Tải bản đầy đủ (.pdf) (32 trang)

TÌM HIỂU NHÀ NƯỚC VĂN LANG QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (512.92 KB, 32 trang )

NHÀ NƯỚC VĂN
LANG QUA CÁC
NGUỒN TƯ LIỆU


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................1
3. Mục địch và nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................3
3.1. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................3
4.1. Đối tượng: ..........................................................................................................3
4.2. Phạm vi nghiên cứu: ..........................................................................................3
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu ...............................................................4
6. Đóng góp của đề tài..................................................................................................4
7. Bố cục.......................................................................................................................4
Chương 1 CUỘC ĐỜI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG .....................5
1.1. Lê Thánh Tông (1442 - 1497) ...............................................................................5
1.2. Minh mạng ............................................................................................................7
Chương 2 SO SÁNH CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG .10
2.1. Giống nhau ..........................................................................................................10
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử .........................................................................................10
2.1.2. Nội dung cải cách .........................................................................................10
2.1.3. Kết quả ..........................................................................................................11
2.2. Khác nhau............................................................................................................11
2.2.1. Hoàn cảnh lịch sử .........................................................................................11
2.2.2. Nội dung cải cách .........................................................................................13
2.2.3. Kết quả, hạn chế ...........................................................................................19
Chương 3 ĐÁNH GIÁ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM ................................................22


3.1. Đánh giá chung về hai cuộc cải cách hành chính ...............................................22
3.2. Bài học kinh nghiệm từ hai cuộc cải cách hành chính ........................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................29


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề tổ chức hành chính quốc gia là một trong những vấn đề then chốt của mọi
chế độ chính trị trong lịch sử. Xã hội ln ln vận động, vì vậy, nền hành chính cũng
phải ln ln có sự điều chỉnh, cách tân để đáp ứng sự biến đổi của xã hội. Do đó,
trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, cùng với sự biến đổi của thể
chế chính trị - xã hội, thường dẫn đến những cải cách từng phần hoặc tồn diện nền
hành chính trên phạm vi toàn quốc.
Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
Về mặt khoa học: Trên cơ sở những tư liệu lịch sử phục dựng bức tranh toàn
cảnh về cơng cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tơng và triều vua
Minh Mạng, qua đó làm rõ nguyên nhân dẫn đến cải cách, nội dung, kết quả và hạn
chế của nó có tác động đối với xã hội nước ta nửa sau thế kỉ
Về mặt thực tiễn: Hiện nay, vấn đề cải cách nền hành chính quốc gia đang được
đặt ra rất cấp thiết. Khảo sát và đánh giá một cách hệ thống công cuộc cải cách hành
chính dưới triều Lê Thánh Tơng và triều vua Minh Mạng không chỉ là đáp ứng nhu
cầu hiểu biết mà cịn giúp chúng ta tìm hiểu để kế thừa, phát huy, phát triển những
kinh nghiệm và tránh những sai lầm của quá khứ để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng
đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Chính vì vậy, cộng thêm quá trình tổng kết một cách sơ bộ những tài liệu khoa
học liên hệ đến vấn đề cải cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tơng và triều vua
Minh Mạng, tôi xin chọn đề tài “Nhà nước Văn Lang qua các nguồn tư liệu” để tiến
hành nghiên cứu. Do đây chỉ là bài tiểu luận nhỏ nên bị giới hạn về nội dung cũng như

thời gian thực hiện và cách tiếp cận tư liệu, chắc chắn kết quá thực hiện có thiếu xót,
cần phải đóng góp thêm, kính mong q Cơ giúp đỡ để hồn thiện hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Viết về công cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tơng và triều
vua Minh Mạng từ lâu đã được nhiều nhà sử học quan tâm:
Cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú trong phần quan chức
chí đã đề cập sơ qua đến vấn đề tổ chức chính quyền của các triều đại nước ta từ thủa
lập quốc đến triều Nguyễn. Tuy nhiên, tác phẩm chỉ mang tính trình bày, phân tích,
nghĩa là chỉ kể tên các cơ quan cùng tên các quan chức chứ khơng hề có tính tổng hợp


2

hay sự liên lạc giữa các cơ quan đó với nhau. Trong “Đại Việt sử kí tồn thư” do Ngơ
Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn viết về lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng
đến triều Nguyễn, tuy nhiên chủ yếu là nêu sự kiện, không trình bày riêng lẻ về cải
cách hành chính của Lê Thánh Tông.
Tác phẩm Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam của tác giả
Văn Tạo. Tác phẩm đề cập đến mười cuộc cải cách trong suốt chiều dài lịch sử Việt
Nam bắt đầu từ họ Khúc, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông,
Đào Duy Từ, Trịnh Cương, Minh Mạng, Nguyễn Trường Tộ đến Phong trào đổi mới
đầu thế kỷ XX.
Sách Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn (nhiều tác giả). Nội dung
chính mà các tác giả đề cập đến là quá trình chuyển biến trong nhận thức của các nhân
vật như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ… trước bối cảnh của đất
nước nửa cuối thế kỷ XIX.
Hai tác giả Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Hồng xuất bản tác phẩm Xu hướng
đổi mới trong lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa - Thơng tin). Trong cơng trình
này, hai tác giả đã nghiên cứu một số nhà canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX như
Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ… Đáng chú ý là tác

giả Đinh Xuân Lâm dành 10 trang để trả lời câu hỏi: Có một xu hướng đổi mới ở Việt
Nam hồi cuối thế kỷ XIX không?
Trong số những nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX,
cịn cơng trình Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới (từ giữa thế
kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) của Hải Ngọc Thái Nhân Hòa (Nhà xuất bản Đà Nẵng,
2005). Sách dày 411 trang, ngoài phần Mở đầu, nội dung được chia làm 3 phần cũng là
3 đối tượng khảo cứu của tác giả gồm: Xu hướng canh tân (cuối thế kỷ XIX), phong
trào duy tân (đầu thế kỷ XX) và Sự nghiệp đổi mới (thời hiện đại). Trong phần viết về
“xu hướng canh tân” (từ trang 29 đến trang 69), Hải Ngọc Thái Nhân Hòa đã điểm
những nét chính trong cuộc đời và tư tưởng của các nhân vật: Phạm Phú Thứ, Nguyễn
Tư Giản, Trần Đình Túc, Nguyễn Thông, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điền, Đặng Huy
Trứ, Nguyễn Công Trứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch và Nguyễn Trường Tộ. Tác giả
khẳng định: các kiến nghị, điều trần canh tân, đổi mới “đã nói lên tâm huyết của các
quan viên trong triều và ngồi nội, hợp thành dịng yêu nuớc theo xu hướng canh tân ở
nước ta từ nửa sau thế kỷ XIX” (trang 64); “dù nhỏ hay lớn đều chứa đựng những tiến


