LỊCH SỬ VIỆT NAM TRƯỚC KHI
ĐẢNG RA ĐỜI
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2.
3.
4.
5.
Nhằm khôi phục lại bức tranh lịch sử về quá trình chuẩn bị
của Nguyến Aí Quốc cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt
Nam
Nâng cao những kiến thức về lịch sử đấu tranh con đường
đúng đắn dẫn tới việc thành lập đảng.
Tìm hiểu kĩ hơn về con đường và sự chuẩn bi của Bác để
tiến tới cho việc thành lập đảng,để thấy được giá trị của nền
đọc lập hơm nay,góp phàn dậy leentinh thần dân tộc ,và ự
chuẩn bị kĩ càng của Người để có một đảng cộng sản Việt
Nam bền vững như ngày hơm nay.
Khơi dậy sự tị mị ham học hỏi , bết gìn giữ và phát huy
những thành quả của Bác và những thế hệ đi trước đã xây
dựng nên.
Nâng cao kiến thức phục vụ cho q trình học tập và cơng
việc sau này, là tài liệu tham khảo có ích cho mọi người lúc
cần thiết cho cơng việc , cơng tác của mình…
Vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài : “ sự chuẩn bị của
Nguyễn Ái Quốc cho việc ra đời của Đảng Cộng Sản Việt
Nam” để làm đề tài tiểu luận cho nhóm của mình
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự chuẩn bị của Nguyễn Aí Quốc cho việc thành lập đảng cộng
sản việt nam có ý nghĩa vá vai trị rất to lớn đối với việc thành lập
Đảng Cộng Sản Việt Nam và được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử
quan tâm và tìm hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau.
_
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu và đi sâu vào phân tích rõ được sự chuẩn bị của
Nguyễn ÁI Quốc cho việc thành lập Đảng.
Để qua đóta thấy được những đóng góp vơ cùng to lớn mà
Nguyễn Quốcđã mang lại cho đất nước Việt Nam ngày hôm
nay…
Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đó là sự chuẩn bị của Nguyễn Aí Quốc cho
viêc thành lập Đảng .
Phạm vi nghien cứu là quá trình chuẩn bị của Nguyễn Quốc cho
việc thành lậ đảng có thể tính từ giai đọan 1924 – 1930…
Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu
sau đây:
Phương pháp liệt kê lịch sử
Phương pháp logic
Phương pháp sưu tầm , xử lí, phân tích và tổng hợp tài lieu
đã thu thập được để hồn thành đề tài.
6. Đóng góp của đề tài
- Với đề tài này có thể giúp chúng ta nhìn nhận đánh giá một
cách khách quan và hiểu rõ hơn về sự chuẩn bị của Nguyễn
Aí Quốc cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
- Khẳng định rõ ràng về vấn đề đảng ta có được như ngày hơm
nay là nhờ vai trị to lơn tầm nhìn xa trơng rộng và sang suốt
của Bác.
- Đóng góp mà đề tài mang lại nừa là góp phần bổ sung kiến
thức tài liệu phục cho quá trình giảng dạy , học tập và tham
khảo cho những người quan tâm đến vấn đề này.
- Từ đề tài có thể cho ta thấy rõ vai rò quan trọng và sự sang
suốt của Bác trong q trình thành lập đảng là vơ cùng to lớn
,khẳng ddnhj giá tri lớn lao mà Người đã mang lại cho dân tộc
Việt Nam.
7. Bố cục của đề tài.
Chương I :khái quát về lịch sử Việt Nam trước khi Đảng ra đời
Chương II: sư chuẩn bị của Nguyễn Aí Quốc cho việc thành lập
Đảng.
Chương III: Đánh giá vai trò của Nguyễn Aí Quốc.
NỘI DUNG.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM TRƯỚC
KHI ĐẢNG RA ĐỜI
Vào đầu thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều biến động,
bức tranh phân chia thế giới của chủ nghĩa đế quốc ngày càng
được phác hoạ cơ bản và rõ nét. Sự áp bức và xu hướng thơn
tính dân tộc của Chủ nghĩa đế quốc đã tăng lên rõ rệt. Sự xuất
khẩu tư bản vào các nước thuộc địa đã làm cho các dan tộc thuộc
địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân Chủ nghĩa. Cịng từ
đó sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh tù giải
phóng khỏi ách áp bức cuả thực dân tăng lên một cách mạnh mẽ.
