Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

GÓP VÀI Ý KIẾN VỀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA KIẾN TRÚC ĐỀN THÁP CHĂMPA VÀ DI TÍCH CÁT TIÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (482.03 KB, 18 trang )

GÓP VÀI Ý KIẾN VỀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA KIẾN TRÚC
ĐỀN THÁP CHĂMPA VÀ DI TÍCH CÁT TIÊN
PGS. TS Nguyễn Quốc Hùng
ThS. KTS Nguyễn Minh Khang
Cục Di sản văn hóa
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
1. Đặc điểm cơ bản của đền tháp Chămpa
1.1. Địa hình xây dựng
Thơng qua các đền tháp Chămpa hiện cịn, có thể thấy hai loại địa hình xây dựng chủ
yếu, trên đồi núi và đồng bằng ven sơng, ven sơng. Ngồi ra, các đền tháp tập trung với
số lượng lớn, tạo thành một quần thể, một trung tâm tôn giáo lớn ở vùng “đất thiêng” như
Mỹ Sơn và Đồng Dương là trường hợp riêng biệt.
Với các đền tháp xây dựng trên đồi nói, địa thế cao hơn xung quanh thể hiện quan
niệm của người Chăm về các vị thần ngự ở trung tâm thế giới., trên đỉnh núi Meru.
Vì vậy, đền thờ các thần phải có xu thế hướng đến và gần gũi với trời cao. Khi con
người đến hành lễ ở các đền tháp tức là đến với thần linh thì họ ln mang trong tâm
minh lịng thành kính và những ước vọng tốt đẹp, họ ngước vọng và hướng tâm thức
của mình về phía trời cao. Hơn nữa, người Chăm vốn rất giỏi nghề biển, khi ra khơi
thì tâm thức của họ lại ln hướng về đất liền, ở đó có các vị thần bảo hộ cho sự sống
bình yên của họ, và những ngọn núi cáo ở ven biển là những điểm mốc để họ định vị,
trên đó thường được xây dựng các đền tháp. Dọc ven biển miền Trung nước ta, từ
Bắc vào nam chúng ta có thể nhận thấy các nhóm đền tháp như: đền tháp trên ngọn
núi Linh Thái (Thừa Thiên – Huế), tháp Nhạn (Phú Yên), quần thể đền tháp Po
Nagar (Khánh Hòa)…
Các đền tháp xây dựng ở đồng bằng, gần những con sống hay cửa sơng (như Khương
Mỹ, Chiên Đàn…) thường được hình thành do có những yếu tố thuận lợi về giao
thơng, chun chở vật liệu xây dựng hoặc, có liên quan mật thiết với những quần thể
đền tháp ở phía sâu trong đất liền.

1.2. Bố cục các cơng trình trong tổng mặt bằng đền tháp Chămpa
Các đền tháp trong một tổng thể kiến trúc được bố cục theo nguyên tắc lấy đền tháp


chính (Kalan) hoặc nhóm đền tháp thờ chính làm trung tâm, các đền tháp phụ trợ và hệ
thống tường bao được bố trí xung quanh ngơi đền chính theo chức năng mà nó đảm nhận.


Các đền tháp trung tâm trong tổng thể kiến trúc thường được xây dựng trước. Ngơi đền
trung tâm, hoặc nhóm trung tâm thường ở vị trí cao nhất đối với một tổng thế kiến trúc
trên đồi núi (như nhóm Bánh Ít, Bình Định), ở vị trí có tầm nhìn rộng nhất và địa thể
bằng phẳng nhất đối với tổng thể kiến trúc trên bình địa hoặc ven sơng (như nhóm Chiên
Đàn, Quảng Nam). Sau khi nhóm trung tâm được hình thành thì các trục bố cục cũng đã
được xác định. Hệ trục chính của tổng thể là hai đường thẳng vng góc nhau tại tâm của
ngơi đền trung tâm, trong đó một trục cùng hướng với ngơi đền. Trong tổng mặt bằng đền
tháp Chămpa thường gồm các cơng trình có thương quan vị trí so với đền tháp trung tâm
như sau:
- Tháp Cổng (Gopura): phía trước đền tháp hoặc nhóm đền tháp trung tâm có vai trị dẫn
hướng, thường gắn với tường bao để ngăn cách khơng gian tín ngưỡng;
- Tháp Nhà (Mandapa): phía trước đền tháp trung tâm, có vai trị như một khơng gian
chuẩn bị hành lễ, tập hợp tăng lữ và lễ vật. Từ đền tháp trung tâm nhìn về phía trước có
thể thấy hai dạng bố cục trên trục trung tâm mà ở đó Mandapa có thể đứng trước hoặc
thơng thường là đứng sau (phía ngồi) Gopura và ở cấp nền thấp hơn;
- Tháp Bia: dạng tháp này thường gắn liền với các bia ký đã tìm được trong các tổng thể
nền tháp, vị trí của chúng phụ thuộc vào dạng địa hình nhưng thơng thường cũng nằm về
phía Đơng Nam của ngơi đền trung tâm, phía ngồi tháp Hỏa. Dạng tháp này hiện chỉ cịn
thấy ở Mỹ Sơn và Bánh Ít.
Như vậy, tổng mặt bằng kiến trúc đền tháp Chămpa có sự phân lớp, biểu hiện qua tường
bao hoặc cáp cấp nền cao thấp khác nhau. Các đền tháp trong tổng thể, về mặt không gian
thì ở nơi mang tính trọng tâm nhất, về mặt cao trình thì ở cấp nền cao nhất.
1.3. Các dạng mơ hình tổng thể đền tháp Chămpa
Các nhóm đền tháp Chămpa hình thành theo các dạng bố cục khác nhau tương ứng với
các dạng mơ hình tổng thể khác nhau.
Có hai dạng mơ hình tổng thể và một số trường hợp đặc biệt bao gồm:

- Mơ hình tổng thể một đền tháp trung tâm:
Đây là mơ hình cịn lại phổ biến. Từ Bắc vào Nam, hiện cịn các nhóm: Phước Lộc,
Thủ Thiện, Cánh Tiên, Bình Lâm (Bình Định), Nhạn (Phú Yên), Po Klaung Garai,
Po Rome (Ninh Thuận), Phú Hải – Po Shanư (Bình Thuận), Yang Prong (Đắc Lắc).

Dạng tổng thể này gồm một đền tháp ở vị trí trung tâm và cao nhất tượng trung cho núi
vũ trụ, xung quanh là những ngồi đền phụ trợ. Từ phía Đơng đi vào ngôi đền trung tâm,


bố cục các cơng trình cũng gồm có Gopura, Mandapa vùng các cấp tường thành bao bọc
tượng trưng cho các dãy núi, các đại dương và các vì tinh tú vây quanh chân núi vũ trụ.
Các nhóm đền tháp có dạng tổng thể này nổi bật tính tầng bật. Tổng thể thường được
chia làm nhiều cấp nền khác nhau, có cả các cấp nền nhân tạo. Trong trường hợp các đền
tháp được xây dựng trên đỉnh đồi thì địa hình tự nhiên lại được tôn trọng, đôi khi các khối
đá tự nhiên được để lại một cách có ý đồ mang chức năng như những hòn đá thiêng hay
một vật thờ cúng/tưởng niệm.
- Mơ hình tổng thể bộ ba:
Nhóm trung tâm trong tổng thể gồm ba đền tháp dàn ngang theo trục Bắc Nam. Ba đền
tháp thường có một thềm sân chung, có cùng cao độ nền hoặc chênh nhau khơng đáng kể.
Thơng thường, nhóm này có tường bao phân định ranh giới rõ rệt. Ở trục giữa, từ Đông đi
vào khu trung tâm được chia thành các cấp nền khác nhau có tường ngăn, tương ứng với
nó là các cơng trình liên quan như Gopura, Mandapa. Vì các cơng trình này được bố cục
trên trục giữa và nằm phía ngồi tường bao khu trung tâm cho nên có thể hiểu khu
trung tâm như một đền thờ lớn gồm ba cơng trình độc lập. Nhận thức này giúp chúng ta
dễ dàng nhận thấy mơ hình tổng thể bộ ba được cấu trúc phân lớp mặt bằng: Gopura –
Mandapa – Kalan tạo nên ba khơng gian: khơng gian bền ngồi Gopura, khơng gian từ
Gopura đến hết Mandapa và khơng gian chính. Một dạng cấu trúc khác thấy nhiều ở Mỹ
Sơn là Mandapa – Gopura – Kalan. Ba không gian này thể hiện rõ tinh thần vũ trụ luận
Ấn Độ giáo, trong đó có khu đền thờ chính là trung tâm thế giới, nơi ngự của các vị thần,
các cơng trình khác và các vệt tường như những thiên thể, những vì tinh tú (Graha) và đại

