
cao như tiếng Việt, ngôn ngữ giao tiếp
chung với ngôn ngữ thấp như ngôn ngữ
dân tộc thiểu số tiếng Hoa.
Kỷ yếu khoa học
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện trên 118
người Hoa Phúc Kiến sinh sống tại
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương. Tư liệu thu được là 118 phiếu
thu thập những thông số về lượng (dữ
liệu định lượng). Nghiên cứu kết hợp
giữa thu thập dữ liệu định lượng và
định tính. Với đặc thù của một nghiên
cứu thống kê mô tả, nên dữ liệu định
lượng là dữ liệu quan trọng nhất để xác
định tỷ lệ % người Hoa Phúc Kiến đạt
các mức độ khác nhau về năng lực
ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Phúc Kiến,
tiếng phổ thơng Trung Quốc). Khi tìm
hiểu về thực trạng sử dụng ngơn ngữ
của nhóm người Hoa Phúc Kiến trong
hoạt động giao tiếp và những nhân tố
ảnh hưởng đến năng lực ngôn ngữ và
tình hình sử dụng ngơn ngữ trong giao
tiếp của người Hoa Phúc Kiến cũng
được làm rõ thêm bằng các dữ liệu định
tính.
Mục đích của nghiên cứu này là đánh
giá năng lực ngôn ngữ (tiếng Việt,
tiếng Hoa phương ngữ, tiếng phổ thơng
Trung Quốc) của nhóm người Hoa
Phúc Kiến trên địa bàn thành phố Thủ
Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay
một cách chính xác và khách quan, vì
thế chúng tơi thiết kế bảng hỏi để thu
thập dữ liệu chính cho nghiên cứu này.
Nghiên cứu này cũng chú trọng đến
phương pháp quan sát các lĩnh vực
giao tiếp và phỏng vấn sâu để tìm hiểu
thái độ ngơn ngữ của nhóm người Hoa
Phúc Kiến đối với tiếng Việt, tiếng mẹ
đẻ (tiếng Phúc Kiến) của họ.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Về tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ
Tiếng mẹ đẻ là một vấn đề vô cùng
phức tạp. Để xác định được tiếng mẹ
đẻ của một người đa ngữ là khơng hề
đơn giản. Bởi xoay quanh nó là một
loạt các nhân tố xã hội khác, từ vấn đề
kết hôn cùng dân tộc, khác dân tộc, nơi
696
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
sinh, nơi ở,… Đây là một nội dung vô
cùng phức tạp nếu đi sâu vào nghiên
cứu. Chúng tôi đã tiến hành điều tra từ
nhiều khía cạnh khác nhau như giới
tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề
nghiệp của nhóm người Hoa Phúc
Kiến tại thành phố Thủ Dầu Một, với
kết quả là 41% tự nhận tiếng Việt là
tiếng mẹ đẻ, 56% tự nhận tiếng Hoa
phương ngữ là tiếng mẹ đẻ và 3% số
người được hỏi tự nhận tiếng phổ
thông Trung Quốc là tiếng mẹ đẻ của
họ.
Xét theo góc độ giới tính: Nam giới
người Hoa Phúc Kiến tự nhận tiếng
Việt là tiếng mẹ đẻ là 26/67 người
(chiếm 38.8%), trong khi đó số lượng
nữ giới người Hoa tự nhận tiếng Việt
là tiếng mẹ đẻ là 22/51 người, (chiếm
43.1%). Khi nhận tiếng Việt là tiếng
mẹ đẻ, những người có trình độ đại học
tự nhận tiếng mẹ đẻ cao nhất: 14/48
người, chiếm (29.1%); THCS là 13/48
người, chiếm (27,0%); THPT là
11/248 người, chiếm (22.9%); Tiểu
học là 9/48 người, chiếm (18.7%).
Những người mù chữ tự nhận tiếng
Việt là tiếng mẹ đẻ của mình (1 người,
chiếm 2.08%) thấp nhất. Những người
tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ cũng
có sự khác nhau giữa các độ tuổi. Độ
tuổi dưới 30 là 17/21 người (chiếm
80.9 %), chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến
là độ tuổi từ 31- 50 là 21/32 người
(chiếm 65.6 %) và độ tuổi trên 50 là
10/65 người (chiếm 15.3%), chiếm tỷ
lệ thấp nhất. Những người tự nhận
tiếng phổ thông Trung Quốc là tiếng
mẹ đẻ cũng có sự khác nhau nhưng
chiếm tỷ lệ rất thấp so với những người
tự nhận tiếng Việt và tiếng Hoa
phương ngữ là tiếng mẹ đẻ. Cụ thể: độ
tuổi dưới 30 tuổi là 1/4 người (chiếm
25%), độ tuổi từ 30-50 tuổi là 1/4
người (chiếm 25%), cao nhất là độ tuổi
trên 50 (chiếm 40%).
