Tải bản đầy đủ (.pdf) (34 trang)

LỄ CÚNG BẾN NƯỚC CỦA ĐỒNG BÀO ÊDÊ Ở THỊ TRẤN KRÔNG NĂNG, HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 34 trang )

LỄ CÚNG BẾN NƯỚC CỦA ĐỒNG
BÀO ÊDÊ Ở THỊ TRẤN KRÔNG
NĂNG, HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH
ĐẮK LẮK


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. ..................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ....................................................2
4. Mục đích nghiên cứu. ..........................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu. ....................................................................................2
6. Đóng góp của đề tài. ............................................................................................3
7. Bố cục của đề tài ..................................................................................................3
Chương 1. ...................................................................................................................5
TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI ÊĐÊ Ở THỊ TRẤN KRÔNG NĂNG HUYỆN
KRÔNG NĂNG ĐẮK LẮK .....................................................................................5
1.1.Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm xã hội về địa bàn cư trú...................................5
1.2. Người Êđê ở thị trấn Krông Năng huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk ..............8
1.2.1. Dân số, phân bố, nguồn gốc tên gọi và lịch sử cư trú. ...............................8
1.2.2. Đặc điểm kinh tế văn hóa, xã hội truyền thống và biến đổi .......................8
Chương 2. .................................................................................................................13
LỄ CÚNG BẾN NƯỚC Ở THỊ TRẤN KRÔNG NĂNG HUYỆN KRÔNG
NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK. .......................................................................................13
2.1. Lễ cúng bến nước trong truyền thống. ............................................................13
2.1.1. Nguồn gốc lễ cúng bến nước. ...................................................................13
2.1.2. Cách thức tổ chức và diễn trình nghi lễ....................................................13
2.2. Những biến đổi của lễ cúng bến nước. ...........................................................16
2.2.1. Nguyên nhân biến đổi...............................................................................16


2.2.2. Các biến đổi nổi trội. ................................................................................17


2.2.3. Đánh giá về sự biến đổi. ...........................................................................19
Chương 3. .................................................................................................................20
VAI TRÒ CỦA LỄ CÚNG BẾN NƯỚC CỦA NGƯỜI ÊĐÊ .............................20
3.1.Trong truyền thống. .........................................................................................20
3.2. Trong hiện đại. ................................................................................................21
3.3. Một vài kiến nghị về bảo tồn và phát huy lễ cúng bến nước. .........................22
KẾT LUẬN ..............................................................................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................25


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là một yếu tố
văn hóa đặc trưng, thể hiện các mặt tinh thần, vật chất, tơn giáo tín ngưỡng, văn hóa
nghệ thuật, linh thiêng và đời thường. Lễ hội cịn là một hình thức sinh hoạt văn hóa
cộng đồng đặc biệt có sức hấp dẫn và lơi cuốn các tầng lớp trong xã hội trở thành
nhu cầu, khát vọng của con người trong nhiều thế kỉ.
Có thể nói, lễ hội là một nét sinh hoạt cộng đồng được hình thành, phát triển
đã ăn sâu vào tiềm thức cũng như hoạt động văn hóa truyền thống của con người
Việt Nam từ xa xưa và được nhân dân gìn giữ, phát triển cho đến ngày nay. Tuy
nhiên, mỗi một vùng, miền lại có những lễ hội mang sắc thái riêng cho vùng, miền
đó. Lễ hội khơng phải là sản phẩm cho một cá nhân mà là sản phẫm của một cộng
đồng hun đúc qua q trình lịch sử lâu dài và ln được cộng đồng đó gìn giữ, phát
triển và ln có nhiều biến đổi cho phù hợp với cuộc sống hơn.
Nằm trong khu vực văn hóa Tây Nguyên, Đắk Lắk là vùng đất có bản sắc
văn hóa địa phương độc đáo và có nhiền văn hóa lễ hội như, lễ cúng bến nước, lễ
cúng cơm mới, lễ cầu mưa, lễ tuốt lúa, lễ cúng trưởng thành… Trong đó lễ cúng bến

nước được xem là một lễ hội đặc sắc mang nhiều ý nghĩa trong đời sống tâm linh
của người dân đồng bào Êđê nói riêng và cộng đồng dân tộc Tây Ngun nói chung.
Việc tìm hiểu về lễ cúng bến nước của đồng bào Êdê là quá trình tìm hiểu về
phong tục tập quán và nét đẹp truyền thống cội nguồn của đồng bào Êdê, nhằm gìn
giữ phát huy tinh hoa dân tộc mình. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “
Lễ cúng bến nước của đồng bào Êdê ở Thị Trấn Krông Năng, Huyện Krông Năng,
tỉnh Đắk Lắk ” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận của tôi.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Lễ hội của Tây Nguyên là đề tài thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm,
nghiên cứu. Đặc biệt là những năm gần đây khi có những chủ trương, chính sách,
của Đảng và Nhà nước trong việc khôi phục lại giá trị truyền thống của người Tây
Ngun, thì đó là điệu kiện thuận lợi cho văn hóa lễ hội được quản bá đi xa. Từ đó,
nhiều cơng trình nghiên cứu chun sâu về văn hóa, lễ hội đã được cơng bố như: Lễ
hội Việt Nam (2007) của Vũ Ngọc Khánh(chủ biên), Vũ Thụy An; Lễ hội trong các
cộng đồng dân tộc Việt Nam (2004) Vũ Ngọc Khánh (chủ biên); Văn hóa dân gian
tây ngun (1996) Ngơ Đức Thịnh (chủ biên); Văn hóa dân gian và phương pháp
1