dương vũ trụ bao la. Ba không gian cũng tượng trưng cho các chu kỳ của tự nhiên: sinh
sôi, phát triển và hủy diệt, hủy diệt để rồi lại sinh sôi tuần từ ở một chu kỳ tự nhiên khác
hồn thiện hơn.
Các đền tháp Chămpa có mơ hình tổng thể bộ ba cịn lại gồm: Chiên Đàn, Khương
Mỹ (Quảng Nam), Dương Long, Hưng Thạnh (Bình Định) và có thể là Hịa Lai (như
vẫn được hiểu từ trước đến nay)1.

Những trường hợp như Mỹ Sơn, Đồng Dương thực chất cũng được hình thành bởi hai
dạng bố cục nêu trên.
Một số trường hợp đặc biệt:

1

Chúng tôi cho rằng, nhóm Hịa Lai khơng phải dạng bộ ba mà thực chết là sự tập hợp của ba cụm dạng một nền
tháp trung tâm.


Đây là những trường hợp mà, khi nhìn vào tổng mặt bằng, chúng ta không các đinh được
thật rõ chúng thuộc dạng mơ hình nào, như các trường hợp Mỹ Khánh, Bằng An, Po
Nagar.
Với Mỹ Khánh, chỉ có một đền tháp và một dài thờ phía trước, hiện nay chưa phát
hiện được vác thành phần liên quan khác (như tường bao). Với tư liệu hiện có, tạm
chấp nhận đây là dạng mơ hình một đền tháp riêng lẻ.
Với bằng An, theo bản vẽ của Henri Pamentier thì tổng mặt bằng gồm có 3 cơng
trình nhưng khơng cùng trục Bắc Nam và các đền thờ phụ khơng hẳn có tính “vây
quanh” đền tháp trung tâm (đền tháp có mặt bằng điện thờ hình bát giác hiện cịn).
Bố cục các cơng trình dường như có dấu hiệu giống với tổng mặt bằng các nhóm
kiến trúc Tiền Angkor (Sambour Prei-Kuk) nhưng khơng hồn chỉnh.
Với Po Nagar, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng đây ngun là một mơ hình
tổng thể bộ ba, về sau một trong các đền tháp phát triển thành đền thờ chính và có vai

trị như một tháp trung tâm trong tổng thể2.

1.4. Hướng đền tháp
Hầu hết các nhóm đền tháp Chămpa đều quay về hướng Đơng. Theo vũ trụ luận Ấn Độ
giáo thì hướng Đơng – nơi có mặt trời mọc là hướng của thần linh ngự trị, nơi có nguồn
gốc sự sống và mở đầu cho sự vận hành của vũ trụ. Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình, do
chức năng hoặc một lý do đặc biệt khác mà, một số nhóm kiến trúc và đền tháp khơng
hướng về Đơng.
Nhóm đền tháp Po Dam có hướng Tây Nam, trong đó tháp D (theo ký hiệu của Henri
Parmentier) lại có hướng Đơng Nam; tại Bằng An, theo bản vẽ của Henri Parmentier
đầu thế kỷ XX thì nhóm này còn lại ba đền tháp, ngồi đền trung tâm có bình đồ giác
cùng hai ngơi đền nhỏ ở góc Tây Bắc và Đơng Nam, trong đó có cửa của ngôi đền
Đông Nam quay về hướng Tây. Tại Mỹ Sơn, ngôi đền Mỹ Sơn A1 được trổ cửa ở
các mặt Đơng và Tây, nhưng rõ ràng hướng chính của ngơi đền này là hướng Tây,
bởi vì phía trước (phía Tây) của Mỹ Sơn A1 có Mỹ Sơn A8 là dạng tháp Cổng, tiếp
đến là A9 mà hiện trạng ở đầu thế kỷ XX không giúp xác định thật rõ dạng mặt bằng
của nó, có thể đây là một Mandapa (?)…

1.5. Chức năng của tổng thể đền tháp

2

Nguyễn Công Bằng (2000), “Tháp Bà ở Nha Trang”, Luận án tiến sĩ lịch sử, Biện Khảo cổ học – Trung tâm Khoa
học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, tr 37, 46; Nguyễn Duy Hinh (1988), “Kalan Chàm nhận thức mới”, TC
Khảo cổ học số 3-1988, tr 59-71, Hà Nội.


Đền tháp Chămpa có hai chức năng chính: Thành đường thờ thần (Davàlaya) và Tu viện
Phật giáo (Vihara).
- Thánh đường thờ thần là chức năng của hầu hết các đền tháp Chămpa, trong đó có cả

các đền tháp ở Mỹ Sơn. Đây là chức năng chính và đặc trưng tín ngưỡng nổi bật của các
đền tháp Chămpa. Các vị thần, theo quan niệm tôn giáo, ngự trị trong các ngôi đền dưới
ba dạng tượng thờ: tượng Linga – Yoni, tượng vua Chămpa và tượng nữ thần (hiện chỉ
còn được biết ở nhóm đền tháp Po Nagar, Khánh Hịa).
Trong các loại Linga cần lưu tâm đến loại Linga bà phần thể hiện bộ ba thần thượng,
trong đó phần dưới có mặt cắt ngang hình vng tượng trưng cho thần Brahma, phần
giữa hình bát giác tượng trưn cho thần Visnu và phần trụ tròn ở trên tượng trưng cho
thần Siva. Loại Linga này thể hiện tư tưởng Tạm vị nhất thể (Trimuti). Cũng với ý
nghĩa đó, với loại Linga chỉ có hai phần (bát giác và trịn) hay chỉ có một phần (hoặc
trịn hoặc bát giác) có liên quan trực tiếp đến chức năng của đền tháp (thờ thần Visnu
bên cạnh Siva hoặc thờ riêng Visnu, Siva). Không thấy xuất hiện Linga chỉ có một
phần vng hoặc vng kết hợp với bát giác. Một loại Linga khác đặc biệt hơn, có
chạm khắc mặt người – mukhalinga. Đây là sự thể hiện tín ngưỡng Thần – Vua ở
Chămpa theo phong tục đặt tên hiệu của nhà vua gắn với tên của các thần, nhất là tên
thần Siva. Và, khi đó đền tháp vừa là thánh đường thờ các thần linh tối thượng vừa là
đền thờ vua, biểu hiện sự tơn kính của nhân dân Chăm đối với các vị vua, biểu hiện
rất sâu đậm tính bản địa của văn hóa Chămpa. Kết hợp với việc đặt tượng vua trong
lịng đề tháp, thì việc thờ Mukhalinga cũng biểu hiện một hình thức cao hơn của việc
thờ cúng tổ tiên của người Chăm bên cạnh tín ngưỡng Thần – Vua. Về tượng nữ
thần, tại ngơi đền trung tâm của nhóm Po Nagar có pho tượng đá đặt trên bệ Yoni.
Với những tư liệu có được cho đến nay thì có thể coi đây là tượng thờ đặc biệt nhất
và duy nhất còn lại trong nghệ thuật Chămpa. Pho tượng thể hiện một nữ thần ngồi
xếp bằng trên đài sen, sau lưng là tấm tựa hình lá đề (hay lá nhĩ). Nữ thần có mười
tay, trong đó tám tay cầm các khí giới đặc trưng của thần Siva. Vì vậy, các nhà
nghiên cứu cho rằng đây chính là tượng nữ thần Uma hay Bhagavati – biểu hiện âm
tính của thần Siva dưới dạng Sarti (hay vợ) của thần3.