Năng lực ngôn ngữ của người Hoa
Kỷ yếu khoa học
tại địa bàn khảo sát
Năng lực ngôn ngữ ở đây đươc hiểu là
khả năng sử dụng ngôn ngữ của người
Hoa ở các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
theo các mức độ sau: (1) Khơng biết gì,
(2) Khả năng nghe - hiểu khơng nói
được, (3) Khả năng nghe hiểu - nói
được nhưng gặp khó khăn, (4) Khả
năng đọc hiểu, (5) Khả năng nghe nói
được và (6) Thành thạo các kỹ năng.
Khi tiến hành điều tra về năng lực ngôn
ngữ, chúng tôi cũng điều tra theo góc
độ giới tính, tuổi tác, học vấn, nghề
nghiệp.
Từ góc độ giới tính
Về năng lực tiếng Hoa phương ngữ:
Trong tổng số 118 người được khảo
sát, có 3 người có thể giao tiếp được
bằng tiếng Hoa phương ngữ nhưng gặp
khó khăn, trong đó tỉ lệ nam giới trả lời
giao tiếp được nhưng gặp khó khăn cao
gần gấp đơi nữ giói. Cụ thể: nam 2/3
người, chiếm 66.6%; nữ giới là 1/3,
chiếm 33.3%. Số người có thể giao tiếp
được với mọi người bằng tiếng Hoa
phương ngữ là 25 người: trong đó nam
là 7 người (chiếm 28%), nữ là 18 người
(chiếm 72%). Đáng chú ý là tỷ lệ nam
giới trả lời thành thạo kỹ năng tiếng
Hoa phương ngữ cao gần gấp đôi nữ
giới. Cụ thể là nam giới: 58 người
(chiếm 64.4%); nữ giới: 5 người
(chiếm 34.4%). Số liệu khảo sát cho
thấy, người Hoa Phúc Kiến thành thạo
các kĩ năng nghe - nói - đọc tiếng Hoa
rất cao (90/118 người, chiếm 76.2%).
Về năng lực tiếng Việt: 100% người
Hoa Phúc Kiến ở thành phố Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương đều biết tiếng
Việt ở các mức độ khác nhau. Trong
đó, khả năng thành thạo mọi kĩ năng
tiếng Việt của người Hoa là rất cao
(99/118 người, chiếm 83,9%), mức độ
thành thạo mọi kĩ năng tiếng Việt của
nam cao hơn nữ do nam giới được gia
đình chú trọng đến việc học hành hơn
nữ giới và thường xuyên tiếp xúc ngoài
697
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
xã hội, theo đó khả năng nói thạo tiếng
Việt của nam giới cao hơn nữ giới. Chỉ
có 19/118 người, nghe hiểu nhưng
khơng nói được tiếng Việt là những
người lớn tuổi (trên 80) sinh tại Việt
Nam nhưng ít tiếp xúc với người Kinh
và do trước đây họ không được học
tiếng Việt qua trường lớp chính quy mà
chỉ học tiếng tiếng Việt qua môi trường
giao tiếp tự nhiên. Tỷ lệ nữ giới nghe
hiểu nhưng khơng nói được tiếng Việt
cũng cao hơn nam giới (nữ: 10/118
người, chiếm 19.9% > nam: 9/118
người, chiếm 13.4%).
Từ góc độ tuổi tác
Số người Hoa được khảo sát chia thành
3 nhóm tuổi: <= 30; 31- 50; >50.