Việt Nam đã chịu sự tác động của bối cảnh lịch sử đó.
Năm 1858, nước Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược,
mở đầu bằng cuộc tiến công vào cảng Đà Nẵng. Chúng từng
bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ nghĩa
thực dân trên đất nước ta. Sau khi hoàn thành việc xâm lược và
bình định vị trang, thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác
thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên, bóc lột nhân
cơng rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hành
hố của chính quốc. Chính sách “khai hố văn minh”, “khai hố và
cải tạo theo kiểu phương Tây” của bọn thực dân Pháp được Hồ
Chí Minh vạch rõ: “Khi người ta là một nhà khai hố thì người ta
có thể làm những việc dã man mà vẫn cứ là văn minh nhất” và
nếu dân bản xứ không nhịn nhục chịu đựng mà đứng dậy đấu trnh
thì các nhà khai hố sẽ đưa qn đội, súng liên thanh và tàu chiến
đến. Trên tất cả mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hố tư
tưởng chúng đều tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của dân tộc
ta.
I. TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC.
1. Tình hình chính trị
Thực dân Pháp ra sức thi hành chính sách “chia để trị”; chúng trực
tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, bên
cạnh đó là một hệ thống chính quyền tay sai bù nhìn người Việt:
chúng lập ra những đội quân thuộc địa người ngoại quốc và
những đội lính cơ giới người Việt, những toà án Tây và toà án
Nam, nhiều nhà tù để đàn áp các cuộc nổi dậy. Chóng thi hành
chính sách cai trị chuyên chế, thực hiện chính sách đàn áp, khủng
bố hết sức dã man, tàn bạo, chia rẽ dân tộc tôn giáo…. làm cho
nhân dân mất hết quyền độc lập, quyền tự do dân chủ; mọi phong
trào đấu tranh của nhân dân đều bị chúng đàn áp dã man.
2. Tình hình kinh tế
Trong thời kỳ này thực dân Pháp đã không tõ mét thủ đoạn
nào để bóc lột nhân dân ta, thu lợi nhuận tối đa, thẳng tay cướp
đoạt và bần cùng hoá nông dân, chiếm đoạt tài nguyên thiên
nhiên, nắm các mạch máu kinh tế ở Việt Nam, nắm độc quyền
trong công nghiệp khai lhống và cơng nghiệp chế rượu, kìm hãm
cơng nghiệp nặng, hạn chế công nghiệp nhẹ, độc chiếm thị trường
Việt Nam, tăng cường cho vay nặng lãi; đồng hoá lãnh thổ kinh tế
Việt Nam vào trong toàn bộ lãnh thổ của đế quốc Pháp và biến
Việt Nam thành khâu khăng khít trong sợi dây chuyền của kinh tế
thế giới Tư bản chủ nghĩa.
từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, q trình tập trung hố
ruộng đất diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh hơn trước.
Chúng đã trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập ra
các đồn điền trồng cao su, cà phê, …và bắt dân ta lao động khơng
cơng cho chóng hoặc thuê với giá rất rẻ mạt. Không những thế,
thực dân Pháp còn tạo điều kiện để bọn địa chủ tăng cường chiếm
đoạt ruộng đất của nơng dân. Ngồi ra bọn chúng còn đặt ra nhiều
thứ thuế vụ lý bắt nhân dân phải đóng. Bọn thực dân và địa chủ đã
kìm hãm nơng nghiệp Việt Nam trong vịng lạc hậu để làm lợi cho
chóng: thực dân Pháp chưa bao giờ đặt vấn đề kĩ nghệ hố nơng
nghiệp ở Việt Nam nên công cụ lao động sản xuất rất thô sơ.
Thiên tai xảy ra liên miên, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó
khăn. Chúng cịn duy trì lối bóc lét phong kiến, kết hợp với lối
cướp bóc của đế quốc (đây là đặc điểm của phương pháp bóc lột
thuộc địa), làm nơng dân phá sản, kìm hãm sản xuất.