Thông qua các dạng tượng thờ, chức năng thánh đường của đền tháp Chămpa có thể nhận
biết cụ thể hơn, là thánh đường thờ các vị thần Ấn Độ giáo dưới dạng tượng Linga –Yoni,
là thánh đường thờ thần kết hợp thờ vua và tổ tiên người Chăm và, là thánh đường thờ

riêng Siva.
- Tu viện Phật giáo là chức năng được biết đến thông qua các đền tháp ở Đồng Dương
(Quảng Nam). Đây là một trung tâm tôn giáo quan trọng của Chămpa trong lịch sử mà,
3

Nguyễn Công Bằng, sđd, tr 131.


mọi biểu hiện nghệ thuật của các cơng trình đều mang những đặc điểm chung của kiến
trúc đền tháp Chămpa nhưng xuất hiện một số đền tháp có hình dáng đặc biệt như dạng
tháp mộ trong kiến trúc Phật giáo. Như chúng ta đều biết, các đền tháp ở Đồng Dương
được xây dựng trong giai đoạn Phật giáo phát triển mạnh mẽ, kéo dài 40 năm (từ 875 đến
915), ở phía Bắc Chămpa. Bên cạnh đó, những yếu tố liên quan đến đạo Phật vẫn luôn
luôn tồn tại trong điêu khắc Chămpa nhưng ẩn hiện và không thường xuyên4.
Về điêu khắc và tượng, có thể nhận thấy một đặc điểm là bề mặt các đền tháp ở Đồng
Dương thường được phủ kín đến mức rối rắm bằng các oại hình hoa văn như thể hiện
một nỗi lo sợ khoảng trống. Các đền tháp ở đây cũng thể hiện sự độc đáo và kỳ lạ
trong nền nghệ thuật Chămpa5. Tượng thờ ở Đồng Dương, với những gì đã biết khiến
chúng ta suy nghĩ về những hình ảnh của nghệ thuật Phật giáo phong cách Amaravati
của Ấn Độ và có thể đốn định rằng ở Đồng Dương không xuất hiện tượng thờ dạng
Linga – Yoni… Tất cả đều thể hiện chức năng thờ Phật của các đền tháp Đồng
Dương.

1.6. Cấu trúc các đền tháp Chămpa
a. Cấu trúc mặt bằng
Về cơ bản, các đền tháp Chămpa có hai dạng mặt bằng chính (hình vng, hình chữ
nhật), và các dạng đặc biệt.
Xét mặt bằng kiến trúc với đầy đủ các thàng tố nghệ thuật, với sự tham gia của các
khối cửa giả, ô khám lịng tháp thì có các biến thể khác như: dạng mặt bằng chữ thập,
dạng mặt bằng hình dấu cộng.

Các dạng mặt bằng đặc biệt như mặt bằng các đền tháp Bằng An và Dương Long.
Ngôi đền Bằng An, mặt bằng khối điện thờ hình bát giác. Ở đây dường như tháp
Cổng (mặt bằng hình vng) được gắn ngay với khối điện thờ thơng qua một vịm
cửa dẫn tương đối ngắn tạo nên một hình ảnh chân thực về hình tượng Yoni. Trường
hợp các đền tháp Dương Long đặc biệt hơn. Về cơ bản, các đền tháp này có mặt bằng
hình vng, thấy rõ trong lịng tháp, nhưng các mặt tường phía ngồi lại được giật
nhơ ra và thu nhỏ dần tịnh tiến về phía các cửa. Thủ pháp này có thể tạo nên hai cách
hiểu về dạng mặt bằng của Dương Long. Khi nối các góc tháp với nhau sẽ được một
hình vng, khi nối tất cả các điểm góc tường tháp với nhau sẽ được một hình đa
giác có xu hướng nội tiếp một đường trịn.

4

Xem thêm: Ngơ Văn Doanh (1994), Tháp cổ Chămpa – Sự thật và huyền thoại, NXB Văn hóa – Thơng tin, Hà
Nội; Thơng Thanh Khánh (1999), Dấu ấn Phật giáo Chămpa, NXB Mũi Cà Mau, TP Hồ Chí Minh;
5
Philippe. Dtẻn (1942), sđd, tr 49.


Mặt bằng của điện thờ Bằng An và đền tháp Dương Long thể hiện rất rõ nét tính
hướng tâm và đăng đối, như một trong những đặc trưng mặt bằng đền tháp Ấn Độ
giáo, sự biểu hiện phương vị của các thần cũng rõ ràng hơn. Mặt bằng của cả đền
tháp Bằng An cho thấy rõ rệt hơn tám hướng (tám phương vị), nhấn mạnh tính chủ
đạo của hướng Đơng; và biểu hiện sự phát tỏa năng lượng, theo tinh thần vũ trụ luận
Ấn Độ giáo, cân bằng hơn so với cách thể hiện bằng góc và cạnh của dạng mặt

bằng hình vng.
b. Cấu trúc mặt đứng
Cấu trúc mặt đứng của các đền tháp Chămpa được chia làm ba phần: Đế, thân và mái.
Trong đó, đế tháp tượng trưng cho thế giới âm, thân tháp là nơi trần thế thuộc về con

người và mái tháp tượng trưng cho thế giới thần linh6. Trên các đền tháp được trang trí
hoa văn và các thành tố nghệ thuật khác lặp đi lặp lại biểu hiện các chu kỳ diễn tiễn tuần
hoàn của thời gian vũ trụ, cũng thể hiện vô lượng kiếp tái sinh của con người. Cấu trúc
mặt đứng cũng thể hiện cho chúng ta thấy các đền tháp biểu hiện một dãy núi đồ sộ có
một đỉnh cao và bốn sườn thấp, trong đó sườn hướng Đơng kéo dài hơn và thoải hơn. Các
đền tháp có khối Tiền sảnh phát triển hoặc có các tháp nhỏ ở góc các tầng mái thì Tiền
sảnh và các tháp góc tạo thành những ngọn núi nhỏ như các thiên thể bao quanh đỉnh cao
vũ trụ.
Đế tháp được xây bề thế tạo thành nhiều tầng bậc. Cảm nhận đầu tiên về sự vững
chãi của cơng trình được thấy qua đế tháp do việc tạo tác các phần chi tiết giật loe
rộng dần ra phía ngồi. Nhưng thực chất, sự bền vững của cơng trình lại quyết định
bởi các yếu tố khác, đặc biệt là yếu tố kỹ thuật và vật liệu xây dựng. Các thành phần
tạo nên đế tháp nhiều khi chi đơn thuần mang tính trang trí. Trang trí phổ biến và
cũng là yếu tố đặc trưng tại đế các đền tháp Chămpa là các hình áp. Đúng như tên gọi
“hình áp” của nó, các khối trang trí này chỉ được gắn với khối thân chính bằng rất ít
liên kết. Hình thức của khối ốp gồm ba phần: phần trên thường là khối hình lá đề
(hay lá nhĩ), phần giữa hình chữ nhật (hoặc vuông), phần đế kết thúc bằng các đường
giật của khối xây loe rộng ra. Một số đền tháp sử dụng các dải phù điêu đá để làm
trang trí áp, như các đền tháp Khương Mỹ, Chiên Đàn ở Quảng Nam. Tại các nhóm
Hịa Lai, kết quả khai quật khảo cổ học phế tích đền tháp Giữa cho thấy tồn bộ trang
trí chân đế là một khối xây độc lập, xây sau và áp vào khối thân tháp. Các vách tường
thẳng đứng, trơn nhẵn, khơng có dấu vết câu nối của khối thân chính và có sự tồn tại
của một khe rãnh hẹp xung quanh cho biết rõ điều này.