3

bộ nhất định, đem lại lợi ích thiết thân đối với xã hội đương thời, đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước đang ở trong tình thế khó khăn, đầy thử thách” (trang 65). Có thể khẳng
định: Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới” (từ giữa thế kỷ XIX
đến cuối thế kỷ XX) đã có cái nhìn tổng quát về xu hướng canh tân, “đánh dấu một
thời kỳ phát triển tư duy đất nước, phản ánh tinh thần yêu nước, thương dân của một
số quan viên trong triều và giáo dân ngoài xã hội”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông Và Minh Mạng
rút ra được đặc điểm riêng trong cải cách của từ ông, các cuộc cải cách dựa trên cơ sở,
kế thừa của các cuộc cải cách trước làm nền tảng cho cho cải cách của mình. Từ chỗ

so sách điểm giông và khác nhau khôngg những thấy rõ được đặc điểm mà còn hiểu
sâu sắc hơn, toàn diện hơn về thờ kỳ lịch sử lúc bấy giờ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua đề tài, nhằm giúp phục dựng lại một cách hệ thống, tồn diện cơng
cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tơng và vua Minh Mạng.
Từ bối cảnh lịch sử, nội dung, kết quả và hạn chế công cuộc cải cách hành chính
từ trung ương đến địa phương. Qua đó bước đầu hệ thống, đánh giá, nhận xét và bài
học kinh nghiệm của cơng cuộc cải cách hành chính để người đọc hiểu tại sao đây là
những cuộc cải cách hành chính tồn diện, là “khn vàng thước ngọc” cho thời kì sau
noi theo,nhưng cũng có chỗ sai lầm cần phải lưu ý.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng:
Đề tài tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc cải cách hành chính dưới triều vua Lê
Thánh Tơng và triều vua Mạng Mạng từ dó rút ra điểm giống và khác nhau.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời vua Lê
Thánh Tơng trị vì (1442 – 1522) và thời vua Minh Mạng trị vì (1820-1840).
Về mặt khơng gian: Đề tài đi sâu tìm hiểu cải cách hành chính Lê Thánh Tông và
Minh Mạng trong phạm vi nước ta thời bấy giờ.


4

5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Trước hết, để nghiên cứu các sự kiện một cách khách quan và chân thực, tiểu
luận dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
nghiên cứu lịch sử tư tưởng dân tộc.
Mặt khác, do đây là một đề tài lịch sử nên tiểu luận đã sử dụng phương pháp lịch
sử và phương pháp logic trong khi tiếp cận, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề đặt
ra, kết hợp phương pháp so sánh, phương pháp vừa phân tích vừa tổng hợp. Kết hợp

bình luận, miêu tả. Ngồi ra cịn sử dụng phương pháp sơ đồ hố để trình bày một cách
cụ thể, dễ hiểu vấn đề nêu ra.
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài bước đầu hệ thông và đánh giá, đư ả bài học kinh nghiệm về cơng cuộc cải
cách hành chính dưới triều Lê Thánh Tông và Minh Mạng.
Trên cơ sở những tư liệu sử học và các nguồn tư liệu khác, đề tài cố gắng làm rõ
và phục dựng công cuộc cải cách hành chính nói riêng và bộ máy hành chính từ trung
ương đến dịa phương cũng như các cải cách khác.
Đề tài cung cấp những cơ sơ khoa học góp phần giới thiệu và đánh giá lại vị trí
của vương triều Nguyễn mà Minh Mạng là chủ thể được đề cập nhiều nhất so sách với
cải cách của Lê Thánh Tơng.
7. Bố cục
Ngồi phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của tiểu luận
được trình bày trong ba chương sau:
Chương 1: Cuộc đời của Lê Thánh Tơng và Minh Mạng.
Trình bày cuộc đờ và sự nghiệp của Lê Thánh Tông và Minh Mạng để thấy rõ
thân thế và hệ tư tưởng của từng ông để thấy được lối của họ áp dụng vào cải cách.
Chương 2: So sánh cải cách của Lê Thánh Tông và Minh Mạng.
So sánh điểm giống và khác nhau của bối cảnh lịch sử, nội dung, kết quả và hạn
chế cơng cuộc cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương. Qua đó bước đầu hệ
thống, đánh giá, nhận xét và bài học kinh nghiệm của công cuộc cải cách.
Chương 3: Đánh giá chung, bài học kinh nghiệm.
Đánh giá chung về kết quả cũng như hạn chế của hai cuộc cải cách từ đó rút ra
bài học kinh nghiệm để áp dụng cho sau này.


5

Chương 1
CUỘC ĐỜI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG

1.1. Lê Thánh Tông (1442 - 1497)
Tên tuổi và sự nghiệp Lê Thánh Tông gắn chặt với một giai đoạn cường thịnh
của Việt Nam ở nửa sau thế kỷ 15.
Lê Thánh Tông tên là Tư Thành, hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư Lê Thái
Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao. Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại
nhà ông ngoại ở khu đất chùa Huy Văn Hà Nội ngày nay, mất ngày 30 tháng giêng
năm Đinh Tỵ (1497).
Thánh Tông lên làm vua năm 1460, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận (14601469) và Hồng Đức (1470-1497). Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa triều Lê phát
triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phịng, văn hóa. Sử gia
Ngơ Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi
khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược".
Về phương diện văn học, Lê Thánh Tông là một nhà thơ lớn, tác phẩm ông để lại
rất phong phú, vừa thơ, vừa văn xi, vừa Hán, vừa Nơm, hiện cịn được sao chép
trong các tập: Thiên Nam dư hạ (trong đó có bài phú nổi tiếng Lam Sơn Lương Thủy
phú), Châu Cơ thắng thưởng Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ
xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn...
Nhà cải tổ và xây dựng đầy nhiệt huyết. Nhờ sự ủng hộ sáng suốt, quyết liệt của
nhóm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt..., Lê Thánh Tơng đã bước lên ngai vàng giữa lúc
triều chính nhà Lê đang lục đục mâu thuẫn. Lên nắm chính quyền, Lê Thánh Tơng
nhanh chóng chấm dứt tình trạng phe phái trong cung đình, khẩn trương tổ chức xây
dựng đất nước với một tinh thần cải cách mạnh mẽ, táo bạo. Về cơ cấu chính quyền
các cấp, ơng đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo
đổi thành 12 đạo (tức 12 thừa tuyên). Bên cạnh cải tổ cơ chế Nhà nước, Lê Thánh
Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền
địa, khuyến khích nơng nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất
hoang. Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông đã được
phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông,
Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế... Dưới thời Lê Thánh Tơng, lực lượng quốc
phịng bảo vệ đất nước được tăng cường hùng hậu. Trước kia, quân đội chia làm 5 đạo