nghiên cứu (1995) Chu Xuân Diên (chủ biên); Đất Tây Ngun (1985) Nguyển Bá
Nhuận …Ngồi ra cịn một số bài đăng trên tạp chí tiêu biểu như: “Những nét độc
đáo về văn hóa Tây Ngun:” (1981) của Hồng Ngọc Hiến in trong tạp chí dân tộc
học; “Tính thiêng của lễ hội Việt Nam” (2003) Hoàng Minh Châu in trong tạp chí
Văn hóa nghệ thuật số 9.
Các cơng trình trên đã giới thiệu đầy đủ, chi tiết. Tuy nhiên các công trình
này vẫn chưa đề cập đến lễ cúng bến nước của người Êđê, vẫn chưa có bài nào đề
cập đến nguồn gốc và sự biến đổi của lễ hội này. Nên cần phải quan tâm và nghiên
cứu chuyên sâu.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là lễ cúng bến nước

của đồng bào Êđê ở thị trấn Krông Năng, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài được giới hạn bởi phạm vi không gian và thời gian.
Phạm vi không gian: ở thị trấn Krông Năng, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu lễ cúng bến nước trong cổ truyền cũng như
thực trạng của lễ cúng bến nước đến ngày nay. Từ đó, làm rõ q trình biến đổi và
chiều hướng biến đổi đến ngày nay.
4. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu nguồn gốc ra đời, tiến trình, ý
nghĩa, vai trị của lễ cúng bến nước đối với cuộc sống của đồng bào Êđê. Những kết
quả nghiên cứu, nhằm cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng của nghi lễ.
Từ đó gìn giữ và phát huy những mặt tích cực và bài trừ, hạn chế những hủ tục lạc
hậu, tiêu cực, để cho nghi lễ diễn ra đáp ứng nhu cầu thần linh của nhân dân địa
phương . Thông qua kết quả nghiên cứu được, tôi hi vọng sẽ mang lại một cái nhìn
tổng thể về lễ cúng bến nước của đồng bào Êđê.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp sưu tầm và phân tích thư tịch nguồn tư liệu thư tịch là các cơng
trình nghiên cứu của các học giả có liên quan đến lễ cúng bến nước dân gian của
đồng bào Êdê nói riêng và các dân tộc Tây Ngun nói chung. Ngồi ra, tơi cịn sử
dụng nguồn thông tin dưới dạng báo cáo, số liệu thống kê được cung cấp bởi địa
2


phương. Nhưng thơng tin thu thập được tơi phân tích sử lý nhằm có một cái nhìn
tồn diện về khơng gian thời gian và chủ thể của lễ hội.
Tiếp đó, tôi tiến hành điền dã thực tế tại địa bàn. Trong q trình điền dã tơi
sử dụng chủ yếu phương pháp quan sát, tham dự và phỏng vấn sâu.
Để hoàn thành đề tài này, tôi tiến hành nhiều đợt diền dã dài ngày tại địa bàn
nghiên cứu là Buôn Wiao ở thị trấn Krông Nằng, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Trong q trình diền dã, tơi cũng thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn sâu các

thơng tín viên là già làng và các cụ cao tuổi trên địa bàn, những thành viên trong
ban tổ chức. Thông qua những cuộc phỏng vấn, tơi đã thu thập được những thơng
tin hữu ích phục vụ cho đề tài, đặc biệt là những thông tin về cách thức tổ chức diễn
trình nghi lễ trong truyền thống.
Ngồi ra, trong q trình diền dã tại địa bàn nghiên cứu tơi cịn sử dụng các
phương tiện kỉ thuật hổ trợ như: máy ghi âm, máy chụp ảnh… để ghi lại các cuộc
phỏng vấn, các hình ảnh liên quan đến nghi lễ để làm nguồn tài liện phục vụ cho đề
tài nghiên cứu của mình.
6. Đóng góp của đề tài.
Từ trước đến nay đã có một số tác phẩm, bài viết nghiên cứu về lễ cúng bến
nước nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào các vấn đề nhưng các thức, diễn trình, khơng
gian thời gian tổ chức mà chưa đưa ra được những biến đổi của lễ cúng bến nước
trong truyền thống và hiện đại. Vì vậy việc nghiên cứu lễ cúng bến nước ở thị trấn
Krông Năng, huyện Krơng Năng, tỉnh Đắk Lắk có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu
sắc đóng góp nguồn tư liệu có hệ thống về lễ cúng bến nước về lễ cúng bến nước.
Qua đó giúp người đọc có thể thấy được giá trị văn hóa trong hoạt động của lễ cúng
bến nước.
Đề tài cũng góp phần cung cấp thêm tư liệu là cơ sở khoa học cho các cơ
quan chức năng trong cơng việc đề ra nhưng chính sách, biện pháp bảo tồn và phát
huy những giá trị văn hóa của dân tộc. Ngồi ra nội dung tiểu luận cũng có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đề tài này.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết bài, tài liệu tham khảo nội dung của tiểu luận được
trình bày trong ba chương:

3


Chương 1. Tổng quan về người Êdê ở thị trấn Krông Năng, huyện Krông
Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Chương 2. Lễ cúng bến nước của người Êđê ở thị trấn Krông Năng, huyện
Krơng Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3. Vài trị của lễ cúng bến nước của đồng bào Êdê ở thị trấn Krông
Năng, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