Vì muốn biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ hàng công
nghiệp Õ thừa của Pháp, nên chúng đã ra sức kìm hãm sự phát
triển của cơng nghiệp nước ta. Do sự kìm hãm đó nên cơng
nghiệp Việt Nam rất nhỏ bé, q quặt. Điều đó thể hiện rõ rệt ở
chỗ trong hoạt động công nghiệp, thực dân Pháp chỉ chú trọng vào
việc khai thác mỏ mà không hề quan tâm đến những ngành nghề
khác. Không chỉ trên lĩnh vực công nghiệp mà trên tất cả mọi
phương diện kinh tế, thực dân Pháp đều tìm mọi cách đưa nước
ta vào trong quỹ đạo phát triển của Chủ nghĩa tư bản theo kiểu
thực dân và biến chuyển theo quá trình ấy.
3. Tình hình văn hoá - xã hội
từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chóng thực hiện
chính sách ngu dân, khuyến khích văn hố nơ dịch, vong bản, tự
ti, sùng Pháp, kìm hãm nhân dân ta trong vòng tối tăm, dốt nát, lạc
hậu, phục tùng sù cai trị của chúng. Với chính sách khai thác
thuộc địa triệt để của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những
biến đổi lớn, hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai
cấp tư sản. Từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa
nửa phong kiến, xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn: mâu
thuẫn cơ bản vốn có trong lịng xã hội Việt Nam phong kiến cũ là
mâu thuẫn giữa nhân dân ta, trước hết là nông dân, với giai cấp
địa chủ phong kiến không mất đi, mà vẫn tiếp tục tồn tại, tuy khơng
cịn hồn tồn giống như trước. Bên cạch mâu thuẫn này, xuất
hiện mâu thuẫn mới bao trùm lên tát cả, đó là mâu thuẫn giữa dân
tộc ta với đế quốc thực dân Pháp. Mâu thuẫn này ngày càng mở
rộng và gay gắt hơn. Hai mâu thuẫn đó quan hệ chặt chẽ với
nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp xâm
lược vừa là mâu thuẫn cơ bản đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu
của xã hội Việt Nam – mét xã hội thuộc địa của Pháp. Vì vậy,
nhiệm vụ chống đế quốc Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống bọn
phong kiến tay sai không tách rời nhau. Đấu tranh giành độc lập
dân tộc phải gắn kiền với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.
Đó là yêu cầu của Cách mạng Việt Nam đặt ra cần được giải
quyết.
II. QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH CỦA ĐẤT NƯỚC TRƯỚC KHI
THÀNH LẬP ĐẢNG
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài gian
khổ ác liệt, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng
nàn, tinh thần đấu
tranh anh dũng kiên cường bất khuất. Ngay từ khi thực dân Pháp
xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng. ở
khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới
ngọn cờ cảu các sĩ phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh
hướng khác nhau. Tõ những phong trào tự phát đến những phong
trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một
hoàn thiện hơn. Tuy rằng cáC
phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất cả
những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch
nỗi hoang mang lo sợ.
1. Phong trào Cần Vương
Sau khi thực dân Pháp căn bản hoàn thành cuộc xâm lược Việt
Nam với hoà ước 1884, cuộc đầu tranh của nhân dân Việt Nam
chống xâm lược đã chuyển qua mét giai đoạn mới. Mở đầu là
cuộc tấn công trại lính Pháp mằn cạnh kinh thành Huế, dưới sự
chỉ huy của Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa nhà vua yêu nước trẻ
tuổi Hàm Nghi. Bị thất bại, Tôn Thát Thuyết đã phò vua Hàm Nghi
lánh vào vùng rừng núi, thảo chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu
văn thân cùng tồn dân tiếp tục chiến đấu. Từ đó phong trào Cần
Vương đã phát triển trong nhiều địa phương ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ, cho đến những năm cuối của thế kỷ XIX.
Trong phong trào Cần Vương, các thủ lĩnh sĩ phu văn thân, liên
kết với các thổ hào địa phương, đã tập hợp đông đảo quần chúng
nông dân trong vùng, dùng vũ khí thơ sơ nổi dậy chống lại cuộc
bình định của thực dân Pháp. Các sĩ phu muốn khôi phục một
vương triều phong kiến có chủ quyền, các thổ hào muốn dành lại
những thế lực bị tước đoạt, nông dân chống lại sự bóc lột thuế má
và cướp đoạt ruộng đất, tất cả gắn bó lại trên danh nghĩa của mét
phong trào yêu nước chống xâm lược mang tính chất truyền
thống. Nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương
đẫ thất bại vì rời rạc, lẻ tẻ, thiếu sự chỉ huy thống nhất.