6

vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh cịn có 2 đạo nội,
ngoại, gồm nhiều ti, vệ. Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tơng cịn chú ý lực
lượng qn dự bị ở các địa phương. 43 điều quân chính Lê Thánh Tông ban hành cho
thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao.
Người khởi xướng bộ luật Hồng Đức. Bộ luật Hồng Đức là một trong những
thành tựu đáng tự hào nhất của sự nghiệp Lê Thánh Tông và của cả thời đại ông. Sự ra
đời của bộ luật Hồng Đức được xem là sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của xã
hội Việt Nam hồi thế kỷ 15. Lê Thánh Tông, người khởi xướng luật Hồng Đức, là
người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Ông đã thu lại quyền chỉ huy của
tổng qn đơ đốc Lê Thiệt vì con Lê Thiệt giữa ban ngày phóng ngựa trên đường phố
và dung túng gia nô đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng: "Pháp
luật là phép tắc chung của Nhà nước, ta và các người phải cùng tuân theo".
Người phát triển những giá trị văn hóa dân tộc. Về phương diện văn hóa Lê
Thánh Tơng đã có cơng tạo lập cho thời đại một nền văn hóa với một diện mạo riêng,
khẳng định một giai đoạn phát triển mới của lịch sử văn hóa dân tộc. Cùng với việc
xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân
tài. ở Việt Nam thời phong kiến, chưa bao giờ nền giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng
như vai trị của trí thức lại được đề cao như đời Lê Thánh Tông. Ngoài Hàn lâm viện,
Quốc sử viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn.
Lê Thánh Tơng cịn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn
bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tơng là Tao Đàn chủ
sối.
Đại Việt sử ký tồn thư của Ngô Sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng Đức
thiên hạ bản đồ, Thiên Nam dư hạ... là những giá trị văn hóa tiêu biểu của triều đại Lê
Thánh Tơng.
Nói tới cơng lao của ơng đối với nền văn hóa dân tộc, khơng thể khơng kể đến
một việc có ý nghĩa lịch sử mà ơng đã làm. Đó là việc ơng hủy án minh oan cho

Nguyễn Trãi, cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi đã bị tiêu hủy sau vụ án "Lệ Chi
viên". Chính Lê Thánh Tông đã cho tạc bia về Nguyễn Trãi: "ức Trai tâm thượng
quang khuê tảo" (Tấm lòng ức Trai sáng tựa sao Khuê).
Một nhà thơ hào tráng. Đứng đầu hội văn học Tao Đàn, Lê Thánh Tông cũng dẫn
đầu phong trào sáng tác. Thơ Lê Thánh Tông để lại khá nhiều và có giá trị cao về nội


7

dung tư tưởng. Qua thơ ông, chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn nhân cách, tâm hồn ông,
một tâm hồn gắn bó mật thiết với non sơng, đất nước, với nhân dân, với những truyền
thống anh hùng của dân tộc, của Tổ tơng, mà cịn thấy được khí phách cả một thời
đang vươn lên, đầy hào tráng:
“Nắng ấm nghìn trượng tỏa trên ngọn cờ,
Khí thế ba quân át cày cáo.
Phương Đơng Mặt trời mọc, áng mây nhẹ trơi,
Phóng mắt ngắm núi sông muôn dặm.
(Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần biển Đông)”
Lê Thánh Tông làm vua lúc 19 tuổi. Một năm sau, khi trách lỗi cựu thần Ngô Sĩ
Liên, Nghiêm Nhân Thọ, vị hoàng đế 20 tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới
đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang của Trung Quốc thời xưa, thế là
ngươi theo đường chết, mang lịng khơng vua". Đó là tiếng nói của một ý chí tự cường
dân tộc, động lực mãnh liệt đưa Lê Thánh Tông đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây
dựng, phát triển đất nước hồi thế kỷ 15.
1.2. Minh Mạng (1820 – 1840)
Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mạng (25 tháng 5, 1791 – 20 tháng 1, 1841),
tức Nguyễn Thánh Tổ Nhân Hoàng đế là vị Hồng đế thứ hai (ở ngơi từ 1820 đến
1841) của nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông
tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, cịn có tên Nguyễn Phúc Kiểu, là vị vua anh minh nhất
của nhà Nguyễn.

Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng
loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở
kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh,
củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ
chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh
Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ. Là người tinh
thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập
và củng cố thi cử, năm 1822 ơng mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đơ để tuyển
chọn nhân tài. Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành,
Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khơi ở miền Nam. Triều
đình đã phải đối phó vất vả với những cuộc nổi dậy ấy.


8

Ngồi việc trừ nội loạn, Minh Mạng cịn chủ trương mở mang thế lực ra nước
ngồi. Ơng đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế
quốc hùng mạnh. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man
nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh
ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại
Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với
dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra. Do khơng có thiện cảm
với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ. Ngồi ra, vì Minh
Mạng khơng thích đạo Cơ Đốc của phương Tây, nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn
sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo. Thụy hiệu do vua con Thiệu Trị đặt cho ông là Thể
thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đốn Sáng thuật Đại thành Hậu
trạch Phong cơng Nhân Hoàng đế.
Nguyễn Phúc Đảm là con trai thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao
hoàng hậu Trần Thị Đang. Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5,
1791 tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn

(1787-1802).
Con thứ hai của Gia Long là hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh mất sớm năm
1801. Do thái tử Cảnh và người con chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Cơ Đốc từ Pháp
nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long khơng chọn cháu đích tơn của mình
(con Cảnh) làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình.
Mặc dù có nhiều đình thần phản đối nhưng vua Gia Long vẫn quyết chọn
Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị. Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Cơ
Đốc và khơng có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long. Năm
1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hồ
để quen với việc trị nước.
Tháng 12 năm Kỷ Mão (đầu năm 1820), vua Gia Long qua đời. Tháng giêng năm
Canh Thìn (1820), Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng. Bấy
giờ ông đã 30 tuổi nên rất am hiểu việc triều chính. Nhiều lần sau buổi chầu, ơng cùng
một vài quan đại thần ở lại để bàn việc, hoặc hỏi về các sự tích xưa, hoặc hỏi về những
nhân vật cùng phong tục các nước khác.


9

Nguyễn Thánh Tổ được xem là một vị vua siêng năng, luôn thức khuya dậy sớm
để xem xét công việc, có khi thắp đèn đọc sớ chương ở các nơi gởi về đến trống canh
ba mới nghỉ. Ông thường bảo với các quan:
“Lịng người, ai chả muốn n hay vì chuyện sinh sự để thay đổi ln, lúc trẻ tuổi
cịn khoẻ mạnh mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu thì cịn mong làm gi
được nữa. Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.”
Thật vậy, trong suốt thời gian trị vì của mình, vua Minh Mạng đã thay đổi rất
nhiều việc, từ nội trị, ngoại giao cho đến những cải cách xã hội cùng những việc trong
dịng họ.
Minh Mạng đã xin triều đình Mãn Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành
Đại Nam ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên triều đình Mãn Thanh khơng chính

thức chấp thuận. Đến ngày 15 tháng 2 năm 1839, nhận thấy Mãn Thanh suy yếu, Minh
Mạng đã chính thức cơng bố quốc hiệu Đại Nam. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.