4


Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI ÊĐÊ Ở THỊ TRẤN KRÔNG NĂNG HUYỆN
KRÔNG NĂNG ĐẮK LẮK
1.1.Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm xã hội về địa bàn cư trú.
Đặc điểm tự nhiên:
Huyện Krông Năng khi chưa được thành lập chỉ là một phần của huyện
Krơng Buk. Ngày 09/11/1987, hội đồng chính phủ có quyết định số 212/HĐBT
chính thức thành lập huyện Krông Năng thuộc tỉnh Đắk Lắk.
Huyện Krông Năng nằm ở phía đơng bắc tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm tỉnh lỵ
50km theo quốc lộ 14, tỉnh lộ 14.
Toàn huyện gồm có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn và 11 xã:
Huyện lỵ: thị trấn Krông Năng.
11 xã: Cư Klông, Dliê Ya, Ea Dăh, Ea Hồ, Ea Puk, Ea Tam, Ea Tân, Ea Tóh, Phú
Lộc, Phú Xuân, Tam Giang.
Số buôn của người dân tộc thiểu số trong huyện là 30 bn
Có đường địa giới hành chính tiếp giáp:
Phía Tây và tây nam giáp huyện Krơng Buk.
Phía Bắc giáp huyện Ea H’leo.
Phía Đơng giáp huyện Sơng Hinh tỉnh Phú n.
Phía Nam và đơng bắc giáp tỉnh Gia Lai.
Phía Nam và Đơng Nam giáp huyện Ea Kar.
Địa hình của huyện Krơng Năng là địa hình cao ngun tương đối bằng

phẳng, xen kẽ những đồi thấp lượn sóng, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, đất đai,
khí hậu, thời tiết khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, dịch vụ du lịch , công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành sản xuất kinh doanh.
Nằm trên Cao Nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía Tây dãy trường sơn, có địa
hình dốc thoải từ 0,5 – 10, cao độ trung bình 800 mét so với mặt biển.
Thời tiết khí hậu vừa được chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa vừa mang
tính chất khí hậu cao ngun, trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa ( tháng 5 đến
5


tháng 10), mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau). Lượng mưa trung bình hàng
năm 1712mm. Nhiệt độ bình quân năm 23,4*C.
Về thủy văn, trên địa bàn huyện Krông Năng nằm trên diện tích đầu nguồn
của hệ thống sơng Ba, mật độ sơng suối cao 0,37-0,50 km/km. Có các sơng lớn như:
sơng Krơng H’Năng, sơng Krơng Buk, ngồi ra cịn có hệ thống ao, hồ, sơng suối,
có nhiều hồ nhân tạo lớn và nguồn nước ngầm khá phong phú, nếu khai thác tốt
phục vụ ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Về tài nguyên đất,phong phú và đa dạng, trong đó: Chiếm 61% diện tích đất
tự nhiên của huyện là đất bazan, có tầng đất dày và mịn, hàm lượng mùn và lân cao
(trung bình từ 3-10%) nên thuận lợi cho việc canh tác. Ngoài đất đỏ bazan, huyện
cịn có 13400 ha đất vàng đỏ trên bazan và khoảng 1100 ha đất dốc tụ, thung lũng
thuận lợi cho việc trồng lúa nước.
Đặc điểm xã hội:
Về phân bố dân cư và dân tộc
Từ xưa đến nay Krông Năng là địa bàn sinh tụ của nhiều tộc người khác
nhau, mỗi tộc người là bao gồm nhiều nhóm địa phương. Các tộc người và các
nhóm tộc người đều có những sắc thái văn hóa riêng được hình thành trên những
tương đồng văn hóa chung của cả huyện, tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong
đa dạng, một sắc thái văn hóa mang đậm sắc màu Krơng Năng, đóng góp một mảng
màu đặc sắc trong tồn bộ đời sống văn hóa Tây Nguyên.

Từ chỗ phân bố dân cư còn thưa thớt trên vùng đất rộng lớn, nhưng điều kiện
sống cịn nhiều khó khăn trong suốt thời kỳ chiến tranh, sau khi giải phóng hồn
tồn miền Nam, huyện Krơng Năng là địa bàn trọng điểm của chính sách tái phân
bố dân cư trên phạm vi cả nước để phát triển kinh tế đảm bảo an ninh quốc phịng.
Do đó, phân bố dân cư và dân số trải qua những biến động lớn để hình thành nên
vùng đất Krơng Năng trù phú như ngày nay.
Đến năm 2010, dân số huyện Krơng Năng là 119094 người chiếm 6,8% dân
số tồn tỉnh, với mật độ 193,71 (người/km2), trong đó dân số thành thị là 12038
người chiếm 10.1% dân số nông thôn 107056 người chiếm 89,9%. Dân cư Krông
Năng chủ yếu là các dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Việt chiếm 69126
người với tỉ lệ 58,76%, các dân tộc thiểu số như Êđê, Tày, Nùng, Thái…chiếm
48523 người chiếm 41,24%. Trong đó Êđê là tộc người tại chỗ, đa số phần còn lại
6


là các dân tộc di cư đến trong nhiều thời kỳ khác nhau, nhất là từ sau ngày giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Về tình hình kinh tế
Là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng, lại được thiên nhiên ưu đãi, khí
hậu ấm áp hầu như quanh năm, đất đai phì nhiêu, cảnh quan sơng núi hùng vĩ tạo
điều kiện cho kinh tế Krông Năng phát triển.
Kinh tế Krông Năng tập trung chủ yếu là nông lâm nghiệp, bên cạnh đó cịn
có cơng nghiệp chế biến ,thương nghiệp và thơng tin liên lạc. Trong giai đoạn này,
có sự mở rộng quy mô và thành lập mới một số doanh nghiệp, nhà máy chế biến
nông lâm sản, nhất là cà phê, cao su.
Đặc trưng văn hóa.
Ngày nay, đến với Krông Năng hầu như ai cũng ngạc nhiên trước một hiện
thực văn hóa dân gian vơ cùng phong phú, sống động, đa dạng của các dân tộc cư
trú ở cao nguyên này. Các nền văn hóa dân gian ấy thống nhất trong sự đa dạng và
đa dạng trong sự thống nhất, tạo thành một bức tranh văn hóa dân gian Krông Năng