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, là
phương tiện giao tiếp chung giữa các
tộc người trên lãnh thổ Việt Nam nên
tiếng Việt có ảnh hưởng rất lớn đến
tiếng nói của các tộc người khác. Cho
nên bất kì tộc người nào ở Việt Nam họ
cũng có nhiệm vụ phải học tiếng Việt
để giao tiếp với cộng đồng người Việt
xung quanh họ, tộc người Hoa cũng
không ngoại lệ. Mặc dù, những người
Hoa lớn tuổi họ khơng qua trường lớp
chính quy vì trong q trình tiếp xúc
thường xun với người Việt nên họ
cũng nói được tiếng Việt. Kết quả điều
tra cho thấy, 100% nói được tiếng Việt,
trong đó, tỷ lệ người Hoa Phúc Kiến ở
lứa tuổi trên 50 thành thạo tiếng Việt
chiếm tỷ lệ khá cao (54.2%), cịn lứa
tuổi trung niên trở xuống thì ai cũng
nói thạo tiếng Việt vì được giáo dục bài
bản trong nhà trường.
Theo trình độ học vấn
Về năng lực tiếng Hoa phương ngữ:
những người mù chữ là những người
chỉ biết 2 kĩ năng cơ bản là nghe và nói
để giao tiếp hàng ngày. Họ chủ yếu
giao tiếp với người trong gia đình và
người cùng dân tộc. Khi xét theo góc
độ trình độ học vấn ta có thể thấy được,
trình độ học vấn ảnh hưởng rất lớn đến
Kỷ yếu khoa học
việc tiếp thu ngôn ngữ. Số liệu thống
kê cho thấy, những người có trình độ
học vấn càng cao thì khả năng thành
thạo tiếng Hoa càng cao. Bởi để có thể
học tốt một ngôn ngữ khác, ta cần
thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình. Cụ
thể là người có trình độ cao đẳng - đại
học: 19/19 người (chiếm 100%) thành
thạo mọi kỹ năng; THPT: 13/16 người,
chiếm 81.2%; THCS: 29/36 người,
chiếm 80.5%; Tiểu học: 27/38 người,
chiếm 71.05%; Mù chữ là 2/9 người.
Như đã nói ở trên, người mù chữ
thường chỉ biết 2 kỹ năng là nghe và
nói, nên 5/5 người được hỏi đều trả lời
mình chỉ biết 2 kỹ năng nghe - nói
tiếng Hoa phương ngữ. Những người
còn lại chỉ biết 2 kỹ năng nghe - nói
cũng thấy có ở những người có trình độ
học vấn khác nhau.
Năng lực tiếng Việt: Người Hoa đã
sinh sống ở Việt Nam từ nhiều đời nên
việc học và sử dụng tốt tiếng Việt là rất
quan trọng đối với người Hoa, thậm chí
một số người cịn tự nhận tiếng Việt là
tiếng mẹ đẻ của họ. Vì vậy, theo khảo
sát của tôi, năng lực tiếng Việt của
người Hoa Phúc Kiến khá cao và
những người có trình độ học vấn càng
cao thì khả năng thành thạo tiếng Việt
càng cao.
Theo số liệu thống kê thì đa số là
khơng biết tiếng phổ thơng Trung
Quốc. Số người trả lời nghe hiểu
nhưng khơng nói được là 28/118 người
chiếm 23.75%, chỉ có 5/118 người
chiếm 4.2% trả lời thành thạo mọi kỹ
năng.
Từ góc độ nghề nghiệp
Năng lực tiếng Việt: 100% số cán bộ,
công nhân viên và học sinh, sinh viên
được điều tra thành thạo mọi kĩ năng
tiếng Việt. Đây là hai đối tượng được
thụ hưởng tiếng Việt đầy đủ nhất. Như
vậy có thể nói rằng, mơi trường làm
việc, nghề nghiệp có tác động rất lớn
đối với người Hoa khi sử dụng tiếng
698
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
Việt. Ngồi nhà trường giữ vai trị chủ
đạo trong việc giáo dục tiếng Việt, thì
khi làm việc, dù khơng được đào tạo
bài bản người Hoa vẫn có thể tích lũy
vốn liếng tiếng Việt cho mình nhờ giao
tiếp thường xuyên với người Việt.
Năng lực tiếng Hoa: những người hành
nghề buôn bán thành thạo tiếng Hoa
phương ngữ cao hơn những người làm
các ngành nghề khác. Cụ thể: bn bán
có 25/34 người, chiếm 73.5%; công
nhân là 23/26 người, chiếm 88.4%;
nghề khác là 16/26 người, chiếm
61.5%. Người Hoa Phúc Kiến ở Thủ
Dầu Một có ý thức rất cao về tiếng mẹ
đẻ của mình. Ngay từ nhỏ họ đã đầu tư
phát triển giáo dục tiếng dân tộc cho
con em mình. Những người có thể giao
tiếp tốt thường là những người buôn
bán, nội trợ và nghề khác, trong đó
bn bán là 8/25 người (chiếm 32%),
nội trợ 4/25 người (chiếm 16%), và
nghề khác là 9/25 người (chiếm 36%).