2. Phong trào dân tộc - dân chủ của tầng lớp sĩ phu yêu nước.
2. 1Sự chuyển biến của xã hội Việt Nam và những ảnh hưởng
của tác động bên ngoài.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều
chuyển biến, trước những chính sách cai trị của thực dân Pháp,
cơ cấu xã hội truền thống Vệt Nam biến đổi. Giai cấp công nhân
Việt Nam (chủ yếu là trong các công trường và hầm mỏ) hình
thành. ở đơ thị xuất hiện một tầng lớp cơng thương
và tiểu tư sản thành thị. Tầng lớp sĩ phu nho học bên cạch đọc các
kinh sách nho giáo, các nho sĩ này cũng đã đọc ngững cuốn sách
mới của các tác giả châu Âu và Trung Quốc. Vì vậy phong trào cải
cách chính trị – văn hố ở Trung Quốc, cùng với những tư tưởng
cách mạng Pháp được dịch qua chữ Hán đã tác động vào Việt
Nam. Giới sĩ phu lúc này thấy được thế suy tàn của các chế độ
phong kiến châu á và sự cần thiết phải cải cách xã hội.
2.2. Trào lưu dân tộc chủ nghĩa
Những nhận thức chính trị đó đã làm nảy sinh mét khuynh hướng
chính trị mới: trào lưu dân tộc chủ nghĩa. Trào lưu chính trị này kế
tụcnhưng đồng thời đã mang nhiều nét mới khác trước. Tầng lớp
khởi xướng trào lưu này là những sĩ phu yêu nước tiến bộ. Lịng
u nước của họ khơng cịn bám giữ vào những tư tưởng “trung
quân” mà đã chuyển sang ý thức về một chủ nghĩa quốc gia – dân
tộc, vì lợi Ých chung của nhiều triệu đồng bào trong cả nứơc.
Những sĩ phu yêu nước tiến bộ ở Việt Nam lóc bấy giờ cho rằng,
muốn đánh đuổi thực dân Pháp, khơng thể chỉ hạn chế trong
những hình thức khởi nghĩa vò trang như trước đây, mà còn phải
kết hợp cả với nhiều biện pháp mới về chính trị, ngoại giao, tiến
hánh mét phong trào cải cách xã hội sâu rộng trong đông đảo
quần chúng nhân dân. Hai gương mặt nổi bật cho trào lưu dân tộc
dân chủ là các nhà chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
Phan Bội Châu là một sĩ phu sớm có lịng u nước, chủ
trương vận động quâng chóng trong nước, tranh thủ sự giúp đỡ
của nước ngaòi, tổ chức bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp,
giành độc lập dân tộc, xây dựng nền chế độ chính trị dựa vào dân.
Ơng đã lập hội Duy Tân, vượt biển sang Nhật mưu cầu ngoại viên,
tổ chức phong trào Đông Du đưa các thanh thiếu niên Việt Nam
sang học ở Nhật để chuẩn bị lực lượng chống Pháp và dùng văn
thơ yêu nước để thức tỉnh quốc dân . Cuộc vận động Đông du chỉ
diễn ra được mấy năm và đã bị thực dân Pháp bóp chết . Những
du học sinh Việt Nam bị trục xuất ra khái Nhật và cả cơ Phan cịng
phải rời khỏi đất nước này. Sau cách mạng Tân Hợi, ông lưu lạc ở
Trung Quốc, lại lập ra tổ chức Việt Nam Quang Phục hội, chuẩn bị
đưa quân về nước khỏi nghĩa, nhưng cũng không tránh khỏi bị
thât bại. Phan Bội phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp
nhưng đồng thời đã mang nhiều nét mới khác trước. Tầng lớp
khởi xướng trào lưu này là những sĩ phu yêu nước tiến bộ. Lịng
u nước của họ khơng cịn bám giữ vào những tư tưởng “trung
quân” mà đã chuyển sang ý thức về một chủ nghĩa quốc gia – dân
tộc, vì lợi Ých chung của nhiều triệu đồng bào trong cả nứơc.