với những mảng màu khác nhau, nhưng kết hợp khá hài hòa để tạo nên một nét độc
đáo, tinh tế, tạo thành ba dịng văn hóa giàu bản sắc:
Văn hóa các tộc người bản địa Trường Sơn –Tây Ngun
Văn hóa các dân tộc thiểu số phía Bắc
Văn hóa dân tộc kinh (người Việt), mang đủ sắc thái ba miền Bắc Trung Nam.
Bên cạnh nền văn hóa cộng đồng là nền văn hóa cồng chiêng khá độc đáo
của các dân tộc thiểu số, đó là cơng cụ duy nhất để con người thông tin với các vị
thần linh trong trời đất, là âm nhạc không thể thiếu trong đời sống cộng đồng, trong
sinh hoạt văn hóa, trong nghi lễ và lễ hội của các bn làng. Ngồi ra, ở Krơng
Năng cịn có các lễ hội nơng nghiệp (ăn cơm mới, cúng hồn lúa, cầu mưa, cúng bến
nước, ăn trâu mừng được mùa) và lễ hội vòng đời người (đặt tên, thổi tai, trưởng
thành, cúng sức khỏe, kết nghĩa anh em, lễ cưới, lễ bỏ mã..) khá độc đáo và sinh
động của các dân tộc tại chỗ và lễ hội xuân của các dân tộc thiểu số phía Bắc (lễ hội
cầu mưa, lễ hội cốm mới của người Thái, lễ hội nàng hai của người Tày).
Nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc ở Krông Năng được
ra đời và phát triển trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử các dân tộc
Việt Nam.
7


1.2. Người Êđê ở thị trấn Krông Năng huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk
1.2.1. Dân số, phân bố, nguồn gốc tên gọi và lịch sử cư trú.
Nhắc đến các dân tộc tại chỗ ở huyện Krông Năng, đầu tiên phải nói đến
người Êđê. Trong dân tộc thiểu số thì người Êđê là dân tộc tại chỗ có số dân đơng
nhất lên tới 29543 người chiếm 29,84% tổng dân số và 81,2% dân số người dân tộc
thiểu số. Người Êđê phân bố rải rác trên toàn huyện tập trung chủ yếu ở thị trấn
Krơng Năng và một số ít tập trung ở xã Ea Hồ, xã Dliê Ya và rải rác ở các xã trong
huyện.
Có nhiều luận thuyết của các nhà khoa học về lịch sử hình thành của người
Êđê.

Luận thuyết thứ nhất cho rằng: thời thái cổ, người Tây Nguyên gồm bộ phận
cư dân Melanesien, bị làn sóng người Indoneeessin do những cuộc chiến tranh bộ
lạc mà tràn vào đất liền Việt Nam, cùng tiến lên cư trú ở cao nguyên miền Tây.
Có thuyết lại cho rằng thời thường cổ nam Trung Quốc và Bắc Việt là nơi cư
trú của các thổ dân da đỏ Austronessien, cũng do chiến tranh bộ lạc mà dạt ra các
hải đảo ngoài biển và chạy lên dãy Trường Sơn.
Người Êđê cịn tự gọi mình là anăk ă Adiê có nghĩa là con của ơng trời.
Thần thoại Êđê kể rằng “Ơng tổ Diê (ơng trời) đánh nhau với một con rồng.
Rồng bị giết chết và đốt xác, cháy cả đất thành đất bazan. Aê Diê chia đất đai đó
cho con cháu mình sinh sống và canh tác. Tộc danh Êđê này được giả thích là thuật
ngữ chỉ những người sống trong rừng tre (Êtê hay Êđê), nhưng cũng có người cho
rằng tộc danh này bắt nguồn từ vị thần tối cao của người Êđê là Diê, bên cạnh
đó cịn có tên gọi khác là Ra Đê, các tên gọi này không được ưa thích và Êđê là
cách gọi chính thức trong văn bản hành chính về các dân tộc thiểu số của Nhà nước
Việt Nam. Người Êđê ở huyện Krơng Năng thuộc nhóm Êđê Adham, có một số
thuộc nhóm Mdhur giáp với tỉnh Phú n và Khánh Hịa và thuộc vào nhóm ngơn
ngữ Malayo-Polynesien.
1.2.2. Đặc điểm kinh tế văn hóa, xã hội truyền thống và biến đổi
Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội trong truyền thống.
Là vùng cao nguyên rộng lớn rừng núi bao quanh, nên người Êđê ở đây cũng
như các tộc người Tây Nguyên chủ yếu là canh tác nương rẫy. Một số vùng quanh
hồ, hoặc ven sống có tập quán trồng lúa nước, tuy nhiên không phổ biến. Đặc điểm
8


thời tiết ở Tây Nguyên chỉ có hai mùa rõ rệt mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10) và
mùa nắng (từ tháng 11 đến tháng 3), mùa mưa gieo trồng canh tác trên rẫy trồng các
loại cây lương thực và hoa màu như ngơ, đậu, khoai lang, củ mì…, cịn mùa khơ,
sau khi thu hoạch xong là vào mùa “ăn năm uống tháng” thời gian dành cho việc tổ
chức các lể cúng tạ ơn.