Đặc điểm giao tiếp ngôn ngữ trong
gia đình người Hoa Phúc Kiến
Ngơn ngữ giao tiếp trong gia đình: Do
tình trạng hơn nhân trong các gia đình
người Hoa Phúc Kiến ở thành phố Thủ
Dầu Một, tỉnh Bình Dương cũng đa
dạng. Họ kết hơn với người cùng dân
tộc mình, kết hơn với người Việt, thậm
chí kết hơn với người nước ngồi. Kể
cả khi kết hơn với người cùng dân tộc
Hoa cũng có sự khác nhau. Ví dụ người
Phúc Kiến kết hơn với người Triều
Châu, người Hải Nam,…Vì vậy khi xét
về tình hình sử dụng ngơn ngữ để giao
tiếp trong gia đình người người Hoa
Phúc Kiến cũng rất phức tạp. Họ có thể
sử dụng cả tiếng Hán phổ thơng, tiếng
Hoa phương ngữ và tiếng Việt để giao
tiếp trong gia đình. Con cái trong gia
đình có thể vừa nói chuyện với cha
bằng tiếng Hoa, với mẹ bằng tiếng
Việt, hoặc với ông bà bằng tiếng Hoa,
với cha mẹ bằng tiếng Việt, đây là một
vấn đề hết sức bình thường trong các
Kỷ yếu khoa học
gia đình người Hoa.
Dựa trên năng lực ngơn ngữ của mỗi cá
nhân người Hoa mà chúng tơi đã thống
kê, nhìn chung, người Hoa Phúc Kiến
ở TDM tỉnh Bình Dương lựa chọn
tiếng Hoa hay tiếng Việt để giao tiếp
với người thân trong gia đình cũng phụ
thuộc vào đặc điểm về giới tính, tuổi
tác, trình độ học vấn và nghề nghiệp
của họ.
Theo góc độ giới tính: Trong tổng số
người được khảo sát là 118 người, theo
kết quả thống kê thì để giao tiếp với
ông bà đa số đều dùng tiếng Hoa
phương ngữ. Cụ thể, ở nam giới là
51/89 người, chiếm 57.3%; nữ giới là
37/89 người, chiếm 41.5%. Như vậy,
theo góc độ giới tính, nam giới và nữ
giới dùng tiếng Hoa giao tiếp với ông
bà là tương đương nhau, bởi tỷ lệ
chênh lệch không quá nhiều. Nam giới
dùng tiếng Việt để giao tiếp với ông bà
là 16/27 người, chiếm 59.2%, nữ giới
là 11/27 người, chiếm 40.7%. Khi giao
tiếp với bố mẹ, nam giới dùng tiếng
Hoa giao tiếp là 42/76 người, chiếm
55.2%; nữ là 33/76 người, chiếm
43.4%.
Nhìn chung, tỷ lệ người sử dụng tiếng
Hoa giao tiếp với ông bà, cha mẹ là rất
cao. Trong gia đình, họ có xu hướng
dùng tiếng Hoa để giao tiếp với nhau
hơn là tiếng Việt, đây cũng là một cách
dùng để duy trì văn hóa, ngơn ngữ của
gia đình. Tỷ lệ cha mẹ dùng tiếng Hoa
để giao tiếp với con trai và con gái
cũng tương đương nhau, cụ thể: nam
giới là 62/105 người, chiếm 59%, nữ
giới là 42/105 người, chiếm 40%.