Những sĩ phu yêu nước tiến bộ ở Việt Nam lóc bấy giờ cho rằng,
muốn đánh đuổi thực dân Pháp, khơng thể chỉ hạn chế trong
những hình thức khởi nghĩa vò trang như trước đây, mà còn phải
kết hợp cả với nhiều biện pháp mới về chính trị, ngoại giao, tiến
hánh mét phong trào cải cách xã hội sâu rộng trong đông đảo
quần chúng nhân dân. Hai gương mặt nổi bật cho trào lưu dân tộc
dân chủ là các nhà chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh
Phan Bội Châu là một sĩ phu sớm có lịng u nước, chủ
trương vận động quâng chóng trong nước, tranh thủ sự giúp đỡ
của nước ngaòi, tổ chức bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp,
giành độc lập dân tộc, xây dựng nền chế độ chính trị dựa vào dân.
Ơng đã lập hội Duy Tân, vượt biển sang Nhật mưu cầu ngoại viên,
tổ chức phong trào Đông Du đưa các thanh thiếu niên Việt Nam
sang học ở Nhật để chuẩn bị lực lượng chống Pháp và dùng văn
thơ yêu nước để thức tỉnh quốc dân . Cuộc vận động Đông du chỉ
diễn ra được mấy năm và đã bị thực dân Pháp bóp chết . Những
du học sinh Việt Nam bị trục xuất ra khái Nhật và cả cơ Phan cịng
phải rời khỏi đất nước này. Sau cách mạng Tân Hợi, ông lưu lạc ở
Trung Quốc, lại lập ra tổ chức Việt Nam Quang Phục hội, chuẩn bị
đưa quân về nước khỏi nghĩa, nhưng cũng không tránh khỏi bị
thât bại. Phahợp thời thế.
2.3. Phong trào đấu tranh của quần chúng công, nông, binh:
Các phong trào chính trị của giới sĩ phu đã có ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến phong trào đấu tranh của quần chúng công
nông binh trong thời kỳ này. ở đây những cuộc đấu tranh so với
phong trào của giới sĩ phu thường là thiếu đường lối, tổ chức
nhưng lại đông đảo, quyết liệt hơn. Năm 1908, do ảnh hưởng của
những tư tưởng cải cách của Phan Châu Trinh và phong trào Duy
Tân hô hào đời sống mới, mét phong trào chống sưu thuế của
nông dân đã lan rộng ra ở nhiều tỉnh. Hàng ngàn nông dân nổi dậy
biểu tình, bao vây huyện lị địi giảm sưu thuế. Đáng chú ý là khởi
nghĩa của nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, họ đã liên lạc
với tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu trong mét kế hoạch tấn
công vào Hà Nội.
Giai cấp công nhân Việt Nam tuy mới ra đời, số lượng còn Ýt
nhưng bước đầu đã tham gia đấu tranh, điển hình có những cuộc
bãi cơng bạo động của công nhân các công trường đường
sắt(Yên Bái), học sinh trường Bách Nghệ (Sài Gịn) và mét sè
cơng nhân tàu biển. Ngồi ra cịn có những cuộc bạo động khởi
nghĩa chống Pháp của dân tộc Ýt người.
Ngoài tầng lớp sĩ phu và quần chúng công nông, đầu thế kỷ XX
cịn có một lực lượng xã hộ mới tham gia phong trào đấu tranh
chống Pháp. Đó là các binh lính người Việt trong quân đội Pháp.
Do thực hiện chính sách dùng người Việt để trị người Việt nên qua
những cuộc càn quét những binh lính Việt đã thấy được tận mắt
nhữnh tội ác của giặc, lòng căm thù giặc được khơi dậy. Hơn nữa
do sù đối xử của thực dân Pháp đối với họ là khinh miệt, bạc đãi
nên đã dẫn tới việc họ nổi dậy bạo động khởi nghĩa.
Những phong trào dân tộc – dân chủ chống Pháp ở Việt Nam
đầu thế kỷ XX do những sĩ phu yêu nước tiến bộ lãnh đạo, được
đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tham gia, tuy không
thành công nhưng đã có tiếng vang lớn. Đó là những bước đi ban
đầu để tìm ra con đường mới, dúng đắn trong cuộc cách mạng
dân tộc và cách mạng xã hội.
CHƯƠNG II. SỰ CHUẨN BỊ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC CHO VIỆC
THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu
cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1-9-1858) đến những thập
niên đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh của các sĩ phu yêu nước
đã liên tiếp nổi dậy chống ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực
dân, nhưng tất cả đều thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn,
thiếu một phương pháp đấu tranh thích hợp và nhất là chưa có
một tổ chức lãnh đạo đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con
đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam đó là con
đường cách mạng vô sản.