6

Trần Kỳ Phương – Shigeeda Yutaka (202), “Phế tích Champa Khảo luận về kiến trúc đền – tháp”, TC Nghiên cứu
và Phát triển số 1(35)/2002, tr 75-88, Huế, tr 43



Thân các đền tháp có dạng cơ bản là khối lập phương được trang trí chủ yếu bằng các
cột ốp, các khung và vòm cửa. Số lượng các cột trên mặt đứng thân tháp thay đổi
theo hiên đại xây dựng và loại hình đền tháp. Mặt tường các đền tháp chính thường
có bốn hoặc năm cột, một số đền tháp do sự phát triển rộng ra của khung cửa nhưng
độ cao vịm cửa chưa phát triển thì cột ốp giữa tường nhìn thấy rõ hơn. Các cột đặt
cạnh nhau, nẩy ra khỏi mặt tường tại thành các ô khám ở giữa các cột chạy dọc thân
tháp, kết thúc ở mỗi đầu cột là diềm tường bao quanh chu vi thân tháp được đỡ bởi
cấu trúc dạng “con sơn”. Đầu cột và chân cột thường đăng đối nhau qua một đường
thẳng nằm ngang đi qua giữa cột. Một yếu tố rất đặc trưng và quan trọng khác trên
thân các đền tháp là cấu trúc vịm cửa. Vịm cửa dẫn hướng Đơng phát triển hơn các
vòm cửa giả cho thấy cấu trúc vòm mái hai phương rõ rệt. Ở một số đền tháp có Tiền
sảnh phát triển thì vịm cửa bị thu ngắn lại và khó nhận ra hơn. Có thể nói, khung cửa
và vịm cửa, cột ốp và các ơ khám là các thành tố quan trọng phản ánh đặc điểm kiến
trúc thân các đền tháp.
Mái tháp, thông thường gồm 3 tầng, từ dưới lên trên thu nhỏ dần và cũng thu ngắn
dần chiều cao. Kết thúc phần mái là chóp tháp bằng gạch hoặc đá, dạng quả khế hoặc
búp sen và hoa sen. Riêng trường hợp các tháp Hưng Thạnh (Bình Định) có thể đã
từng có một dạng chóp/mái đặc biệt. Xét về cấu trúc, có thể chia thành năm loại mái.
Loại thứ nhất, các tầng mái có dạng mặt bằng và hình thức mặt đứng thu nhỏ và thu
ngắn lặp lại phần thân. Loại này thường là các đền tháp có niên đại sớm như Phú
Hài, Khương Mỹ… Loại thứ hai, các tầng mái để lại một diện tích đủ rộng cho các
cột ốp góc vươn lên hình thành một khối trang trí góc các tầng, cấu trúc được gọi là
tháp góc do hình thức của nó. Loại mái này thấy phổ biến trong phong cách Bình
Định. Loại thứ ba, khơng hình thành các tầng mái mà từ diềm đỉnh tưởng của phần
thân, chân mái bắt đầu thu dần về phía đỉnh theo một đường cung trịn bán kính lớn.
Về mặt của các mái loại này thường trơn nhẵn, khơng có trang trí gì đặc biệt. Loại
này thường xuất hiện, hoặc là ở các đền tháp phụ (Po Nagar B), hoặc là tại các đền
tháp có niên đại muộn (Yang Prong), hoặc vì một lý do tơn giáo đặc biệt (như trường
hợp đền tháp Bằng An). Loại thứ tư là loại mái hình thuyền trên các tháp Hỏa gợi lại
hình ảnh mái nhà cổ xưa của các dân tộc ở vùng Đông Nam Á. Do yếu tố kỹ thuật,

chủ yếu là kỹ thuật tạo vịm, và do hình thức mặt bằng kiến trúc (chữ nhật), các đền
tháp có mái loại này thường là dạng tháp thấp. Ngoài bốn loại mái nêu trên, chúng ta
cịn có thể xét đến cấu trúc các tầng phía trên của một số tháp phụ Đồng Dương và
coi đó như một dạng mái thứ năm, dạng đặc biệt gợi nên hình ảnh các tháp Chùa
(Stupa) trong kiến trúc Phật giáo. Mái của các đền tháp Dương Long cũng có thể xếp
vào loại này.

Xét tồn bộ cấu trúc mặt đứng, đặc biệt là cấu trúc mái, hầu hết các đền tháp chính trong
một tổng thể đền tháp Chămpa hình thành ba dạng mơ hình khác nhau. Bao gồm: Mơ
hình Shikhara, Stupa và Linga.


Mơ hình Shikhara, tương ứng với dạng mái thứ nhất và thứ hai vừa nên trên. Các đền
tháp khác có dạng mái thứ 3, như đền tháp Yang Prong, thể hiện mơ hình Shikhara giản
lược; mơ hình Stupa; tương ứng với dạng mái thứ năm (ở Đồng Dương, các đền tháp
chính có mơ hình Shikhara, một số đền tháp phụ có mơ hình Stupa); mơ hình Linga, theo
chúng tơi là riêng có đền tháp Bằng An cịn lại trong lịch sử kiến trúc đền tháp Chămpa
thể hiện mơ hình này.
c. Cấu trúc mặt cắt lịng đền tháp
Lịng tháp, tính từ mặt nền, được chia thành hai phần theo chiều cao. Phần dưới, tương
đương với thân tháp phía ngồi, là các vách tường thẳng đứng. Trên các vách tường có
trổ các ô khám, ô khám nhỏ là nơi đặt đèn nến phục vụ hành lễ, ở một số đền tháp có trổ
các ơ khám lớn ở vị trí mà phía ngồi là cửa giả, hoặc các mảng đục chạm khơng thành
hình rõ rệt. Các ô khám trên các vách tường tạo cho lịng tháp có một khơng gian sinh
động hơn và nó thể hiện hình ảnh của các hang động trong lòng núi, đây cũng là hiện
tượng thấy phổ biến trong kiến trúc Ấn Độ giáo. Phần trên là một cấu trúc dạng vịm
khơng gian được tạo nên bởi các hàng gạch giật liên tiếp về phía tâm và đỉnh của đền
tháp. Đối với các đền tháp mặt bằng hình chữ nhật, khơng xuất hiện vịm khơng gian mà
chỉ có thể có vịm hai phương do cạnh dài của hình chữ nhật đủ lớn đến mức khơng kết
thúc được đỉnh vịm. Cấu trúc vịm khơng gian chỉ xuất hiện ở các đền tháp có mặt bằng

cơ bản hình vng hoặc độ dài các cạnh chênh nhau khơng đáng kể. Khi đó, bốn mặt
tường thu đều về phía trong tạo nên bốn giao tuyến ở các góc và chúng sẽ gặp nhau tại
một điểm, chính là điểm nằm trên trục trung tâm của đền tháp biểu hiện cho trục vũ trụ
trong cấu trúc đền núi vũ trụ Ấn Độ giáo. Thực chất điểm này tồn tại trên lý thuyết, bởi vì
trên đỉnh các lòng tháp thường để lại một khoảng rộng, dạng lỗ thông thiên, đủ chổ làm
mộng cho các chi tiết đỉnh tháp gắn vào.
Theo khảo sát của chúng tôi, ở các đền tháp mà các cạnh mặt bằng có độ chênh lệch
đáng kể đến mức giao tuyến của bốn góc mái khơng tạo thành một hình vng thì
đỉnh mái trong long tháp được bịt kín khi kết thúc, khi đó một khối xây được tạo ra
chỉ để cho chi tiết đỉnh tháp gắn vào. Hiện tượng này thấy được ở Khương Mỹ, khối
gạch hình bát giác ở đỉnh tháp Bắc Hịa Lai cũng có chức năng này. Một chi tiết quan
trọng khác trong lòng tháp xuất hiện ở cao độ kết thúc các tầng mái là ở bốn mặt
tường có các lỗ thơng ra phía ngồi. Vai trị của nó như ống hút khói, có thể nó cịn
mang ý nghĩa là các khe nhỏ trên các vách hang động trong lịng núi thơng ra phía
ngồi.