Nền kinh tế cổ truyền của người Êđê chưa có khái niệm sử dụng tiền, mà chỉ
mới là vật đổi vật khi muốn có một thứ gì đó khơng do mình làm ra. Những đồ vật
q như chiêng, ché… thường được định giá bằng số trâu hoặc voi, đị càng q thì
số lượng trâu hoặc voi để đổi càng nhiều. Những đồ vật nhỏ nhặt, vặt vãnh, bình
thường như muối, vịng đồng, trang sức… thường được đổi bằng gạo, mật ong, thổ
cẩm… hay những sản vật khác của rừng. Trong truyền thống của người Êđê chủ
yếu sống dựa vào rừng, đó là một phần khơng thể tách rời trong đời sống của một
cộng đồng, một cá nhân. Rừng được chia làm ba loại: rừng ở, rừng làm rẫy, rừng
tang ma. Rừng cung cấp thức ăn, cây thuốc, vũ khí, nguyên liệu sử dụng hàng
ngày… tất cả đều từ rung mà ra. Rừng gắn với bản thân người Êđê như một phần
của gia đình, của cộng đồng. Khi tổ chức một lễ lớn thì cả gia đình, dịng họ thậm
chí là cả cộng đồng đều tự nguyện đến giúp đỡ, tùy vào hồn cảnh, đến đóng góp
với gia đình chủ lễ, ai khơng đóng góp thì đến giúp đỡ về mặt nhân lực. Thịt thú
rừng là một nguồn cung cấp chất đạm chủ yếu, còn các loại gai súc, gia cầm nuôi
chỉ để dành cho các lễ hiến sinh, hoạc khi gia đình có khách. Rất hiếm khi có một
con vật ni bị giết thịt chỉ để gia đình ăn, mà một con vật khi vật giết đều có lý do
quan trọng. Số thịt của con vật nuôi sau các lễ hiến sinh thường được chia đều cho
mọi người, dù đó chỉ là một rẻo thịt nhỏ. Những vật ni chủ yếu là gà, vịt, heo,
trâu bị… trong đó trâu được coi là con vật thanh sạch nhất, quan trọng nhất, chỉ
dùng trong những lễ hiến sinh lớn của cả cộng đồng, hay của một nhà giàu. Gà là
con vật thường được sử dụng nhiều nhất cho các lễ hiến sinh nhỏ, hay là món ăn
quan trọng ,à người Êđê muốn thể hiện sự tơn trọng, lịng hiếu khách của mình.
Văn hóa truyền thống của người Êđê thể hiện qua kiến trúc, kiến trúc của
người Êđê là những ngôi nhà sàn được làm bằng các vật liệu gỗ, tranh, nứa, lá sắn
có sẳn trong tự nhiên, nhà sàn của người Êđê được gọi là nhà dài vì lòng nhà hẹp (34m), còn thân nhà theo thời gian, khi các cô gái lấy chồng lại được nối dài ra cùng
cư trú theo không gian mẫu hệ. Trang phục truyền thống của người Êđê được tự tay
những người phụ nữ trong gia đình dệt ra, họ dùng bơng của quả blang, kéo sợi
nhuộm màu bằng các loại lá, củ, cây lấy từ rừng, vải thường rất dày và bền, dùng
9



làm váy, áo, khố, chăn. Các loại trang phục của người Êđê gồm áo nam- knuky, nữm’iêng, váy, khăn quấn đầu- chiăm angum kọ và khố- kpin. Một số nghề thủ công
truyền thống như chạm khắc gỗ, nghề dệt, nghề rèn, dan lát my tre. Tuy sự phong
phú của văn hóa của người Êđê khơng bằng với dân tộc Kinh hay một số dân tộc
thiểu số ở vùng khác nhưng về đặc sác thì khơng thua kém gì. Tộc người Êđê theo
tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” cuộc sống của con người hoàn toàn phụ thuộc
vào vui buồn, ý muốn của các vị thần, vậy nên con người cần phải được che chở và
đảm bảo của các vị thần. Vì vậy mỗi khi cầu xin hay tạ ơn, phải có lễ vật để dâng
cúng.
Xã hội truyền thống của người Êđêcho đến hiện nay vẫn lấy đơn vị tổ chức
nhỏ nhất là buôn “buôn của người Êđê là một điểm cư tụ, gồm vài chục nóc nhà, có
phạm vị cư trú và khai thác riên, được cả buôn làng thừa nhận và tôn trọng. Mọi
hoạt động xã hội, phong tục mang tính chất cộng đồng đều được tuân thủ. Xã hội
truyền thống của người Êđê theo chế đọ mẫu hệ, coa ba đặc trưng tiêu biểu:
Tài sản phân chia theo dịng nữ.
Hơn nhân do nhà gái chủ động và cư trứ bên gia đình nhà vợ.
Con cái sinh ra mang họ mẹ.
Về mặt quan hệ xã hội, những chức vụ trong buôn đều do đàn ông nắm giữ là
chủ yếu, chủ đất gọi là pơ êlăn, cai quản tồn bộ đất đai trong phạm vi cư trú và sản
xuất chung, người đứng đầu của một buôn gọi là pô pin êa (chủ bến nước, hay chủ
bn). Ngồi ra trong bn cịn có các nhân vật khác khơng liên quan đến việc quản
lý cộng đồng, nhưng vẫn được .kính trọng như các pô riêu yang (thầy cúng , người
mgoij yang), mjâo (thầy phù thủy, thầy lang), buê (bà đỡ). Người ta tin rằng pơ riêu
yang cị khả năng quan hệ được với các vị thần linh, mjâo, buê có khả năng chữa
bệnh là nhờ có các yang ban cho nên khơng pahir ai cũng có thể làm mjâo, b. Hầu
hết những nhân vật trên đều được sự tín nhiệm, kính trọng của cả cộng đồng , mặc
dù vậy họ không sống và hưởng lợi từ cơng việc mà mình đảm nhiệm, những gì mà
họ được cộng đồng trả cơng hay sự trả ơn của các cá nhân đều là tùy tấm lịng, chủ
yếu dự vào sự tự nguyện, nên khơng đủ để họ sinh sống an nhàn, họ vẫn phải đi làm
rẫy nương, săn bắt.

Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, biến đổi hiện nay.
Vế kinh tế, ngày nay người Êđê tuy vẫn làm nương rẫy nhưng khơng cịn
tn thủ phương thức sản xuất luân canh, vì khái niệm sở hữu đất đai đã thay đổi.
10


Rẫy trồng lúa hiện nay cịn khá ít, chủ yếu trồng để phục vụ gia đình. Những cây
nơng nghiệp như ngô, đậu, khoai, sắn..tuy vẫn được trồng nhưng chỉ trồng xen với
các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao…Và được tham
gia tiêu thụ trên thị trường, chứ không chỉ để ăn và đổi chác như trước nữa. Việc
phá rừng làm nương rẫy của người Êđê ngày càng nhiều làm cho cuộc sống phụ
thuộc vào rừng của xã hội truyền thống mất đi, vì vậy ngày nay những quy định
trong luật tục của người Êđê về rừng được quy định rất nặng nề.
Về văn hóa, rất đáng tiếc là ngày nay người Êđê hầu như khơng ngơi nhà dài
nào cịn mang đầy đủ yếu tố truyền thống như trên nữa, do đời sống kinh tế phát
triển, sự thay đổi về nhận thức và cũng vì thiếu gỗ làm vật liệu xây dựng nên nhiều
bn chuyển sang xây nhà trệt bằng gạch, những ngôi nhà dài hiện cịn đều có từ
đời ơng bà, có cái đang qua sửa chữa, có cái thì hư hại nặng. Các trang phục truyền
thống cũng không được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, dấu vết còn lại của
trang phục truyền thống trong buôn hiện nay chỉ là chiếc m’iêng của người phụ nữ
lớn tuổi (váy dài tới mắt cá chân, may bằng những loại vải hiện đại rẻ tiền), các
trang phục truyền thống chỉ còn được mặc trong những dịp liên hoan văn nghệ,
những dịp lễ tết, những dịp gặp mặt quan trọng.
Về xã hội hiện nay do sự thay đổi về phương thức sản xuất, chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, vật nuôi, lấy khoa học kỹ thuật làm yếu tố chính để tăng năng suất và
chất lượng, vai trị lao động chính quyết định trong gia đình, đã chuyển dần từ phụ
nữ sang người đàn ông, do vậy mà việc tuân thủ mọi quy định của chế độ mẫu hệ
cũng có phần đã lơi lỏng, khơng cịn nghiêm ngặt như trước nữa. Vì ý thức cội
nguồn con cái các gia đình hợp hơn kết hơn ngồi tộc hoặc trở lại với họ cha hay mẹ
thường thì họ mang cả hai họ (ví dụ như Y Ngơng Niê Kdăm, Lê Thị Mai Mlơ). Do

chính sách quản lý của nhà nước làm thay đổi cơ bản xã hội truyền thống, những
chức vụ công việc đã tồn tại hàng trăm năm trong đời sống cộng đồng đã mất dần ý
nghĩa, nếu cịn chỉ là hình thức, những pơ pin êa, pơ phat kđi ( người xủa kiện),
mjâo… gần như khơng cịn nữa, do khơng có sự kế thừa của lớp trẻ. Phần khác
người dân không tin vào sự tồn tại của hệ thống các yang mà chuyển đổi theo các
tôn giáo, đầu tiên là cơ đốc giáo, sau là đạo tin lành.
Tiểu kết: Huyện Krông Năng là huyện được thành lập khá muộn trong tỉnh Đắk
Lắk, là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là dân tộc kinh và dân tộc Êđê
là dân tộc tại chỗ của huyện được phân bố rải rác khắp các xã trong huyện họ sống
chan hịa với thiên nhiên gìn giữ và phát huy truyền thống dân tộc, ý thức cội
11


nguồn, ngồi ra cịn các dân tộc ở trung du phái bắc cùng cư trú tại địa bàn (Tày,
Nùng, Thái…). Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng, một bản sắc dân tộc riêng
nhưng họ cùng chung sống hòa thuận cùng đồn kết xây dựng huyện Krơng Năng
phát triển. Với kết quả đạt được kinh tế,văn hóa, xã hội, làm cho cuộc sống của con
người nơi đây càng được nâng lên, các hoạt động về văn hóa diễn ra ngày càng
phong phú.

12


Chương 2.
LỄ CÚNG BẾN NƯỚC Ở THỊ TRẤN KRÔNG NĂNG HUYỆN KRÔNG
NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK.
2.1. Lễ cúng bến nước trong truyền thống.
2.1.1. Nguồn gốc lễ cúng bến nước.
Bến nước gắn với cuộc sống của người Êđê, vì vậy muốn dời bn lập bn
mới, thì già làng của từng bn, phải tìm những nơi có nguồn nước dồi dào mới cho