Để biến mục tiêu, lý tưởng cách mạng thành hiện thực vấn đề
được Người quan tâm hàng đầu là sớm lập ra Đảng Cộng sản,
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì theo
Người, cách mạng: “Trước hết phải có đảng cách mệnh”
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc,
Người vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên
cứu học tập, bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích
cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện cần thiết
để thành lập một Đảng cách mạng chân chính ở Việt Nam.
1. Về tư tưởng:
-Tháng 7-1920 : Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứnhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin.
Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ
cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình. Từ đó,
Người hồn tồn tin theo Lênin, dứt khốt đi theo Quốc tế thứ
III. Người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
nhằm làm chuyển biến nhận thức của quần chúng, đặc biệt là
giai cấp công nhân, làm cho hệ tư tưởng Mác -Lênin từng
bước chiếm ưu thế trong đời sống xã hội, làm chuyển biến
mạnh mẽ phong trào yêu nước xích dần đến lập trường của
giai cấp công nhân.
- Nội dung truyền bá là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác- Lênin được cụ thể hóa cho phù hợp với trình độ của các
giai tầng trong xã hội. Người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
vào Việt Nam không phải bằng các tác phẩm kinh điển, những
cuốn sách lý luận đồ sộ mà bằng các tác phẩm ngắn gọn, dể
hiểu, phù hợp với trình độ quần chúng. Những bài viết, bài
giảng với lời văn giản dị, nội dung thiết thực đã nhanh chóng
được truyền thụ đến quần chúng. Người đã vạch trần bản chất
xấu xa, tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân thuộc địa,
nhân dân Việt Nam; nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô
sản và cách mạng giải phóng dân tộc.
- Người đã sử dụng những phương pháp thích hợp truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam: từ chỗ thức tỉnh đến định hướng
hành động, rồi đào tạo đội ngũ những người tuyên truyền thông
qua một tổ chức vừa tầm thích hợp. Những phương pháp tuyên
truyền từ thấp lên cao, phù hợp với điều kiện một nước thuộc địa
nửa phong kiến.
2. Về chính trị:
- Người phác thảo những vấn đề cơ bản của đường lối cứu
nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, thể hiện tập trung
trong những bài giảng của Người cho những cán bộ cốt cán
của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Quảng Châu
(Trung Quốc). Năm 1927, được in thành sách lấy tên là “Đường
Cách mệnh”.
- Những vấn đề then chốt trong tác phẩm có tác dụng lớn khơng
chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa Phương Đơng.
- Những vấn đề đó là: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
chủ yếu là cơng nơng, vì vậy phải tổ chức quần chúng lại; cách
mạng muốn thành công phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo;
phải có đường lối và phương pháp cách mạng đúng; cách
mạng giải phóng dân tộc phải liên hệ chặt chẽ với cách mạng
vô sản thế giới…
- Người chỉ rõ: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn
cách mệnh thành cơng thì phải lấy dân chúng (cơng nơng) làm
gốc, phải có đảng vững bền; phải bền gan, phải hy sinh; phải
thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và
Lênin”.
- Người nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng những
động lực chủ yếu của nó - cơng nhân và nơng dân là “gốc cách
mệnh”, “học trị, nhà bn, điền chủ nhỏ” là bầu bạn cách mệnh
của cơng nơng. Những luận điểm đó là nền tảng hình thành liên
minh cơng nơng và mặt trận dân tộc thống nhất trong cách
mạng dân tộc giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Người
còn nêu quan điểm cực kỳ quan trọng: Đảng Cộng sản là nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
- Người xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng
khít của cách mạng thế giới: “An Nam dân tộc cách mệnh thành
cơng thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì cơng nông Pháp
làm giai cấp cách mệnh cũng dễ” và “ai làm cách mệnh trong
thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”.
- Luận điểm trên là cụ thể hóa và phát triển quan điểm của
Người đã nêu trước đây về tính chủ động và khả năng thắng lợi
trước của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng chính quốc.
Những nội dung đó đem đến cho quần chúng niềm tin, quyết
tâm chủ động đứng lên làm cách mạng cứu nước, cứu nhà.
- Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị rất lớn trên phương
diện lý luận và thực tiễn. Nó đóng vai trị chủ đạo trong việc
truyền bá tư tưởng cách mạng của Người vào Việt Nam, chỉ rõ
con đường và biện pháp để nhân dân ta đấu tranh giành độc
lập, tự do; đặt cơ sở khoa học cho việc hình thành đường lối
chiến lược của cách mạng nước ta. Nó là ngọn cờ dẫn dắt cách
mạng Việt Nam trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, chấm
dứt sự khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam,
vạch ra phương hướng cho cách mạng nước ta đi vào quỹ đạo
của cách mạng vơ sản thế giới, góp phần chuẩn bị về chính trị,
tư tưởng cho việc thành lập Đảng; là thành công nổi bật của
Người trong chuẩn bị về chính trị và tư tưởng.
- Từ năm 1928 : Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng
được cơ sở của mình ở khắp nơi. Hoạt động của Hội góp phần
truyền bá tư tưởng Mác- Lênin, thúc đẩy phong trào cách mạng
Việt Nam theo xu thế cách mạng vô sản. Sự ra đời và hoạt động
của Hội Việt Nam cách mạng là bước chuẩn bị chu đáo về ch
3. Về tổ chức:
- cùng với việc truyền bá lý luận chính trị để chuẩn bị cho sự ra
đời của một chính Đảng,
- Năm 1921, được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp,
Nguyễn Ái Quốc cùng một số người yêu nước của các thuộc
địa Pháp sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa” để tuyên truyền,
tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
- Năm 1922, Hội ra tờ báo Người cùng khổ để vạch trần chính
sách đàn áp bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần
thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh tự giải
phóng. Người cịn viết bài cho các báo tiến bộ khác: Nhân đạo,
Đời sống công nhân và viết cuốn sách nổi tiếng “Bản án chế độ
thực dân Pháp”. Mặc dù bị nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách
ngăn chặn, cấm đốn, các sách báo nói trên vẫn được bí mật
chuyển về Việt Nam.
- Tháng 6-1923, Người rời nước Pháp sang Liên Xô dự Hội
nghị Quốc tế nông dân và được bầu vào Ban chấp hành, sau
đó làm việc ở Quốc tế Cộng sản, viết nhiều bài cho báo Sự
thật và Tạp chí Thư tín quốc tế.
- Ngày 1-11-1924, Người từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung
Quốc) để trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đây Người
cùng một số nhà cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ… thành lập
“Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”. Người tiếp xúc
với các nhà cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, chọn một số
thanh niên hăng hái trong tổ chức “Tâm Tâm xã” và những
thanh niên hăng hái từ trong nước mới sang để thành lập Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên (6-1925) mà nòng cốt là Cộng
sản Đồn
Người đã dày cơng chuẩn bị về mặt tổ chức đó là huấn luyện,
đào tạo cán bộ, từ các lớp huấn luyện do Người tiến hành ở
Quảng Châu (Trung Quốc) tiến tới thành lập Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên (6-1925) để vừa chuẩn bị cán bộ, vừa
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là một tổ chức tiền thân
có tính chất q độ, vừa tầm, thích hợp với thực tiễn cách
mạng Việt Nam bấy giờ. Nó giúp cho những người Việt Nam
yêu nước xuất thân từ các thành phần, tầng lớp dễ tiếp thu tư
tưởng cách mạng của Người, phản ánh tư duy sáng tạo và là
thành công của Người trong chuẩn bị về mặt tổ chức cho Đảng
ra đời.
- Từ năm 1928 : Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây
dựng được cơ sở của mình ở khắp nơi. Hoạt động của Hội góp
phần truyền bá tư tưởng Mác- Lênin, thúc đẩy phong trào cách
mạng Việt Nam theo xu thế cách mạng vô sản. Sự ra đời và
hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng là bước chuẩn bị chu
đáo về chính trị , tổ chức và đội ngũ cán bộ cho việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
- Vào những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng
của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào
công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng
mới xuất hiện, địi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng
thực sự của giai cấp cơng nhân.
Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận
thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức
cộng sản đầu tiên vào nửa cuối năm 1929 đầu năm 1930.
- Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập
ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chính cương, Tun
ngơn, nêu rõ đường lối của Đảng là phải làm cách mạng dân
chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã
hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của
Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản
ở trong nước tiến mạnh.