10

Chương 2
SO SÁNH CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ MINH MẠNG
2.1. Giống nhau
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Các cuộc cải cách dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng đều diễn ra
trong bối cảnh đất nước sau một thời gian dài chiến tranh, khủng hoảng, bộ máy hành
chính nhà nước yếu kém về nhiều mặt. Sau chiến tranh, bộ máy hành chính nhà nước
thường do các quan võ nắm giữ, tổ chức lỏng lẻo, không thống nhất, hoạt động phân
tán, kém hiệu quả. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính
nhà nước, các ông đã kiên quyết thực hiện cải cách, coi đó là điều kiện tiên quyết để
đất nước phát triển và thực hiện các cải cách khác.
Các cuộc cải cách dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng là tương đối
toàn diện và kết quả là rất đáng kể. Các cuộc cải cách đã mang lại sự hưng thịnh cho
đất nước, tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế đất nước phát triển, dân trí được
nâng cao, năng lực quốc phòng được tăng cường, chế độ quân chủ trung ương tập
quyền được củng cố, bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn
trước.
2.1.2. Nội dung cải cách
Các cuộc cải cách này đã xây dựng được chế độ quân chủ trung ương tập quyền
mạnh, quyền lực trong nước thuộc về nhà vua. Vua có quyền tối cao trong việc quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước. Vua nắm trong tay quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp và cả quyền thống lĩnh quân đội. Vua là biểu tượng của uy quyền tối
thượng và toàn năng đối với các thần dân. Nhà nước được tổ chức thành một hệ thống
thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trong bộ máy ấy vai trị của nhà nước trung

ương rất lớn, có sức chi phối mạnh mẽ tới bộ máy chính quyền ở các địa phương.
Vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng đã chú trọng xây dựng bộ máy hành
chính nhà nước gọn nhẹ, được tổ chức chặt chẽ thành một guồng máy vận hành thống
nhất từ trung ương đến địa phương. Trong hệ thống bộ máy hành chính nhà nước,
chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan được phân định cụ thể, khơng có hiện tượng
dẫm đạp lên chức năng, nhiệm vụ của nhau, khơng có hiện tượng có tổ chức mà khơng
có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng.


11

Để bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả, các ông rất quan tâm xây
dựng đội ngũ quan lại hiền tài, trung thành với triều chính, coi đó là yếu tố quan trọng
nhất để cải cách hành chính thành cơng. Để có được đội ngũ quan lại như vậy, các ông
đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, như chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài;
tuyển chọn, tiến cử quan lại; xây dựng bộ máy kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật
khách quan, công bằng; đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn bè phái, hối lộ,
tham nhũng...
2.1.3. Kết quả
Các cuộc cải cách đã mang lại cho đất nước ta một trang sử mới. Đất nước ta
phát triển 1 cách vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống – kinh tế - chính trị qn sự - quốc phịng – văn hóa – xã hội. Bộ máy hành chính từ trung ương đến địa
phương được kiện tồn mộtc cách hồn chỉnh, có nhiều thay đổi tốt hơn so với các
triều đại trước, thể hiện sự chặt chẽ trong bộ máy hành chính của nước ta.
Quyền lực được tập trung vào trong tay nhà Vua, quản lý mọi mặt của đất nước.
Đời sống của nhân dân đươc quan tâm, chăm sóc hơn trước, quan tâm đến vấn đề
ruộng đất cho nhân dân, đời sống được nâng cao, cuộc sống đầy đủ khơng cịn chịu
cảnh đói rét, bần hàn như trước nữa. Nền kinh tế công- thương nghiệp của nước ta thời
Lê Sơ phát triển rất mạnh mẽ.
Quan hệ hàng hóa – tiền tệ cũng như đồng tiền đã tác động vào xã hội vào hệ
thông quan lại, từng bước gây nên sự đổi thay trong chế độ chính trị và sự ổn định của

đất nước.Vấn đề quân đội – quốc phòng ngày càng được xây dựng và củng cố vững
mạnh, hình thành 1 lực lượng phịng bị bảo vệ tổ quốc đơng đảo tránh nguy cơ xâm
lược của kẻ thù. Quan lại đươc lựa chọn cẩn thận, có năng lực thơng qua thi cử, có khả
năng giúp việc cho vua và phục vụ nhân dân.
2.2. Khác nhau
2.2.1. Hồn cảnh lịch sử
Lê Thánh Tơng
Sau khi triều đại nhà Hồ bị sụp đổ bởi quân xâm lược Minh, và cuộc cải cách của
Hồ Quý Ly cũng đi vào thất bại bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng cơ bản nhất
vẫn là do giặc Minh xâm lược nước ta vào cuối 1406 đầu 1407.
Trải qua gần 22 năm đặt ách xâm lược giặc Minh đã bị đánh đuổi về nước, tháng
4 năm 1428 Lê Lợi lên ngơi Hồng đế, mở đầu cho triều đại nhà Lê. Trải qua các đời


12

vua Thái Tổ (1428-1433), Thái Tông (1434-1442), đất nước đang dần được khôi phục.
Năm 1460, Lê Thánh Tông lên ngôi kế thừa những thành quả của triều đại trước, có
những điều kiện mới để xây dựng đất nước, song cũng đứng trước những khó khăn thử
thách và có nguy cơ đưa xã hội đi vào khủng hoảng như thời cuối nhà Trần.
Như vậy xét về điểm xuất phát thì Lê Thánh Tơng đã có phần danh nghĩa hơn Hồ
Q Ly, bởi lẽ ơng đã danh chính ngơn thuận là con cháu nối nghiệp của nhà họ Lê,
còn Hồ Quý Ly đã từng bước dùng những thủ đoạn để chiếm đoạt ngôi báu của nhà
Trần trong thời suy vong. Nhà Trần đã quá nhu nhược và suy yếu để nhà Hồ từng
bước nắm giữ quyền hành trong triều, âu cũng là một tất yếu của lịch sử. Song ở đây ta
không bàn đến thế nước rơi vào tay ai, mà ở đây ta nói đến hồn cảnh để dẫn đến sự ra
đời cuộc cải cách cảu vua Lê Thánh Tông.
Nếu như nói Hồ Quý Ly tiến hành cuộc cải cách ngay trong lúc là quan trọng
triều nhà Trần, và ông tiến hành cải cách trong khi xã hội nhà Trần đã q mục nát,
suy vong sau đó ơng lên làm vua thì tiếp tục đẩy mạnh cải cách. Thì ở đây Lê Thánh

Tơng tiến hành cải cách khi ơng chính thức lên làm vua, và xã tắc, triều đình nhà Lê
đang có dấu hiệu suy thối, trung thần của đất nước bị giết hại, gian thần thì mặc sức
kết bè phái cùng nhau bóc lột nhân dân. Qua đó cho ta thấy rằng về động cơ để tiến
hành cuộc cải cách của cả nhà Hồ và nhà Lê đều xuất phát từ lòng yêu nước, muốn
đưa đất nước ra khỏi sự khủng hoảng, để đem lại “Quốc thái dân an”.
Trở lại với tình hình xã hội thời Lê thì trong “Trung hưng ký” đã phản ánh như
sau: “Nhân Tông mới hai tuổi, sớm lên ngôi vua… kẻ thân yêu giữ việc, tệ hối lộ công
hành, phường dốt đặc nổi lên như ong. Người trẻ không biêt nghĩ, tự ý làm càn. Bán
quan mua ngục, ưa giàu, ghét nghèo, bọn dạo sát thì được bổ dụng…”
Nhận thức được thực trạng trên của vương triều và đất nước, với tư chất thông
minh, quyết đốn Lê Thánh Tơng đã tiến hành chính sách và biện pháp cải cách ý
nghĩa trên các mặt như: chính trị, kinh tế xã hội, quân sự, văn hóa, giáo dục. Cơng
cuộc cải cách này và kết quả của nó là sự tiếp tục thực hiện định hướng và mục tiêu
cuộc cải cách của Hồ Quý Ly.
Minh Mạng (1820 – 1840)
Đầu thế kỷ XIX, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là
Gia Long, lập ra nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn đã tiếp tục duy trì chế độ phong kiến đã tồn
tại ở nước ta hàng thế kỷ. Dưới thời vua Gia Long, bộ máy nhà nước phong kiến đã