bn làng làm nhà lập bn, xây dựng cuộc sống,có nguồn nước mát thì cuộc sống
dân làng mới no đủ, hạnh phúc, người Êđê quan niệm “có bến nước mới có người
Êđê”, bn nào tìm được bến nước đẹp thì được coi là bn làng đó giàu có. Vì vậy
người Êđê có lễ cúng bến nước, đây là nghi lễ quan trọng của người Êđê. Họ quan
niệm nước còn quan trọng hơn cả cơm ăn, áo mặc, khơng ăn cơm cịn sống được cả
tháng trời, khơng có áo mặc thì chỉ bị lạnh thơi, cịn khơng có nước thì khơng thể
sống được. Do đó thần nước được người Êđê thờ cúng long trọng, và vô cùng
thiêng liêng.
Cúng bến nước là một phong tục độc đáo của đồng bào Êđê ở. Lễ cúng bến
nước nhằm cầu khấn cho nước luôn chảy trong, chảy suốt và chảy sạch... Tục cúng
bến nước của người Êđê có từ xa xưa, khi hình thành các bn làng. Cúng bến nước
để các vị thần nước, thần núi, thần sơng… biết được nơi đó có dân làng sinh sống
mà ban sức khỏe, làm ăn khấm khá, bà con trong buôn luôn yêu thương nhau, sống
thủy chung, trước sau như một.
Hằng năm, vào khoảng giữa cuối tháng chạp (12 âm lịch), sau khi thu hoạch
xong mùa màng bà con Êđê sắm sửa lễ vật để cúng bến nước, cầu thần linh ban
phước cho dân làng dồi dào sức khỏe, làm ăn khá giả, bn làng đồn kết.
2.1.2. Cách thức tổ chức và diễn trình nghi lễ.
Cách thức tổ chức.
Để nghi lễ được diễn ra một cách suôn sẻ và trật tự, thì trước ngày diễn ra lễ
cúng bên nước già làng, trưởng buôn đã lên kế hoạch sẵn. Trước hết, tập hợp dân
làng đến nhà văn hóa bn, để triển khai, lấy ý kiến và chuẩn bị cho công tác tổ
chức, già làng, trưởng bản là những người có chức vụ cao nhất những lời nói của
già làng, trưởng buôn luôn được buôn làng coi trọng và làm theo. Sau khi họp xong,
thì già làng sẽ phân chia cơng việc cho từng nhóm, mỗi nhóm người sẽ được phân
13


cơng cơng việc cụ thể, thanh niên trai tráng thì được giao làm vệ sinh bến nước, sửa
đường vào bến nước, phụ nữ và người già thì dọn dẹp nhà cửa, đường làng, ngõ

xóm, chuẩn bị lễ vật, từng thành viên trong bn đều đóng góp sức người, sức của.
Cơng việc chuẩn bị lễ vật, lễ vật bao gồm: một con heo (50 kg, heo để
nguyên con để cúng mà phải cắt ra từng mảnh nhỏ), rượu (thường là rượi cần, nếu
năm được mùa thì sẽ có 9 ché, những năm khơng được mùa thì chỉ cần chuẩn bị 3
ché, các ché rượu được chia làm ba phần, một để cúng ở bến nước, hai để cho anh
cả tức là chủ bến nước uống , ba là cho dân làng uống), 1 cây nêu (được già làng tự
tay làm, cây nêu được đặt ở nhà chủ bến nước), ngoài ra cịn có chén rót rượu, trầu,
cau, gạo xơi thuốc lá.
Sau khi xong cơng tác chuẩn bị, thì lễ vật được đưa ra bến nước để thực hiện
lễ cúng. Đi đầu là thầy cúng, tay cầm một tơ tiết heo có pha rượu, theo sau là các
chàng trai khỏe mạnh trong trang phục truyền thống bưng lể vật, người già và các
cô gái cũng nối nhau ra bên nước làm lễ. Tại bến nước, sau khi trưng bày lễ vật ra
thì thầy cúng đọc lời khấn mong nguồn nước dồi dào, trong lành, mọi người trong
buôn sức khỏe, đọc xong các chàng trai cầm khiên, đao phóng xuống dịng nước,
đánh duổi mà rừng, bảo vệ buôn làng. Cúng xong từ bến nước trở về, đây là lúc cả
buôn làng tập trung ăn tiệc, uống rượu cần, nhảy múa trong tiếng chiêng rộ rã.
Diễn trình nghi lễ.
Lễ cúng bến nước được tiến hành trong ba ngày
Ngày thứ nhất: Cúng tại gia đình nhà chủ bến nước và bến nước.
Trong ngày diễn ra lễ cúng tại bến nước, ngay từ sáng sớm người dân trong
buôn đã tập trung đông đủ tại nhà chủ bến nước Ma Sinh. Những chàng trai khỏe
mạnh thì chuẩn bị các lễ vật, còn các thiếu nữ và người già thì lo việc bếp núc. Các
lễ vật khơng thể thiếu trong ngày lễ gồm: 1 con heo đực đen; 9 ché rượu cần được
buộc vào các cột Gơng thành một hàng dọc ở gian khách ngôi nhà dài (trong đó 3
ché dùng để cúng cho chủ bến nước, 3 ché cúng cho chủ nhà và 3 ché để đãi khách
gần xa); thịt heo thái nhỏ bày thành năm món đựng vào nia; trầu cau, gạo, cơm xôi,
thuốc bày bên các ché rượu cần; tiết heo có pha chút rượu được đựng vào chén
đồng. Khi chiêng ngân vang bài “Gọi Yàng” thì cũng là lúc những chàng trai khỏe
mạnh trong buôn cầm ống nước bằng tre lần lượt đổ vào các ché rượu cần để mời
Yàng và ông bà tổ tiên về uống rượu, chứng kiến buôn, làng làm lễ cúng bến nước.