Theo góc độ tuổi tác: Tiếng để nói với
ơng bà: Độ tuổi dưới 30 để nói chuyện
với ơng bà mà sử dụng tiếng dân tộc là
rất ít chỉ có 6/89 người chiếm 6.7%, độ
tuổi từ 31-50 là 25/89 người chiếm
28% và trên 50 tuổi là 58/89 người
chiếm 65.1%. Có xu hướng người trẻ
tuổi ít trao đổi với ơng bà bằng tiếng
699
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
dân tộc, chỉ có những người lớn tuổi,
thế hệ gần nhau mới sử dụng tiếng dân
tộc trong giao tiếp. Tiếng để nói với
cha mẹ: những người ở độ tuổi dưới 30
chỉ có 5/79 người chiếm 6.3%, tuổi từ
31-50 thì có sự thay đổi đáng kể là
20/79 người và chiếm 25.3%. Tỷ lệ cao
nhất là độ tuổi trên 50 là 50/79 người
chiếm 63.2%. Sử dụng tiếng Việt để
nói chuyện với bố mẹ cũng có khá
nhiều song giữa các độ tuổi thì chênh
lệch khơng đáng kể. Cụ thể dưới 30 là
15/38 người chiếm 39.4%; từ 31-50 là
12/38 người, chiếm 31.5%; trên 50 tuổi
là 11/38 người, chiếm 28.9%. Gần như
khơng có trường hợp sử dụng tiếng
Hoa phương ngữ để nói với ông bà và
cha mẹ. Qua đó cho thấy rằng những
người lớn tuổi họ ý thức được việc sử
dụng tiếng Hoa trong gia đình là một
điều vơ cùng cần thiết, nên dù khơng
thể hồn tồn sử dụng bằng tiếng Hoa,
phải chêm xen tiếng Việt nhưng họ vẫn
muốn dùng tiếng Hoa để nói chuyện
với cha mẹ mình.
Tiếng để nói với con: Để nói với con
cháu có 4 người sử dựng tiếng Hoa
phương ngữ; độ tuổi dưới 50 tuổi là 1
người, chiếm 25%. Khơng có ai dùng
tiếng Phổ thơng Trung Quốc để nói với
con cháu. Đa số là dùng Tiếng Việt để
giao tiếp. Cụ thể dưới 30 tuổi có
16/105 người, chiếm 15.2%; từ 31- 50
tuổi có 29/105 người, chiếm 27.6% và
trên 50 tuổi có 60/105 người, chiếm
57.1%. Đây là lớp những người cịn trẻ
tuổi song họ rất ít khi sử dụng tiếng
Hoa để nói chuyện với con cái mà thay
vào đó là tiếng Việt. Đến khi đi học, ra
ngoài xã hội, con họ sẽ sử dụng tiếng
Việt nhiều hơn và dần dần sẽ hạn chế
khả năng tiếng Hoa phương ngữ. Cha
mẹ sử dụng tiếng Hoa phương ngữ để
giao tiếp với con cái ngày càng ít đi.
Theo góc độ trình độ học vấn: Trình độ
học vấn càng thấp, khả năng sử dụng
tiếng Hoa nói chuyện với ông bà càng
Kỷ yếu khoa học
cao. Cụ thể, trình độ tiểu học là 33/89
người (33.6%), THCS là 32/89 người
(32.6%), ngược lại trình độ học vấn
càng cao thì khả năng sử dụng tiếng
Hoa để nói chuyện với ơng bà lại hạn
chế hơn cụ thể, THPT là 10/89 người
(11.2%), đại học là 6/89 người (6.7%).
Chỉ có 1 người ở trình độ mù chữ sử
dụng tiếng Việt để nói chuyện với ơng
bà, cịn lại mọi người nếu có khả năng
đều cố gắng xen lẫn tiếng Hoa vào
trong giao tiếp. Để nói chuyện với ơng
bà bằng tiếng Việt thì theo trình độ học
vấn khơng có sự chênh lệch đáng kể,
người có trình độ đại học có số lượng
lớn nhất là 11/26 người, chiếm 42.3%.
Nhưng theo quan sát của chúng tơi vẫn
có những trường hợp họ trả lời là
khơng thể nói bằng tiếng Hoa khi giao
tiếp trong gia đình nhưng sau đó quay
vơ trong họ lại nói bằng tiếng Hoa nên
nhưng kết quả ở đây chỉ mang tính
tương đối.
Khi giao tiếp với cha mẹ số người sử
dụng tiếng Hoa phương ngữ cũng có sự
thay đổi đáng kể theo từng trình độ học
vấn. Cụ thể: mù chữ là 8/79 người,
chiếm 10.1%; tiểu học là 31/79 người,
chiếm 39.2%; THCS là 28/79 người,
chiếm 35.4%; THPT là 8/79 người,
chiếm 10.1% và đại học là 4/79 người,
chiếm 5.06% thường dùng tiếng Hoa
phương ngữ để nói chuyện với cha mẹ.