1.7. Điêu khắc trên các đền tháp Chămpa
Một trong những yếu tố khơng thể khơng nhắc đến trong văn hóa và kiến trúc đền tháp
Chămpa là nghệ thuật trang trí cùng với ý nghĩa và tính biểu tượng của nó. Điêu khắc và
các dải trang trí cùng các dải trang trí hiện trên các thành phần cấu tạo kiến trúc đền tháp
như cột ốp, vịm cuống, các ơ khảm hay diềm mái… dưới hình thức tượng thần, các linh
vật. các cảnh sinh hoạt hay hoa lá cỏ cây…
Sự nhận dạng cấu trúc các đền tháp Chămpa đã làm nổi bật vai trò các thành phần cấu tạo
kiến trúc, gắn kết chặt chẽ với chúng ta là điêu khắc và các dải trang trí tạo nên cơng trình
kiến trúc là tập hợp của các thành tố nghệ thuật có tính thẩm mỹ và tương quan tỷ lệ.
Có thể nhận thấy các thành tố nghệ thuật kiến trúc chủ yếu trên các đền tháp Chămpha,
bao gồm: khổi ốp đế, cột ốp, ô khám vách tường, bộ diềm (tường, mái, cột…), khung cửa
(lanh tơ, trán tường hay tympan…), tháp góc và hình điểm góc với các trang trí liên
quan… được thể hiện trong bảng dưới đây.

Bảng 1: Các loại hình điêu khắc tiêu biểu trên đền tháp Chămpa
TT
1
2

3
4
5
6

Loại hình điêu khắc tiêu biể
Tượng thần (Siva, Brahma, Visnu hoặc
các nữ thần)
Vật cưỡi hoặc liên quan đến các thần
trong bộ ba thần (Nadin, Hamsa, Garuda,
Nagar)
Vật cưỡi của các thần phương hướng
(voi, ngựa, cỗ xe…)
Sinh thực khí Linga - Yoni
Các mơn thần (Dvarapala)
Hoa văn hình học, hoa lá và hình thú

Vị trí
Tympan (trán tường) ơ khám
vịm cửa dẫn
Đầu cột ốp, góc tháp
Theo phương vị của các thần
trên các mặt tường tháp
Trong lịng đền tháp
Ơ khám khung cửa giả

Mặt tường, bộ diềm…

Riêng về hình tượng Makara, một quái vật vừa giống cá sấu vừa giống voi và sư tử,
Georges Maspero cho đây là hình tượng chỉ thấy duy nhất trong nghệ thuật Chămpa7.
Theo vũ trụ luận Ấn Độ giáo, Makara là quái vật sống ở các đại dương vây quanh
chân núi Meru. Nếu quan niệm này được tn thủ chặt chẽ trong điêu khắc Chămpa
thì vịt rí của các Makara phải được xuất hiện ở phần chân đền tháp. Tuy nhiên trên
thực tế, Makara xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trên đền tháp như trên bộ diềm đầu
cột các đền tháp Chiên Đàn hay trên vịm của các đền tháp Dương Long… Theo
chúng tơi, đó chính là một nét độc đáo thuộc về tính bản địa của nghệ thuật Chămpa,
một nỗ lực nhằm không áp dụng máy móc tư tưởng văn hóa Ấn Độ trong điêu khắc
Chămpa.
7

Georges Maspero (1928), Le Royaume de Champa, Paris, tr. 38 .


1.8. Kỹ thuật xây dựng đền tháp Chămpa
Kỹ thuật xây dựng đền tháp Chăm pa được thể hiện ở ba yếu tố chính: Vật liệu, chất liên
kết và phương pháp tạo ra khối xây.
a. Vật liệu và chất liên kết
Vật liệu chính dùng trong xây dựng các đền tháp Chămpa là gạch, kết hợp với đá (chịu
lực hoặc trang trí, chủ yếu là loại đá kế/sa thạch) và các loại khác như đá ong, đất nung.
Gạch được làm từ đất sét hay sét pha cát có trộn thêm tro, trấu, được nhào luyện kỹ và có
các đặc trưng cũng như các tính chất cơ lý khác hẳn các loại gạch thông thường do các
thành phần đất, công nghệ nung… Theo các kết quả nghiên cứu gần đây nhất, gạch trên
các đền tháp Chămpa có các đặc điểm chính như sau: Gạch được nung nhẹ lửa, nhiệt độ
nung không vượt quá 800 ~ 850oC; gạch có độ xốp lớn, khối lượng thể tích nhỏ và độ hút
nước cao; cường độ chịu nén đạt xấp xỉ 100 daN/cm2, không bị nứt rạn, cong vênh; sự
dao động các chỉ tiêu cơ lý khá lớn, song cơ bản có khối lượng thể tích trung bình γv =

1,60 kg/dm3, độ hút nước khoảng 20%, độ mài mòn khoảng 1,25 g/cm2, cường độ chịu
nén 75,5 daN/cm2, cường độ chịu uốn 20,5 daN/cm2…8
Chất liên kết được sử dụng trên các đền tháp Chămpa, theo kết quả nghiên cứu được sự
đồng thuận của nhiều nhà khoa học, là loại nhớt thực vật, có thể là loại nhớt được chiết
xuất từ cây Ô dước hoặc Bời lời.
b. Phương pháp tạo ra khối xây
Phương pháp tạo ra khối xây, hay kỹ thuật xây là điểm đặc biệt có ý nghĩa quyết định sự
bền vững của các đền tháp. Đây cũng chính là đề tài được bàn đến trong suốt một thế kỷ
qua, nó được coi là một bí ẩn thách thức các nhà khoa học. Hầu như tất cả các nhà nghiên
cứu về Chămpa đều quan tâm đến việc lý giải về kỹ thuật xây dựng ở một mức nào đó.
Gần đây nhất, năm 2004, viện KHCN XD đã kết thúc thành công một đề tài nghiên cứu
về kỹ thuật xây dựng các đền tháp Chămpa. Theo đó, những đặc điểm nổi bật về kỹ thuật
xây các đền tháp Chămpa có thể tổng kết như sau:
- Kỹ thuật xử lý nền:
Cấu tạo nền gồm các lớp như sau: dưới cùng là các lớp đệm cát trộn với sét hoặc cát trộn
với chất kết dính, có thể là chất kết dính thực vật; sỏi cuội trộn sét, đá nhỏ trộn sét, đầm
chặt; gạch vỡ trộn sét đầm chặt; gạch vỡ trộn sét đầm chặt; đá ong, đá san hô, sa thạch
8