13

vốn đã tồn tại nhiều hạn chế lỗi thời nay lại càng trầm trọng hơn. Nền kinh tế hầu như
không phát triển lên được theo hướng tiến bộ, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt làm
bùng nổ hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, của các dân tộc ít người.
Tong khi đó, cơ chế hành chính bộc lộ nhiều thiếu sót như cơ chế hành chính cịn
nhiều tầng, phân cấp hành chính, vẫn giữ cơ chế: dưới trung ương là các cấp thành,
trấn, doanh. Bắc thành và Gia Định thành cho hai vị Tổng trấn đứng đầu, quyền hạn
rất lớn. Dẫn tới tình trạng lạm quyền, lộng quyền và có nguy cơ tiêm vị.
Trước những khó khăn đó, vua Minh Mạng (1820 – 1840) vị vua thứ hai của

triều Nguyễn đã tiến hành cuộc cải cách bộ máy nhà nước trên quy mô lớn nhằm củng
cố quyền lực cũng như khắc phục những khó khăn chồng chất của đất nước. Cải cách
khối cơ quan văn phòng là một trong số những cải cách lớn của ông.
2.2.2. Nội dung cải cách
 Hành chính
Lê Thánh Tơng
Nhà nước từ nhà Trần có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ. Đời Lê Lợi có 3 bộ: Lại,
Lễ, Dân (Hộ). Lê Thánh Tông tổ chức thành 6 bộ:
Lại: tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan
Lễ: đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ
người coi giữ đình, chùa, miếu mạo
Hộ: ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tơ thuế kho tàng, thóc tiền và lương, bổng của
quan, binh
Binh: binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi
hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp
Hình: thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc tù, đày, kiện cáo
Công: xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền
Xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo đổi thành 13 đạo
(thừa tuyên)
Các quan chỉ được làm tối đa đến tuổi 65; bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các
gia đình cơng thần. Tơn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức
Các bộ luật hành chính được soạn nhiều và đủ. Ơng làm gương cho nhân dân về
tính nghiêm minh của pháp luật không kể ai: "Pháp luật là phép công của nhà nước, ta
cùng các ngươi đều phải theo"


14

Minh Mạng
Ngay từ khi mới lên ngơi, Hồng đế Minh Mạng đã cho cải định và thiết đặt

thêm một số cơ quan trong hệ thống bộ máy hành chính so với các triều đại trước như
đổi đặt Văn thư phòng sau đổi làm Nội các để giúp việc; đổi Nội đồ gia thành Nội vụ
phủ, Ngoại đồ gia thành Vũ khố; thành lập Cơ mật viện, Đô sát viện, Tôn nhân phủ;
chỉnh đốn Lục Bộ, đặt thêm các Khoa; định lại toàn bộ hệ thống quan chế, viên ngạch,
phẩm trật, lương bổng; cơ cấu lại tổ chức của hầu hết các cơ quan; đặt thêm nhiều
chức danh mới; quy định lại số lượng, viên ngạch cho mỗi đơn vị… Đặc biệt năm
Minh Mạng 12-13 (1831-1832), nhà vua thực thi một cơng cuộc cải cách hành chính
lớn, trong đó chia định lại địa hạt trong cả nước; đổi các trấn, đạo thành tỉnh. Sau khi
phân định lại các địa hạt, vua cho thiết đặt các chức quan coi giữ và định quy tắc làm
việc.
Nhà vua cũng cho đặt lại các nghi thức thiết triều ở điện Thái Hoà, định lệ thiết
triều tham dự tấu việc, quy định chế cấp “Lục đầu bài” cho các nha dâng lên khi cần
tâu việc, định lệ các nha phụng giữ bản phê chữ đỏ (châu bản), định lại quy thức văn
bản và đệ trình văn bản… Vua là người chăm chỉ mẫn cán, việc chính sự trong ngoài
lớn nhỏ đều muốn xét qua, các văn bản quan trọng hầu như đều tự mình nghĩ soạn.
Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: Vua sáng suốt cẩn thận về chính thể. Những
chương sớ trong ngồi tâu lên nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê
phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra hoặc châu phê. Có
bản phê bắt đầu từ đấy. Vua thấy từ trước tới nay chương sớ 4 phương tâu lên, các bộ
thần đều mở phong bì phụ xem trước, thấy việc gì khơng quan trọng thì bỏ khơng tâu,
bèn sắc cho Lục Bộ từ nay chương sớ có cái nào khơng hợp cũng đem việc trình rõ,
khơng được tự ý bác đi để đề phòng sự che lấp. Vua chuẩn định các chiếu văn khi ban
bố đều phải niêm yết ở Phu văn lâu, các Tri huyện 3 huyện trong Kinh kỳ phải dẫn kỳ
lão, hương lý, thân hào đến trước lầu để lạy xem. Vua lại cho đặt thêm các trạm dịch ở
Kinh và các tỉnh để việc chuyển phát công văn giấy tờ giữa các cơ quan được nhanh
chóng kịp thời.
Có thể nói, Minh Mạng là vị Hồng đế rất chuyên cần, tâm huyết; đặc biệt ông là
người rất năng động và sáng tạo. Những cải cách trong thời đại ông trị vì được các nhà
nghiên cứu lịch sử so sánh với cải cách của vua Lê Thánh Tông năm 1471 và đánh giá
là một trong hai cuộc cải cách có quy mơ lớn nhất và đạt hiệu quả cao nhất trong lịch



15

sử phong kiến Việt Nam. Đánh giá về con người cũng như sự nghiệp của Hoàng đế
Minh Mạng, Trần Trọng Kim một sử thần cuối triều Nguyễn trong sách Việt Nam sử
lược đã có những nhận định khá xác đáng rằng: Trong đời Thánh Tổ làm vua, pháp
luật, chế độ điều gì cũng sửa sang lại cả, làm thành một nước có cương kỷ. Nhưng chỉ
vì ngài nghiêm khắc q, cứ một mực theo cổ, không tuỳ thời mà biến hố phong tục;
lại khơng biết khoan dung cho sự sùng tín, đem giết hại những người theo đạo, lại
tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình. Đã hay rằng
những điều lầm lỗi ấy là trách nhiệm chung cả triều đình và cả bọn sĩ phu nước ta lúc
bấy giờ, chứ không riêng chi một mình ngài, nhưng ngài là ơng vua chun chế một
nước, việc trong nước hay dở thế nào ngài cũng có một phần trách nhiệm rất to, khơng
sao chối từ được. Vậy cứ bình tình mà xét thì chính trị của ngài tuy có nhiều điều hay,
nhưng cũng có nhiều điều dở; ngài biết cương mà không biết nhu, ngài có uy quyền
mà ít độ lượng, ngài biết có dân có nước mà khơng biết thời thế tiến hố. Bởi vậy cho
nên nói rằng ngài là một anh quân thì khí q, mà nói rằng ngài là bạo qn thì khơng
cơng bằng. Dẫu thế nào mặc lịng, ngài là một ơng vua thơng minh, có quả cảm, hết
lịng lo việc nước, tưởng về bản triều nhà Nguyễn chưa có ông vua nào làm được
nhiều công việc hơn ngài vậy.
 Kinh tế
Lê Thánh Tơng
Sửa đổi thuế khóa, điền địa, khuyến khích nơng nghiệp, mở đồn điền.
Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển Việt Nam của Lê Thánh Tông đã được
kiểm chứng qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông trực tiếp chấp bút và ban bố, như Chiếu
khuyến nông, lập đồn điền, định quan chế...
Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng phát triển rực rỡ. Nghề in và làm
giấy đạt trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in khá đồ sộ. Đặc biệt
nhất là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ

đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp. Việc giao thương buôn bán đã chắp cánh cho đồ
gốm thời này đi xa
Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với
bước chân viến chinh xa xôi. Lê Thánh Tông khuyến dụ: Trong dân gian hễ có dân là
có chợ để lưu thơng hàng hố, mở đường giao dịch cho dân. Các xã chưa có chợ có thể
lập thêm chợ mới. Những ngày họp chợ mới không được trùng hay trước ngày họp


16

chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách hàng của nhau. Các chợ được mở mang
nhiều
Nhờ quan tâm đến thương nghiệp nên nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Các nghề
thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, đúc đồng phát triển.
Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay.
Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi,
Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ
Bát Tràng và nhiều phường khác...
Minh Mạng
Hoàng đế Minh Mạng luôn chăm lo đời sống nhân dân, chú trọng phát triển kinh
tế, khao khát cho dân giàu, nước mạnh. Ông đã áp dụng nhiều chính sách thúc đẩy
kinh tế phát triển như khuyến khích khai hoang lấn biển; đẩy mạnh thuỷ lợi đào sơng
thốt lũ; hồn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc bộ; tiếp tục đo đạc, hoàn thiện sổ ruộng
đất (địa bạ) trong toàn quốc; quy định lại chế độ thu thuế đinh, điền, thuế muối, thuế
khai thác mỏ, thuế sản vật, thuế buôn bán tại các cửa quan, bến chợ, thuế cảng cho các
thuyền buôn nước ngồi; khai mở nhiều ngành sản xuất mới…
Vì vậy trong 20 năm trị vì của Hồng đế Minh Mạng, nền kinh tế Việt Nam đã có
những thành tựu nhất định, nhiều vùng đất mới được khai khẩn thành lập như huyện
Tiền Hải tỉnh Nam Định; huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình; đào xong sơng Vĩnh Tế ở
Nam kỳ, sơng thốt lũ Cửu An ở Hưng Yên; ruộng đất canh tác được mở rộng, dân số

được tăng thêm. Thời kỳ này nhiều loại máy móc mang tính mới mẻ phục vụ thiết thực
đời sống được chế tạo như máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu, sức nước; máy nghiền thuốc
súng; máy tưới nước cho đồng ruộng… Đặc biệt năm 1839 những người thợ Việt Nam
đã đóng thành cơng chiếc tàu thuỷ chạy bằng hơi nước đầu tiên và sửa chữa được một
số tàu thuyền mua của nước ngoài bị hư hỏng. Vua còn ban dụ cho lập nhà dưỡng tế
để giúp đỡ những người tàn tật, già cả, nghèo khó; bãi bỏ những việc gây phiền phí
cho dân như lệ bắt các địa phương tiến thú rừng cho các ngày lễ kị; đặt lệ định kỳ báo
cáo giá thóc gạo, lương thực ở các nơi; cấm tư thương đầu cơ bán trộm thóc gạo; giảm
thuế, chẩn cấp, xuất kho bán thóc rẻ cho dân các vùng bị thiên tai đói kém; yêu cầu các
tỉnh xuất lúa giống trong kho cho dân nghèo vay để làm mùa khiến cho nông nghiệp
không bị đình trệ, việc mất mùa khơng ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.


17

 Quân sự
Lê Thánh Tông
Chỉnh đốn lại quân đội, đôn đốc và thực hiện các bước để tăng cường các khả
năng chiến đấu của các vệ quân 5 đạo. Ông thường thân chinh đi tuần phòng ở các
vùng biên ải xa xơi cùng với binh lính và là tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ
bị. Dấu tích trong một lần tuần tra tại khu vực cửa biển và vùng biển Hạ Long là bài
thơ đề trên vách núi đá (núi Bài Thơ)
Việc canh phịng và khuyến khích các quan lại ở biên cương thường cảnh giác
với các âm mưu xâm nhập và xử lý kịp thời các sự việc lãnh thổ với bên ngồi ở thời
ơng là rất chặt chẽ và cẩn thận nên triều đình nhà Minh rất tơn trọng và có phần e ngại.
Trong sử Việt cịn nhắc đến việc Lê Thánh Tơng ra sắc chỉ phải cảnh giác với lực
lượng nội gián là các gia nô người Ngô (người nhà Minh tự nguyện xin ở lại sau khi bị
bắt làm tù binh trong cuộc chiến của Lê Lợi)
Vũ khí có những tiến bộ vượt bậc, do tiếp thu các kỹ thuật chế tạo súng hỏa cơng
cá nhân từ p.Tây và với số vũ khí thu được trong cuộc chiến với nhà Minh, kết hợp kỹ

thuật vũ khí thời nhà Hồ đã tạo thành 1 bộ vũ khí đa dạng và hùng mạnh. Lê Thánh
Tơng rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho
quân lương khi cần thiết. 1 nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tơng: hấp thóc
chín và sấy khơ. Loại lương khơ này có thể cất giữ vài năm, rất tiện cho vận chuyển và
sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là quân viễn chinh
Cải tổ quân đội mạnh mẽ về tổ chức, trước chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5
phủ đơ đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh cịn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ.
Ngồi tổ chức qn thường trực, Lê Thánh Tơng cịn chú ý lực lượng quân dự bị ở các
địa phương. 43 điều qn chính là luật qn đội Lê Thánh Tơng ban hành cho thấy kỷ
luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao
Minh Mạng
Hồng đế Minh Mạng là người rất quan tâm đến quân sự quốc phịng, vì vậy
qn đội dưới thời ơng được tổ chức khá hùng mạnh. Nhà vua nhiều lần thân hành ra
thao trường chứng kiến việc luyện tập của quân sĩ và đặt chế độ định kỳ duyệt tuyển.
Ngay từ năm Minh Mạng thứ nhất (1820) nhà vua đã cho tổ chức lại quân đội thành
các binh chủng gồm bộ binh, thuỷ binh, kỵ binh, tượng binh và pháo thủ binh. Trong
đó bộ binh là chủ chốt được phân làm 2 loại kinh binh và cơ binh. Kinh binh là lính