Theo góc độ nghề nghiệp: Từ góc độ
nghề nghiệp, chúng tơi nhận thấy có
một sự chênh lệch lớn về tỷ lệ chọn
ngôn ngữ để giao tiếp với ông bà, cha
mẹ trong gia đình người Hoa Phúc
Kiến ở thành phố Thủ Dầu Một. Cụ
thể: Bn bán có 29/89 người, chiếm
32.58%; cơng nhân và các nghề khác
là 21/89 người, chiếm 23.5%. Như
vậy, tỷ lệ người Hoa Phúc Kiến làm
buôn bán dùng tiếng Hoa để giao tiếp
với ông bà, cha mẹ bao giờ cũng cao
hơn so với các ngành nghề khác (với
ông bà là 32.5%, với cha mẹ là
700
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
30.26%), cịn khi giao tiếp với con,
cháu thì dù làm bất kì ngành nghề nào
thì cũng đều thường dùng tiếng Việt để
giao tiếp với con cháu mình vì “lớp trẻ
bây giờ ít chịu nói tiếng Hoa phương
ngữ”.
Ngơn ngữ giao tiếp ngoài xã hội
100% người Hoa Phúc Kiến dù nam
hay nữ và bất kì trình độ nào kể cả
những người mù chữ họ cũng đều dùng
tiếng Việt để phát biểu trước các cuộc
họp ở khu phố, phường và người Hoa
mù chữ (chữ Hán, chữ Việt) cũng vậy,
đây là tình trạng chung của các nhóm
địa phương người Hoa ở Nam Bộ hiện
nay. Vì đa số người Hoa thuộc các
nhóm địa phương ở đây ai cũng nói
thạo tiếng Việt, khả năng tiếng Việt
của họ rất tốt, ngược lại, khả năng tiếng
Hoa phương ngữ của họ yếu, thậm chí
có nhiều người trẻ tuổi không biết tiếng
Hoa - tiếng mẹ đẻ của bố mẹ họ. Chỉ
trong những buổi họp hội đồng hương
Phúc Kiến, thì tiếng Hoa Phúc Kiến
mới được sử dụng một mức độ nào đó,
cịn khi họp hội tương tế người Hoa,
hội tín ngưỡng thì họ dùng tiếng Việt
hoặc dùng tiếng phổ thông Trung Quốc
rồi dịch sang tiếng Việt cho mọi người
cùng hiểu chứ không dùng các tiếng
địa phương (tiếng Quảng Đông, Triều
Châu, Phúc Kiến, Hẹ). Tiếng Hoa Phúc
Kiến chỉ có chức năng giao tiếp trong
phạm vi hẹp như gia đình, hay giữa
những người cùng nhóm địa phương
nhưng mức độ sử dụng rất hạn chế do
năng lực tiếng Hoa phương ngữ của
các thành viên trong gia đình là khơng
như nhau. Chẳng hạn, nếu người nói và
người nghe thuộc thế hệ thứ nhất trong
gia đình có ba thế hệ thì họ sử dụng
tiếng Hoa nhiều hơn, cịn người nói và
người nghe thuộc thế hệ thứ hai và thứ
ba trong gia đình thì mức độ sử dụng
tiếng Hoa phương ngữ (tiếng Phúc
Kiến) rất hạn chế, thậm chí là khơng sử
dụng do khả năng tiếng Hoa của họ
Kỷ yếu khoa học
không cho phép thực hiện giao tiếp.
Trong các phạm vi giao tiếp phi quy
thức, cụ thể là khi trao đổi riêng với
mọi người dù thuộc cùng nhóm địa
phương, cùng dân tộc Hoa hay khác
dân tộc trong các cuộc họp các cấp
chính quyền, hầu hết người Hoa nói
chung và người Hoa Phúc kiến nói
riêng, nam cũng như nữ, không phụ
thuộc tuổi tác, đều thường dùng tiếng
Việt, việc sử dụng tiếng Hoa để trao
đổi riêng trong các cuộc họp, nếu có
cũng chỉ là hãn hữu. Trong đó, những
người có trình độ tiểu học đến trung
học phổ thơng dùng tiếng Hoa Phúc
Kiến trong trao đổi riêng với người
cùng nhóm địa phương chiếm tỷ lệ cao
nhất; ngược lại, khơng có người nào có
trình độ đại học dùng tiếng Hoa Triều
Châu để trao đổi riêng với người cùng
nhóm địa phương, khác nhóm địa
phương hay người khác dân tộc trong
các cuộc họp tại các cấp chính quyền,
đồn thể. Đối với đa số người Hoa ở
Binh Dương nói chung và người Hoa
Phúc Kiến nói riêng, tiếng Việt là
phương tiện chủ yếu trong giao tiếp
hằng ngày.