Trần Bá Việt (Chủ biên – 2005), Nghiên cứu kỹ thuật xây dựng tháp Champa phục vụ trùng tu & phát huy giá trị di
tịch, NXB Xây dựng, Hà Nội, tr 243


xếp dưới móng. Độ dày các lớp này từ 10cm đến 20 cm cho đến hơn 01m tùy theo vị trí,
địa hình cụ thể hoặc tùy theo khả năng khai thác vật liệu tại chỗ vào thời điểm xây dựng.
- Kỹ thuật xây móng:
Móng các đền tháp Chămpa nhìn chung có chiều cao lớn, có thể từ 01m đến 03m so với
mặt đất tự nhiêm và so với sân hành lễ. Gạch xây móng có kích thước tương đương với
gạch xây tháp, tuy nhiên người ta nhận thấy việc xây móng khơng kỹ bằng xây thân tháp.
- Kỹ thuật mài tiếp xúc:

Khi quan sát các viên gạch qua ảnh chụp bằng kính lúp và bằng mắt thường nhận thấy vết
xước trên mặt viên gạch. Các vết xước của bề mặt hai viên gạch liền kề là trùng nhau. Có
thể một viên gạch này tiếp xúc với mặt của hai viên gạch khác, khi đó nhận thấy có vết
mài theo hai hướng khác nhau, mép các viên gạch cũng cao hơn vị trí tiếp xúc mặt của
chúng. Điều đó cho thấy khối gạch có thể được xây theo phương pháp mài tiếp xúc (mài
chập), là phương pháp mài tại chỗ trong khi xây.
Đến nay, nhiều cơng trình nghiên cứu ghi nhận đền tháp Chămpa được xây dựng
theo kỹ thuật mài tiếp xúc có lớp vỏ trong, vỏ ngồi và lớp ruột. Cụ thể như sau: Lớp
vỏ trong và ngoài co chiều dày trung bình bằng cạnh dài viên gạch; giữa lớp vỏ trong
và ngồi có liên kết bằng cách xây các viên câu đầu, bắt mỏ với lớp ruột; các viên
gạch được xây ít trùng mạch, mạch xây ở lớp vỏ trong và ngồi gần như liền khít; lớp
ruột được xây khơng kỹ thuật bằng lớp vỏ, có thể độn thêm gạch vỡ kết hợp bột gạch
nhào với chất liên kết; việc xây mài chập tạo ra lớp bề mặt tháp có chất lượng cao,
chính là lớp áo bảo vệ chống xâm thực, chống bào mòn, chống ăn mòn vi sinh tốt
cho tồn khối xây.
Tuy nhiên, cịn một số vấn đề cần được làm rõ trong kỹ thuật xây như: phải mất bao
nhiêu thời gian thì mới hồn thành được một đền tháp theo phương pháp mài chập,
sự ổn định và bền vững của các lớp gạch xây trước và ở mặt trên cùng của cơng
trình?...

- Kỹ thuật điêu khắc:
Các đền tháp Chămpa được hoàn thiện bằng việc chạm khắc họa tiết trang trí. Khi quan
sát đường nét điêu khắc, nhất là các hoa dây, các chi tiết áp tường, nhận thấy đường nét
liên tục, trơn đều khi cắt qua mạch giữa các viên xây. Ở một số chi tiết điêu khắc chưa
hồn chỉnh, mới chỉ tạo hình thơ, hoặc các chi tiết điêu khắc mang tính đăng đối, song bị
quyêm hoặc chưa kịp thực hiện, nhận thấy rõ rằng việc điêu khắc được thực hiện trên mặt
tường sau khi xây. Điêu khắc được tiến hành qua ba bước: tạo khối, tạo hình sơ bộ va
điêu khắc chi tiết.



- Một đặc điểm nổi bật trong kỹ thuật xây dựng đền tháp Chămpa là kỹ thuật tạo vòm. Kỹ
thuật tạo vòm của người Chăm thực chất là việc xếp chồng các viên gạch phía trên chờm
ra ngồi viên gạch dưới cho đến khi hai phương gặp nhau ở đỉnh tạo thành vịm, khơng
phát hiện thấy kỹ thuật khóa đỉnh vòm. Độ vươn cao của vòm phụ thuộc vào hai yếu tố:
độ rộng của chân vòm và độ giật ra của các hàng gạch tạo thành vịm.
Tóm lại, đền tháp Chămpa có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Được xây dựng trên đồi, núi hoặc đồng bằng ven song, ven biển, quần thể đền tháp ở
thung lũng Mỹ Sơn là trường hợp riêng biệt.
- Hướng chính của tổng thể đền tháp là hướng Đông với cặp bố trục bố cục vng góc đi
qua tâm đền tháp trung tâm (hoặc đền tháp Giữa trong ba đền tháp).
- Có hai dạng bố cục tổng thể chính: dạng một đền tháp và dạng bộ ba đền tháp là trung
tâm trong tổng thể kiến trúc gồm các đền thờ, kiến trúc phụ trợ và tường bao vây quanh
tạo nên các cấp nền/tầng bậc tổng thể. Một số trường hợp đặc biệt khác không thuộc hai
dạng bố cục nêu trên.
- Cấu trúc mặt bằng cơ bản là hình vng/khối lập phương kết hợp với các cửa tạo nên
các dạng mặt bằng cơ bản: hình vng, hình chữ nhật, các biến thể và các dạng đặc biệt.
Cấu trúc mặt đứng gồm ba phần: đế, than và mái. Mặt cắt long đền tháp chia làm hai
phần (chưa tính đến cấu trúc móng), trong đó phần trên thu dần về phía đỉnh và gặp nhau
tại một điểm ước lệ nằm trên trục thẳng đứng đi qua tâm đền tháp.
- Đề tài trang trí phong phú, đa dạng, từ hình ảnh các thần Ấn Độ giáo, vật liên quan đến
các thần và hoa lá. Chạm khắc trực tiếp trên mặt tường của đền tháp.
- Vật liệu xây dựng chủ yếu có hai loại: gạch và đá, trong đó gạch được nung ở nhiệt độ
không cao (nhẹ lửa) từ đất sét được nhào luyện kỹ thuật có trộn thêm tro, trấu tạo nên các
tính chất cơ bản như: có nhiều thể tích lỗ rỗng nên nhẹ, độ hút nước cao, tuy xốp, mềm và
có độ mài mịn khá lớn song vẫn đảm bảo cường độ chịu nén và không bị trong tróc hay
vỡ nứt mảng lớn.
- Về kỹ thuật xây dựng, dựa vào một số kết quả nghiên cứu gần đây thì có thể cho rằng
(và cũng cần nghiên cứu thêm) khối xây đền tháp Chămpa sử dụng phương pháp mài
chập/mài tiếp xúc các viên gạch theo phương vuông góc với tường tháp có sử dụng nhớt
thực vật làm chất kết dính.