- Tháng 10-1929, kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam
Kỳ họp đại hội, tuyên bố giải tán Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên và thành lập An Nam Cộng sản Đảng.
- Tháng 1-1930, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra
tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đồn.
Trong vịng nửa năm, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời.
Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu
cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu
nước ở Việt Nam năm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp
cơng nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ
chức của chính đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin khơng cho
phép tồn tại tình hình là trong một nước lại có ba tổ chức
cộng sản.
Như thế chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức và
hành động của giai cấp vô sản, làm giảm sức mạnh của phong trào
công nhân và phong trào yêu nước.
Vì vậy, việc thành lập một đảng duy nhất của giai cấp công nhân theo
chủ nghĩa Mác-Lênin là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở
Việt Nam lúc đó.
Nhận được tin có ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản
đã gửi thư kêu gọi các nhóm cộng sản này thống nhất lại.
Sau khi nắm được tình hình trên, chấp hành chỉ thị của Quốc tế Cộng
sản, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã
triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông
Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự
Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đồn, khơng kịp cử đại biểu
đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Hội nghị hợp nhất có giá trị như một Đại hội thành lập Đảng. Hội nghị đã
thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt là
cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Hội nghị chấm dứt sự khủng hoảng trong
phong trào yêu nước chống Pháp, chấm dứt tình trạng phân tán, chia rẽ
của phong trào cộng sản Việt Nam, thống nhất các tổ chức cộng sản
trong nước thành một Đảng Cộng sản duy nhất làm cho sức mạnh của
hạt nhân lãnh đạo tăng lên gấp bội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng
Việt Nam”.
Giữa Những năm 1927-1930 : Nguyễn Ái Quốc đã từ Xiêm
(Thái Lan ) về Trung Quốc, với danh nghĩa đại diện Quốc tế
Cộng sản triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản,
thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam.
Chính những thanh niên u nước và sục sơi hồi bão cách
mạng trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã thực
hiện phong trào “vơ sản hố” để đi sâu vào
phong trào đấu tranh của quần chúng, truyền bá lý luận Mác - Lênin và
đường lối cách mạng đúng đắn vào phong trào công nhân và phong trào
yêu nước, giác ngộ họ và tổ chức họ đấu tranh cách mạng một cách tự
giác. Đồng thời, thơng qua “vơ sản hố” lớp lớp thanh niên yêu nước
được rèn luyện trong thực tiễn, giác ngộ lập trường giai cấp công nhân
sâu sắc, hiểu rõ nguyện vọng, lợi ích của giai cấp cơng nhân và nhân
dân lao động, thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước
phát triển mạnh mẽ, tiến tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản đầu tiên
ở Việt Nam, tạo điều kiện chín muồi và hợp qui luật cho sự ra đời của
Đảng.
Như vậy, có thể thấy rằng Người đã chuẩn bị đầy đủ về tư
tưởng, chính trị và tổ chức, là một sáng tạo lớn và vững
chắc cho việc ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa
xuân năm 1930.
Đó là thành quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, mà lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò là người kiến tạo và sáng lập. Điều đó càng
làm sáng tỏ thêm vai trò to lớn của tầm cao tư tưởng và phương pháp
hoạt động thực tiễn của Người trong phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế.
KẾT LUẬN:
Sự chuẩn bị của Nguyễn Aí Quốc cho việc thành lập đảng
cộng sản ở Việt Nam.hợp nhất 3 tổ chức Đảng thành một
Đảng Cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một
đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư
tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả
nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của con đường đúng
đắn ,cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai
trị lãnh đạo của giai cấp cơng nhân Việt Nam và hệ tư tưởng MarxLenin đối với cách mạng Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt
Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời,
Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách
mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vơ sản,
chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được
ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình
trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách
mạng diễn ra đầu thế kỷ 20, mở ra con đường và phương hướng phát
triển mới cho đất nước Việt Nam.
Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự
đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành
động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn
sau này.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng
Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh
thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang.
Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp
đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hồ bình, độc lập dân tộc và
tiến bộ xã hội.
Tài Liệu tham khảo :
1. Giáo trình “ Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Nhà xuất bản giáo
dục.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh với Hội nghị thành lập Đảng và Đại hội II,III
của Đảng.Nxb chính trị quốc gia
3. Giáo trình lịch sử Việt Nam Cận Đại II. Khoa Lịch Sử