Ngôn ngữ giao tiếp trong một số
trường hợp khác
Năng lực ngôn ngữ của người Hoa
Phúc Kiến được thể hiện qua nhiều
phương diện. Như đã phân tích ở trên,
chúng ta đã khảo sát qua ngôn ngữ của
người Hoa Phúc Kiến tại TP. Thủ Dầu
Một tỉnh Bình Dương khi giao tiếp
trong gia đình, khi giao tiếp ngồi xã
hội. Ngồi ra, tìm hiểu về việc lựa chọn
ngơn ngữ để viết thư, nói chuyện điện
thoại hay ngơn ngữ trong sinh hoạt tâm
linh cũng thể hiện được năng lực ngôn
ngữ của người Hoa.
Ngôn ngữ dùng để viết thư: Thơng
thường những ai có khả năng viết chữ
Hoa, họ sẽ đọc được chữ Hoa. Viết thư
thể hiện chủ yếu hai năng lực đọc và
viết của một người. Người Hoa Phúc
701
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
Kiến, người đa ngữ khi viết thư sẽ dựa
vào đối tượng mình muốn gửi thư để
chọn một ngơn ngữ nào đó phù hợp.
Tuy nhiên việc lựa chọn ngơn ngữ nào
đó để viết thư cũng phụ thuộc vào năng
lực của bản thân họ. Đôi khi viết thư
cho người Hoa họ vẫn dùng tiếng Việt
hoặc ngược lại. Nhưng thường, theo
như khảo sát, đa phần, khi viết thư cho
người Việt họ sẽ dùng tiếng Việt, một
số trường hợp năng lực tiếng Việt quá
kém, đối phương có khả năng đọc tiếng
Hoa, họ vẫn chọn dùng tiếng Hoa để
viết thư, nhưng những trường hợp như
thế chiếm tỷ lệ rất thấp.
Ngôn ngữ dùng để nói chuyện điện
thoại: Đây là thời đại cơng nghệ hiện
đại phát triển, điện thoại di động là vật
dụng gần như không thể thiếu đối với
tất cả mọi người. Khi giao tiếp qua điện
thoại, việc mình sẽ gọi cho ai và sẽ
nhận điện thoại từ người nào đều được
hiển thị để người dùng nắm rõ. Như
thế, việc lựa chọn ngôn ngữ nào khi
giao tiếp với đối tượng nào cũng sẽ rất
dễ dàng. Người Phúc Kiến vẫn giữ thói
quen dùng tiếng Hoa phương ngữ để
giao tiếp qua điện thoại với người cùng
dân tộc quen biết. Khi nói chuyện điện
thoại với người Việt, họ vẫn hay dùng
tiếng Hoa nếu đối phương nghe hiểu và
chịu giao tiếp bằng tiếng Hoa với họ.
Ngôn ngữ dùng để ghi chép riêng: Ghi
chép riêng là hình thức ghi chép một
cách tự do. Kết quả điều tra cho thấy,
trong tổng số người được khảo sát,
người Hoa Phúc Kiến lựa chọn chữ
Hán để ghi chép khá cao (Chiếm hơn
80%) mặc dù chữ viết tiếng Việt phổ
biến hơn. Tiếng Việt là ngơn ngữ
khơng thể thiếu khi muốn bày tỏ tâm tư
tình cảm của mình, cũng như việc dùng
tiếng Việt để ghi chép riêng sẽ khơng
phụ thuộc vào bất kì yếu tố nào.