2. Từ những đặc điểm cơ bản của đền tháp Chămpa, nghiên cứu sơ bộ về các di tích ở
Cát Tiên, chúng tôi nhận thấy giữa các đền tháp Chămpa và di tích Cát Tiên có những nét
tương đồng, trong đó có một số điểm đáng chú ý như sau:
- Vị trí địa lý, địa hình, địa thế di tích Cát Tiên có điểm tương đồng với Mỹ Sơn, đều là
thung lũng gắn với các dịng sơng lớn (sơng Đồng Nai và sơng Thu Bồn). Ở đây, sơng
vừa có vai trị là đường giao thơng dành cho tín đồ ngược dịng đi đến trung tâm tơn giáo
ở vùng đất thiêng vừa thể hiện sự thấm nhuần thuyết nhị nguyên về vũ trụ của dân cư bản
địa gồm hai mặt đối lập nhau như núi và biển/núi (gắn với và bao bọc hình thành thung
lũng) và sơng.
- Về bố cục các cơng trình trong tổng mặt bằng: có những thơng tin đáng lưu ý khi nghiên
cứu tháp IIa và IIb của di tích Cát Tiên, đó là vị trí và trật tự xây dựng của chúng. Tháp
IIb nằm ở phía Bắc của tháp IIa và nếu nó được xây dựng sau IIa để hình thành tổng thể
bộ ba9 thì xét về trật tự xây dựng có điểm tương đồng với trật tự xây dựng các đền tháp
bộ ba trong lịch sử kiến trúc đền tháp Chămpa, điều mà Philippe Stern đã chỉ ra rằng đền
tháp Nam bao giờ cũng được xây trước, sau đó đến đền tháp Giữa và Bắc10. Tuy nhiên,
khi xem xét kỹ bình đồ tổng thể của các tháp IIa và IIb có thể dễ dàng nhận thấy hai tháp
này không nằm trên cùng một trục ngang (trục Bắc Nam), đồng thời chúng được bao bọc
bởi một hệ thống tường bao hình vng mà ở đó tháp IIa nằm khơng q xa điểm trung
tâm của hình vng. Điều này cho thấy, khi tiến hành xây dựng nhóm II (gồm các tháp và
tường bao), chủ nhân của chúng đã đạt đến một nhận thức khá cao về mơ hình vũ trụ theo
tư tưởng xây dựng đền thờ Ấn Độ giáo, sự tn thủ chặt chẽ mơ hình Mandala của đền
thờ. Một đốn định nhiều tính khả thi ở đây chỉ có thể là, tháp IIa chính là ngơi đền trung
tâm của một nhóm kiến trúc có dạng bố cục một đền tháp trung tâm được các đền tháp
phụ bao bọc và có nhiều dấu hiệu bố cục giống với các đền tháp ở Mỹ Sơn, Phú Hài, tính
hướng tâm và đăng đối khơng được rõ rệt như các nhóm đền tháp ở Campuchia. Như vậy,
riêng về bình đồ của nhóm II đã có nhiều nét tương đồng với kiến trúc đền tháp Chămpa
hơn so với đền tháp ở Campuchia.
- Một đặc điểm nữa về bố cục mặt bằng đền tháp có thể nhận thấy, các đền tháp Chămpa

thế kỷ VII – IX đã có Tiền sảnh (cửa chính), thậm chí cả cửa giả khá phát triển (như Phú
Hài, Po Dam, Hịa Lai Nam…). Trong khi đó, độ vươn ra của các cửa đền tháp thời kỳ
Tiền Angkor thường được dùng đá, mi cửa có điêu khắc và phía trước khung cửa có trụ
trịn…, một số đền tháp ở Nam Trung bộ và Nam bộ Việt Nam có đặc điểm này (mi cửa
gạch hướng Tây đền tháp Phú Hài, đền tháp Bình Thạnh và Chót Mạt ở Tây Ninh). Trở
9

Nguyễn Tiến Đơng (2002), Khu di tích Cát Tiên ở Lâm Đồng, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Viện Khảo cổ học – Trung
tâm KHXH & NVQG, Hà Nội, tr 141 - 142
10
Philippe. Stern (1942), sđd.


lại với nhóm II ở Cát Tiên, có thể thấy ở đây vừa có những đặc điểm mặt bằng kiến trúc
đền tháp Chămpa thế kỷ VII – IX, vừa có những thành tố nghệ thuật của đền tháp Tiền
Angkor.
Về dạng mặt bằng, theo tư liệu có được đến ngày nay, các đền tháp chính trong một
nhóm đền tháp ở phía Bắc Chămpa, vào thế kỷ VII – IX, thường có mặt bằng hình chữ
nhật (như Mỹ Khánh, Mỹ Sơn E1), trong khi đó các nhóm ở phía Nam cùng thời kỳ lại có
mặt bằng hình vng (như Po Dam và Phú Hài vốn ít nhiều có ảnh hưởng Khmer). Sự thể
này, nhìn chung, có thể cho rằng đó là sự phát triển mang tính “địa phương” của phức thể
Chămpa trên nền tảng chung về tôn giáo, về triết lý tọa hình kiến trúc, với một nhận định
hiện đại cho rằng hình vng là một trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật (và ngược lại)
bên cạnh sự phát triển khác nhau của tri thức hình học (hiểu biết ở mức độ khác nhau về
hình thể và thực hành về mặt hình học). Tuy nhiên, khi nhìn nhận từ góc độ lịch sử thì rõ
ràng, việc có sự tồn tại của các tiểu quốc Chămpa, trong đó tiểu quốc phía Nam có vai trị
chuyển tiếp (trung chuyển) những ảnh hưởng sơ khai từ Ấn Độ vào Chămpa thì nhìn một
góc riêng, có thể thấy tri thức về văn hóa Ấn Độ (trong đó có triết lý kiến trúc) có mặt lan
tỏa ở vùng Nam Chămpa sớm hơn, mạnh mẽ hơn vùng Bắc Chămpa, hệ quả là mơ hình
kiến trúc ở phía Nam mang tính ngun thủy hơn, ở phía Bắc cịn phải “chờ” một khoảng

thời gian để hoàn chỉnh về tri thức, kèm theo cả sự phát triển kỹ thuật xây dựng, và đặc
biệt là sự trỗi dậy của tính bản địa thì mới có đầy đủ điều kiện hình thành một mơ hình
kiến trúc Ấn Độ giáo mang tính chuẩn mực cao. Tất cả những lý do đó đã giải thích tại
sao các đền tháp chính của di tích ở Cát Tiên vừa có dạng mặt bằng gần gũi với mặt bằng
kiến trúc đền tháp Nam Chămpa cùng thời kỳ, vừa kết hợp nghệ thuật trang trí kiến trúc
Tiền Angkor (Phù Nam, Chân Lạp) nhưng cũng có dấu ấn Chămpa rõ nét thơng qua sự
phát triển Tiền sảnh. Có thể các di tích ở Cát Tiên có một chủ nhân riêng, cùng chịu
chung ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ như các dân tộc Chămpa và Khmer lân cận nhưng cũng
có thể đây là sản phẩm kiến trúc của một trong hai tộc vừa nêu và có ảnh hưởng mạnh mẽ
về phương thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật trang trí… của tộc người cịn
lại.
- Di tích Cát Tiên có 04 loại hình kiến trúc, bao gồm: đền thờ, tháp thờ (đền thờ phụ trợ Tg), nhà dài (Mandapa) và đền mộ (đền lăng – Tg)11. Như vậy, về bố cục (và có thể là bố
trí) các đền tháp trong tổng thể kiến trúc có điểm tương đồng với tổng thể đền tháp
Chămpa. Mặc dù, chúng ta đều biết nền nghệ thuật kiến trúc Chămpa, Khmer và các nền
nghệ thuật ở Đơng Nam Á có chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật Ấn Độ, nhưng ở giai đoạn
trước thể kỷ IX – X (thời kỳ đầu tiên của lịch sử kiến trúc đền tháp gạch Chămpa, tương
11

Lê Đình Phụng (2006), Di tích Cát Tiên Lâm Đồng Lịch sử và văn hóa, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 216.


đương niên đại của Cát Tiên và các đền tháp Phù Nam, Chân Lạp – Tiền Angkor) thì chỉ
có các biện pháp đền tháp Chămpa và Tiền Angkor mới tồn tại nhiều nhóm kiến trúc
riêng rẻ với bố cục dạng một đền tháp trung tâm như Sambour PreiKuk, Preah Ko, nhiều
nhóm đền tháp Chămpa cịn tồn tại đến nay. Ở giai đoạn sau và ở các nền văn hóa khác,
thơng thường các tổng thể đền tháp có quy mơ to lớn hơn, có thể có mơ hình và tính biểu
tượng khác, như Angkor Wat, Borobudur…Hơn nữa, sự xuất hiện dạng kiến trúc nhà dài
ở Cát Tiên, không giống với bố cục thơng thường của các nhóm kiến trúc Angkor. Cho
nên có thể nhận thấy, mơ hình, cấu trúc và loại hình đền tháp ở Cát Tiên gần gũi hơn với
kiên trúc đền tháp Chămpa.