18

của triều đình đóng chủ yếu ở kinh thành và một số tỉnh trọng yếu. Tổ chức bên trong
của kinh binh khá chặt chẽ được phân thành các doanh (gồm 4 doanh Thần cơ, Tiền
phong, Long vũ, Hổ uy), mỗi doanh lại chia làm 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50
lính; đứng đầu có các Đội trưởng và Suất đội cai quản. Cơ binh là lính riêng của từng
tỉnh, cũng được chia thành các cơ, đội; đứng đầu có các Quản cơ và Suất đội cai quản.
Các loại binh khác được tổ chức gần giống bộ binh, cũng chia thành các vệ, đội nhưng
có đặc thù riêng của từng loại.
Hoàng đế Minh Mạng cũng rất chú trọng tăng cường trang bị cho quân đội thêm
nhiều vũ khí, thuyền bè, voi ngựa và các súng ống loại lớn. Đặc biệt thuỷ quân thời kỳ

này kế thừa các đội binh thuyền tinh nhuệ của vua cha Gia Long lại được tăng cường
thêm một số tàu đi biển lớn bọc đồng như Phấn Bằng, Thuỵ Long, Linh Phượng,
Tường Hạc, Thần Giao, Tiên Ly… nên đã gần như làm chủ được dải bờ biển dài và
một số hải đảo ngoài khơi. Những nơi bờ biển sung yếu hoặc gần Kinh đô, vua Minh
Mạng cho xây dựng hàng loạt các pháo đài canh phòng như Trấn Hải, Định Hải, Điện
Hải… và khơng ngừng tăng cường phịng thủ. Vua cũng thường xun cử các đội tàu
đi thăm dò, tuần thám các hải đảo kể cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
 Giáo dục
Lê Thánh Tơng
Xây kho bí thư chứa sách. Lập Hội Tao Đàn gồm những nhà văn hóa có tiếng
đương thời. Khởi xướng lập bia Tiến sĩ và tiến hành cho dựng để ghi danh, tôn vinh
những người tài và đức ở Văn Miếu. Có những chính sách mới về thi cử và tránh gian
lận trong thi cử. Nhiều lần đích thân chấm bài và khảo lại các bài thi có nghi ngờ.
Chăm lo cho thi cử nên vua Lê Thánh Tơng có nhiều điều kiện thuận lợi để lựa
chọn người tài, người có học hành đỗ đạt tham gia quan lại. Vua Lê Thánh Tông từng
ra chỉ: “Phải xét những người biết chữ, có tài cán mới nên lưu lại để tiện cho việc xét
đốn cáo trình các việc và tiện cho dân. Nếu khơng biết chữ thì cho nghỉ.”Về cơ bản
vua Lê Thánh Tông muốn tạo dựng được một bộ máy quan lại gồm những con người
ưu tú trong giới trí thức Nho học thời bấy giờ. Họ được lựa chọn kỹ càng, qua thi cử,
làm chỗ dựa vững chắc cho triều đình.
Minh Mạng
Là người tinh thơng Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm
đến nền khoa cử, học vấn. Nhà vua thường nói:


19

“Đạo trị nước phải gây dựng nhân tài.”
Năm 1821, ông đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp, năm 1822 mở lại thi Hội, thi Đình.
Ơng cịn cho đặt đốc học ở thành Gia Định, ông giao trọng trách cho nhà giáo Nguyễn

Trọng Vũ người Nghệ An, giữ chức Phó Đốc học chăm lo việc học hành ở Nam Bộ.
Bấy giờ, ở Gia Định có Trịnh Hồi Đức là người có học vấn cao nên được nhà vua tin
dùng, phong làm Hiệp Biện Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Lại kiêm Thượng thư Bộ Binh.
Minh Mạng còn đặt ra lệ rằng ai được thăng quan, bổ nhiệm đều phải lên kinh
gặp vua trước khi nhậm chức. Đây là cơ sơ để nhà vua kiểm tra đức độ, năng lực và
khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho lợi ích nước nhà.
Năm 1836, ông cho thành lập “Tứ dịch quán” để dạy ngoại ngữ (tiếng Pháp,
Xiêm).
Vua Minh Mạng muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến
hành ra sao bởi triều thần của ơng chỉ tồn là những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ
được nhà vua trong một kế hoạch nào làm cho quốc phú, dân cường. Ơng đã nói rằng:
“Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn
khơng có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe
khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó.
Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi
ngày một kém đi. Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau dần dần đổi
lại.”
2.2.3. Kết quả, hạn chế
 Kết quả
Lê Thánh Tơng
Mới nhìn tưởng rằng cuộc cải cách này chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân đơn giản
trước mắt từ sự yếu kém của bộ máy hành chính đã được cải tổ từ Lê Thái Tổ đến Lê
Thái Tơng. Nhưng thực tế nó bắt nguồn từ nguyên nhân xâu xa từ Lê Thái Tổ đến Lê
Nhân Tông muốn làm nhưng chưa thực hiện được. Nguyên nhân trước hết là do khủng
hoảng thiết chế chính trị diễn ra vào cuối thời Trần.
Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly nhằm thay thế thiết chế quân chủ quý tộc bằng
một thiết chế mới quân chủ quan liêu là đúng đắn, cần thiết nhưng do nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan nó thất bại nhanh chóng.



20

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) thắng lợi. Lê Lợi lên ngơi hồng đế và
xây dựng cường quốc mới theo chế độ cũ của nhà Trần.
Thiết chế chính trị theo chế độ cũ của nhà Trần chưa chặt chẽ, chưa hồn chỉnh,
mang tính phân tán.
Trong hồn cảnh mới nhưng vẫn duy trì chế độ cũ là khơng phù hợp với sự phát
triển của đất nước, xu thế của thời đại. Yêu cầu đặt ra cần phải thiết lập một bộ máy
hành chính mới phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước.
Mặt khác, sau khi Lê Thái Tổ qua đời, các vua kế vị thường cịn ít tuổi (10 tuổi
và 2 tuổi). Mọi quyền quyết đốn trong triều đình nằm trong tay các đại thần. Trạng
quan lại lộng quyền, tham nhũng, ăn chơi sa đọa diễn ra khá phổ biến. Hàng loạt “công
thần khai quốc” như Nguyễn Trãi ….bị giết. Để xây dựng nhà nước quân chủ trung
ương tập quyềg mạnh, đòi hỏi phải chấn chỉnh lại kỷ cương phép nước, phải cải cách
cả thiết chế chính trị, cả về cơ chế vận hành của bộ máy hành chính từ trung ương đến
địa phương. Khắc phục tình trạng bất cập từ tập trung đến phân tán. Tình hình trên đặt
ra yêu cầu phải tiến hành cuộc cải cách đặt biệt là về mặt hành chính. Lê Thánh Tơng
là vị vua đảm đương việc cải cách này.
Minh Mạng
Đầu thế kỷ XIX, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là
Gia Long, lập ra nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn đã tiếp tục duy trì chế độ phong kiến đã tồn
tại ở nước ta hàng thế kỷ. Dưới thời vua Gia Long, bộ máy nhà nước phong kiến đã
vốn đã tồn tại nhiều hạn chế lỗi thời nay lại càng trầm trọng hơn. Nền kinh tế hầu như
không phát triển lên được theo hướng tiến bộ, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt làm
bùng nổ hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, của các dân tộc ít người.
Tong khi đó, cơ chế hành chính bộc lộ nhiều thiếu sót như cơ chế hành chính cịn
nhiều tầng, phân cấp hành chính, vẫn giữ cơ chế: dưới trung ương là các cấp thành,
trấn, doanh. Bắc thành và Gia Định thành cho hai vị Tổng trấn đứng đầu, quyền hạn
rất lớn. Dẫn tới tình trạng lạm quyền, lộng quyền và có nguy cơ tiêm vị. Trước những
khó khăn đó, vua Minh Mạng (1820 – 1840) vị vua thứ hai của triều Nguyễn đã tiến

hành cuộc cải cách bộ máy nhà nước trên quy mô lớn nhằm củng cố quyền lực cũng
như khắc phục những khó khăn chồng chất của đất nước. Cải cách khối cơ quan văn
phòng là một trong số những cải cách lớn của ông.