Ngôn ngữ dùng khi cầu cúng, tế lễ:
Cầu cúng tế lễ là một hoạt động tâm
linh không thể thiếu đối với người Hoa
Kỷ yếu khoa học
Phúc Kiến tại Thủ Dầu Một. Đây là
một hoạt động tín ngưỡng thể hiện
được nét bản sắc văn hóa riêng của
người Hoa dù cho người Hoa đã sống
hòa nhập vào cư dân người Việt đã từ
rất lâu. Việc chọn ngôn ngữ nào để
thực hiện cầu cúng tế lễ cũng phản ánh
được tâm tư, tình cảm của người Hoa
Phúc Kiến. Thông thường, khi thể hiện
cầu cúng tế lễ, người Hoa Phúc Kiến
càng lớn tuổi, tỷ lệ sử dụng tiếng Hoa
sẽ cao hơn (chiếm hơn 50%), nhưng
phần đông mọi người Hoa ở lớp tuổi
nào cũng đều sử dụng tiếng Hoa.
Ngơn ngữ dùng khi ca hát một mình:
Ca hát một mình là một hình thức giải
trí mà mỗi cá nhân thường sẽ ngâm nga
theo giai điệu hay lời bài hát khi họ
thích. Đó là những ca từ vu vơ mà khi
hát, họ bộc lộ tâm trạng, tâm tư tình
cảm của mình. Rất nhiều người Hoa
hay thậm chí là người Việt thích ngân
nga những ca khúc của nước ngồi mà
đôi khi họ không cần hiểu hết lời cũng
như không có bất cứ năng lực nào về
ngơn ngữ đó.
Ngơn ngữ dùng để suy nghĩ: Suy nghĩ
là hành động tư duy của trí óc dựa vào
đó để nhận thức thế giới bên ngồi. Tư
duy gắn liền với ngơn ngữ, được thể
hiện qua ngôn ngữ. Đối với những
người đa ngữ, tư duy khơng phải qua
q trình chọn lựa ngơn ngữ nào mà đó
là phản xạ tự nhiên khi đầu óc tiếp nhận
thơng tin. Vì vậy họ sẽ suy nghĩ bằng
ngơn ngữ nào mà họ sử dụng thuần
thục nhất.
KẾT LUẬN
Khảo sát năng lực ngơn ngữ của nhóm
người Hoa Phúc Kiến sinh sống tại
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương từ các góc độ, chúng tôi nhận
thấy năng lực tiếng Việt của người Hoa
Phúc Kiến rất tốt, thậm chí tốt hơn
tiếng mẹ đẻ của họ nhiều. Mặc dầu, số
người trả lời thành thạo mọi kĩ năng
702
Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 20 năm 2018
tiếng Hoa phương ngữ tương đối cao
nhưng không phải tất cả họ đều có thể
đọc hay viết lưu lóa t một đoạn văn
bằng chữ Hán. Họ chỉ có khả năng
nghe - nói - đọc ở mức độ đủ để giao
tiếp. Lớp người Hoa Phúc Kiến càng
trẻ tuổi họ thường càng không mặn mà
với việc học và giao tiếp bằng tiếng
Hoa phương ngữ, thay vào đó họ sẽ
học tiếng phổ thông Trung Quốc để xin
Kỷ yếu khoa học
vào làm việc tại các cơng ty Đài Loan,
Trung Quốc. Nói như vậy khơng có
nghĩa người Hoa Phúc Kiến trẻ tuổi thờ
ơ, bỏ mặc tiếng mẹ đẻ của mình. Tiếng
Hoa phương ngữ - tiếng Phúc Kiến của
nhóm người Hoa Phúc Kiến vẫn được
sử dụng thường xuyên trong phạm vi
giao tiếp gia đình và người cùng nhóm
địa phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHÂU THỊ HẢI, 1989. Tìm hiểu sự hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa
ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á. Luận án Tiến sĩ, Trường
Đại học Tổng hợp, TP.HCM.
HOÀNG PHÊ (CHỦ BIÊN), 2011. Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng.
HỒNG QUỐC, 2009. Những đặc trưng ngơn ngữ học xã hội của hiện tượng
song ngữ tại An Giang (trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt- Hoa).
Luận án Tiến sĩ Ngơn ngữ học, Viện Ngơn ngữ học, Hà Nội.
HỒNG QUỐC, 2015. Cảnh huống song ngữ Việt - Hoa tại đồng bằng song
Cửu Long. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
HỒNG QUỐC, 2017. Tình hình sử dụng ngơn ngữ của Hoa ở Nam Bộ. Kỷ yếu
Hội thảo quốc tế Việt Nam học 2017. NXB Đại học Quốc gia TP.HCM.
TP.HCM. tr.837-843.
703