- Về mặt điêu khắc/vật thờ, các loại Linga ba phần ở Cát Tiên làm chúng ta liên tưởng
(hoặc định hướng ấn tượng) nhiều hơn về Linga của Chămpa. Bên cạnh Linga – Yoni,
tượng Ganesa ở Cát Tiên cũng cho thấy yếu tố Siva mạnh mẽ hơn. Các di tích phát hiện
được ở Nam bộ Việt Nam và Campuchia (như trong văn hóa Ĩc Eo) cho thấy nhiều hình
ảnh liên quan đến thần Visnu, yếu tố Visnu trên các phế tích kiến trúc và đền tháp ở đó
cũng nổi bật hơn yếu tố Siva. Ngay cả ở nhóm Hịa Lai, Ninh Thuận (xưa nay vẫn bị coi
là tháp Khmer, trên thực tế có ảnh hưởng đậm nét của nghệ thuật Khmer và Java), cũng
có nhiều trang trí hình Garuda, Nagar rõ rang nổi bật những yếu tố liên quan đến
thầnVisnu bên cạnh những yếu tố liên quan đến thần Siva mờ nhạt hơn. Ở các đền tháp
Dương Long và Hưng Thạnh (Bình Định), vốn được xây dựng dưới sự chỉ đạo của người
Khmer, thì trang trí Garuda, Nagar cũng chiếm ưu thế. Một chi tiết khác, điêu khắc cánh
sen trên đền tháp cũng xuất hiện ở Cát Tiên, cho phép lý giải về những yếu tố liên quan
đến Phật giáo trong đền Ấn Độ giáo, nhưng mặt khác, đó lại chính là yếu tố mang tính
gốc gác liên quan đến thần Visnu khi xét đến thần tích đản sinh Brahma trên bông sen
mọc từ rốn thần Visnu… Như vậy, rõ ràng chức năng của các di tích ở Cát Tiên gần gũi
với chức năng của hầu hết các đền tháp Chămpa và ít tương đồng với chức năng của các
đền tháp ở Campuchia.
- Một điểm đặc biệt, về vật liệu và kỹ thuật xây dựng, qua các thông số chỉ tiêu cơ lý của
gạch, chất liên kết và kỹ thuật xây dựng các đền tháp ở Cát Tiên có thể nhận thấy những
điểm liên quan mật thiết với kỹ thuật xây dựng đền tháp Chămpa, dường như có sự kế
thừa, hoặc chí ít là, có mối quan hệ mang tính gốc gác giữa hai kỹ thuật này. Ví dụ, sự
giống nhau về thành phần trấu có trong gạch và sự tương đồng về kích thước trung bình
của gạch (sự khác biệt về màu sắc gạch, độ nung thể hiện yếu tố vật liệu khai thác tại địa
phương, không liên quan đến phương thức gia công, chế tác). Đối với vấn đề kỹ thuật
xây, nhất là kỹ thuật chạm khắc trực tiếp lên gạch ở Cát Tiên giống với Chămpa và một
số tháp ở khu vực Đông Nam bộ Việt Nam (như tháp Chót Mạt). Nhưng chúng ta cũng
đã biết, trong khối xây các đền tháp gạch ở Campuchia vào thế kỷ VII, VIII có thành


phần vữa Hàu và một trong những kỹ thuật điêu khắc phổ biến ở đây là “phủ vữa điêu

khắc”, tức là điêu khắc trên những mảng vữa vừa trát trên tường đền tháp12. Như vậy có
nghĩa là, một số đặc điểm thuộc về kỹ thuật xây dựng đền tháp ở Cát Tiên gần gũi với kỹ
thuật xây dựng đền tháp Chămpa hơn. Một số tài liệu còn cho biết, ở di tích Cát Tiên có
đa ong được gia cơng thành hình hộp chữ nhật dùng để bó nền, lát đường…, trong khi
không thấy nhắc đến các đồi Laterit lân cận. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến một
sự vận chuyển vật liệu từ nơi khác đến đóng góp vào việc xây dựng nên các cơng trình
kiến trúc ở Cát Tiên.
Về vật liệu đá sử dụng trong kiến trúc, ở Chămpa chủ yếu dùng đá cát kết (grese/sand
stone), trong khi đó di tích Cát Tiên chúng ta được biết ít nhất ba loại đá, bao gồm: sa
thạch (grese) dùng làm Linga – Yoni, đá phiến (schist) làm khung cửa, lát nền…và đá
phtanite tạo nên các mảng điêu khắc. Như vậy về chủng loại đá sử dụng ở Cát Tiên
phong phú hơn Chămpa, tuy nhiên điều này phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện tự nhiên,
nguồn vật liệu khai thác tại chỗ hoặc tại một địa điểm không quá xa các cơng trình kiến
trúc. Cũng chính vì vậy, việc sử dụng đá trong kiến trúc đền tháp, khi từ Cát Tiên nhìn
rộng ra khu lân cận, có một điều theo chúng tơi rất đáng quan tâm. Đó là trong khoảng
niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX (tương đương niên đại của Cát Tiên như nhiều
nghiên cứu đã xác định) thì ở Chămpa chỉ có các đền tháp ở Mỹ Sơn và Đồng Dương
mới được dùng đá làm khung cửa, bậc thềm và trang trí kiến trúc (như Mỹ Sơn E1,
C7…), các đền tháp khác, trong những nhóm kiến trúc riêng lẻ khác Mỹ Sơn thì hầu như
khơng được sử dụng đá (như Mỹ Khánh, Hòa Lai, Po Dam…); sau thế kỷ X, đá được sử
dụng nhiều hơn trên đền tháp Chămpa, đặc biệt là trong phong cách Bình Định/ vốn chịu
nhiều ảnh hưởng của kiến trúc Khmer thời kỳ Angkor. Một mặt khác, trong các nhóm
kiến trúc ở Campuchia thời kỳ Tiền Angkor thì việc sử dụng đá (làm bậc cửa, lanh tô, mi
cửa, trán tường…) đã rất phổ biến, dường như đã trở trành một truyền thống. Vậy thì, ý
nghĩa của việc sử dụng đá trong kiến trúc ở Cát Tiên cũng như phương thức xây dựng/tạo
tác chúng xuất phát từ một triết lý văn hóa, triết lý kiến trúc mang đậm tính chất của một
“Thánh địa” như Mỹ Sơn của Chămpa hay là sự ảnh hưởng của một thói quen mang tính
phổ biến như đã thấy ở Campuchia? Điều này rất cần được nghiên cứu, bàn luận thêm.
Tóm lại, thơng qua so sánh những nét tương đồng trong một số đặc điểm cơ bản của đền
tháp Chămpa và di tích Cát Tiên có thể nhận thấy: di tích Cát Tiên, về vị trí, bố cục mặt

bằng kiến trúc, chức năng và đặc biệt là kỹ thuật, vật liệu xây dựng có sự gần gũi với kiến
trúc đền tháp Chămpa. Một lần nữa cũng cần lưu ý rằng có thể chủ nhân của di tích Cát
12

Norodom Ranarid (1997), Sambaur – Prei – Kuk/ Momument D’icanavarma I (615 – 628), Travail D’inventaire
Finance Par la Fondation Toyota; xem thêm các bản ảnh trong: The Pre – Angkorian Temple ò Preah Ko của
Michael S. Falser do White Lotus xuất bản năm 2001.


Tiên là một người dân tộc khác Chămpa và Khmer, cùng chịu chung ảnh hưởng văn hóa
Ấn Độ như các dân tộc Chămpa và Khmer ở khu vực lân cận, nhưng cũng có thể đây là
sản phẩm kiến trúc của một trong hai dân tộc vừa nêu và có ảnh hưởng mạnh mẽ về
phương thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật điêu khắc…của tộc người còn lại./.



×