21

 Hạn chế
Lê Thánh Tơng
Bên cạnh đó cuộc cải cách hành chính thời Lê Sơ cịn vấp phải một số hạn chế,
ảnh hưởng đến việc quản lý đất nước của nhà Vua, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất
nước và đời sống của nhân dân:
Vẫn còn mang nặng chế độ phong kiến, chuyên chế tập quyền, quyền lực nằm
trong tay vua hồn tồn.
Thời Lê Sơ một số cơng thần có uy tín và quyền lực cao đã bị nghi kị và lần lượt
bị sát hại, như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Khả, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và
Nguyễn Trãi.
Bộ máy hành chính tuy đã được kiện tồn nhưng vẫn còn nhiều chỗ chưa sửa đổi,
lỗi thời lạc hậu.
Nền giáo dục đã dần dần trở nên chật hẹp, bị hệ tư tưởng hóa quá mức, quan liêu
hóa tầng lớp trí thức, như bia Văn Miếu nhận xét “cái thực chưa xứng với cái danh”.
Đối với kinh tế nhà nước thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, kiểm soát
nghiêm ngặt các cảng khẩu, như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), còn Hải Hội
Thống (Nghệ An), cấm dân chúng tự tiện bn bán và trao đổi hàng hóa với các tàu
buôn ngoại quốc.
Minh Mạng
Củng cố thêm hệ tư tưởng Tống Nho vốn đã trì trệ, bảo thủ, khước từ mọi
đổi mới, hạn chế mọi việc canh tân. Nặng về củng cố vương quyền, nhẹ về cải thiện
dân sinh.
Quá khâm phục thiên triều, sao chép Mãn Thanh, thiếu nhìn xa thấy rộng ra thế

giới để tiếp thu được những tiến bộ, văn minh nhân loại trong thời đại mới.
Hệ quả tiêu cực của cải cách là bộ máy phong kiến quan liêu độc đốn đó càng
được củng cố chặt chẽ bao nhiêu thì sự đổi mới tư duy, canh tân đất nước càng khó
khăn, chậm trễ bấy nhiêu.
Phải chăng đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến khi bọn phương
Tây xâm lược đến đã không đề kháng nổi.


22

Chương 3
ĐÁNH GIÁ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
3.1. Đánh giá chung về hai cuộc cải cách hành chính
Nghiên cứu hai cuộc cải cách hành chính (CCHC) dưới triều vua Lê Thánh Tơng
(1460-1497) và vua Minh Mạng (1820-1840) có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, các cuộc CCHC dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng đều
diễn ra trong bối cảnh đất nước sau một thời gian dài chiến tranh, khủng hoảng, bộ
máy hành chính nhà nước yếu kém về nhiều mặt. Sau chiến tranh, bộ máy hành chính
nhà nước thường do các quan võ nắm giữ, tổ chức lỏng lẻo, không thống nhất, hoạt
động phân tán, kém hiệu quả. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy
hành chính nhà nước, các ơng đã kiên quyết thực hiện CCHC, coi đó là điều kiện tiên
quyết để đất nước phát triển và thực hiện các cải cách khác.
Thứ hai, các cuộc CCHC dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng là
tương đối toàn diện và kết quả là rất đáng kể. Các cuộc cải cách đã mang lại sự hưng
thịnh cho đất nước, tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế đất nước phát triển, dân
trí được nâng cao, năng lực quốc phòng được tăng cường, chế độ quân chủ trung ương
tập quyền được củng cố, bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
hơn trước.
Thứ ba, các cuộc CCHC này đã xây dựng được chế độ quân chủ trung ương tập
quyền mạnh, quyền lực trong nước thuộc về nhà vua. Vua có quyền tối cao trong việc

quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Vua nắm trong tay quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp và cả quyền thống lĩnh quân đội. Vua là biểu tượng của uy quyền
tối thượng và toàn năng đối với các thần dân. Nhà nước được tổ chức thành một hệ
thống thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trong bộ máy ấy vai trò của nhà nước
trung ương rất lớn, có sức chi phối mạnh mẽ tới bộ máy chính quyền ở các địa
phương.
Thứ tư, vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng đã chú trọng xây dựng bộ máy
hành chính nhà nước gọn nhẹ, được tổ chức chặt chẽ thành một guồng máy vận hành
thống nhất từ trung ương đến địa phương. Trong hệ thống bộ máy hành chính nhà
nước, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan được phân định cụ thể, khơng có hiện
tượng dẫm đạp lên chức năng, nhiệm vụ của nhau, không có hiện tượng có tổ chức mà
khơng có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng.


23

Thứ năm, để bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả, các ơng rất
quan tâm xây dựng đội ngũ quan lại hiền tài, trung thành với triều chính, coi đó là yếu
tố quan trọng nhất để CCHC thành cơng. Để có được đội ngũ quan lại như vậy, các
ông đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, như chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân
tài; tuyển chọn, tiến cử quan lại; xây dựng bộ máy kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ
luật khách quan, công bằng; đấu tranh không khoan nhượng với tệ nạn bè phái, hối lộ,
tham nhũng...
3.2. Bài học kinh nghiệm từ hai cuộc cải cách hành chính
Thực hiện nguyên tắc "trên dưới liên kết hiệp đồng, trong ngoài kiềm chế lẫn
nhau" trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước
Dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng, chức năng, nhiệm vụ, mối
quan hệ hỗ trợ, giám sát lẫn nhau giữa các bộ, khoa, tự, giữa trung ương và địa
phương, giữa cấp trên và cấp dưới, trình tự, quy chế làm việc được phân định cụ thể,
rành mạch. Trong "Hiệu định quan chế" năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã dụ rằng:

mục đích hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước là nhằm "trên dưới liên kết hiệp
đồng", "quan to, quan nhỏ ràng buộc với nhau, chức trọng, chức khinh cùng kiềm chế
lẫn nhau". Quan lại trong triều và các cấp hành chính hiệp đồng, kiềm chế lẫn nhau
trong một tập thể liên đới trách nhiệm, đứng đầu là các trưởng quan trước nhà vua.
Nguyên tắc này dưới triều các ông được thực hiện ở tất cả các cấp hành chính:
triều đình trung ương, lục bộ, các cơ quan chuyên trách và ở tất cả các cấp hành chính
địa phương.
Thực hiện nguyên tắc "chức vụ và trách nhiệm nghiêm minh, quyền lợi và
nghĩa vụ tương xứng"
Nguyên tắc này bắt nguồn từ thuyết "chính danh" của Nho gia. Vật nào cũng vậy,
cái "tên" phải xứng với cái "thực" của nó, chức vụ luôn đi cùng với trách nhiệm, quyền
lợi luôn đi cùng với nghĩa vụ.
Chức vụ và trách nhiệm nghiêm minh, quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng là
nguyên tắc được vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mạng rất coi trọng. Các ông đã vận
dụng nguyên tắc này trong việc tổ chức, điều hành bộ máy hành chính nhà nước, đặt ra
các quy định cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi đối với từng quan lại. Mỗi
chức quan đều có quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể. Ngồi chức tước, quan lại còn được


×