14


Khi lễ vật tại gia đình nhà chủ bến nước đã chuẩn bị xong, thầy cúng tay cầm
một tô tiết heo có pha rượu, 5 đùm thịt heo thái nhỏ đựng trong nia và 1 chai rượu
đi trước, theo sau là già làng tay cầm khiên, đao, chít khăn đỏ để bảo vệ thầy cúng;
nối tiếp là 5 cô gái trong trang phục truyền thống, gùi những quả bầu khô cùng 5
người con trai vác theo các ống nước bằng tre cùng ra bến nước để làm lễ.
Tại bến nước lễ vật được bày ra, thầy cúng đọc lời khấn với ý nghĩa: Hôm
nay chủ bến nước và bà con trong buôn Wiao làm lễ cúng bến nước, cầu mong các
Yàng phù hộ cho nguồn nước trong lành, không bao giờ cạn, mọi người trong buôn
khi uống nguồn nước này đều mạnh khỏe như con voi rừng, mùa màng, lúa, bắp đầy
kho, nhà nhà no đủ.
Cúng xong, Thầy cúng cầm khiên, đao chọc vào dịng nước sau đó các chàng
trai cầm khiên, đao nem xuống dong nước với ngụ ý đuổi cái xấu đi để nguồn nước
được trong lành, thông suốt. Sau đó các cơ gái, chàng trai mang những quả bầu khô
và ống tre hứng những giọt nước mát lành và mang về nhà tiếp tục đổ vào các ché
rượu cho thật đầy, mời bà con họ hàng cùng khách quý uống rượu và chung vui hết
ngày. Lễ cúng ở bến nước xong thì về nhà chủ bến nước cúng tiếp với ý nghĩa mời
thần nước về nhà, sau đó dân làng sẽ uống rượi tai nhà của bến nước.
Ngày thứ 2: Cấm buôn
Lễ vật bao gồm: 1 con gà trống trắng; 1 ché rượu, sợi chỉ bông, gạo, đèn cầy.
Nghi lễ và mọi công tác chuẩn bị đều được diễn ra tại cổng làng.
Già làng kêu gọi người dân trong buôn tới nhà chủ bến nước. Hai bên cửa
nhà của chủ bến nước treo sợi chỉ hồng, lòng gà và vịng Kơng làm bằng tre. Đường
vào bn sẽ có cây chắn ngang, buộc các loại dây treo như sợi chỉ hồng, lông gà…
để báo cho khách xa biết hơm nay trong bn làng có việc, cấm người lạ vào buôn.
Trong ngày này mọi sinh hoạt của người dân trong buôn như gùi nước, chẻ củi, giặt
giũ… đều bị cấm; nếu ai vi phạm sẽ bị phạt uống rượu 3 ngày và hút 1 điếu thuốc.

Thầy cúng đọc bài cúng hòa với tiếng chiêng; cúng xong thầy cúng cầm cần rượu
trao cho chủ bến nước (chủ nhà), rồi bà con dân làng theo thứ tự nữ uống trước,
nam uống sau. Sau đó thầy cúng phát gạo, sợi chỉ hồng cho các gia đình trong bn
mang về nhà cúng tại nhà riêng và thầy cúng buộc sợi chỉ vào tay các thanh niên tới
dự lễ. Sợi chỉ này không được tháo gỡ và xem như đó là vật linh thiêng phù hộ cho
mình may mắn trong cả năm. Nếu trời có giơng bão, mưa khơng thuận, gió khơng
hịa thì mang hạt gạo đó rải trước sân nhà cầu mong nắng mưa thuận lợi.
15


Ngày thứ 3: Mở cổng buôn
Đây là nghi thức để kết thúc lễ cúng bến nước. Lễ vật bao gồm: 1 ché rượu
và 1 con gà trống; đèn Kông làm bằng đồng, gạo đựng trong nia, đèn cầy.
Thầy cúng, già làng, chủ bến nước cùng ra mở cổng làng, sau đó về nhà cột
một ché rượu nhỏ, một con gà và đọc lời khấn với ý nghĩa kết thúc nghi lễ, cho
phép bà con dân làng được đi săn, bắt cá, thăm nương rẫy và sinh hoạt bình
thường…
Trong thời gian làm nghi lễ cúng bến nước, mọi hoạt động như làm rẫy, săn
bắt, hái lượm đều phải ngừng lại. Lễ cúng bến nước của người Êđê mang tính nghi
lễ nhiều hơn tính hội. Tuy nhiên, đây là dịp mọi người quay quần ở nhà chủ bến
nước để trò chuyện, ca hát, trao đổi tâm tình.
2.2. Những biến đổi của lễ cúng bến nước.
2.2.1. Nguyên nhân biến đổi.
Do nhận thức sai lệch của một số chính quyền cơ sở có thẩm quyền, đã có
nhiền biện pháp trấn áp, hạn chế một cách thô bạo, làm mất đi những nghi lễ những
tập tục tốt đẹp của lễ cúng bến nước, mang màu sắc dân tộc của người Êđê, việc
chưa phân định rạch rịi ranh giới giữa tín ngưỡng dị đoan với phát huy, tơn tạo văn
hóa dân tộc.
Ngày nay nhà nước có những chính sách phát triển cho đồng bào dân tộc
thiểu số, buôn Wiao được nhà nước hỗ trợ nguồn nước sạch, nguồn nước máy được

đưa tới từng nhà trong buôn, thay cho việc sử dụng nguồn nươc tự nhiên từ bến
nước. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi của lễ cúng bến nước của
người Êđê ở thị trấn Krông Năng. Nước máy dẫn đến tận từng nhà làm cho dân làng
khơng cịn sợ hết nước vào mùa hạn, không phải vất vả đi lấy nước cho nên nguồn
nước tự nhiên đó khơng cịn được sử dụng phổ biến, từ đó lễ cúng nước cũng khơng
cịn được người dân quan tâm hưởng ứng như xưa, trải qua thời gian thì các nghi lễ
của lễ cúng bến nước có nhiều biến đổi cho với truyền thống.
Việc lưu giữ lại các văn hóa truyền thống của người Êđê từ đời này sang đời
khác tất cả bằng truyền khẩu, qua lời kể của các già làng, trưởng bản, qua những
người lớn tuổi trong buôn. Xã hội ngày càng phát triển hiện đại dân làng khơng cịn
tập trung ở nhà văn hóa buôn để nghe kể những câu chuyện, thâu đêm suốt sáng,
những người già trong làng vì thế cũng khơng cịn tâm huyết trong những câu
16


chuyện của mình nữa, theo tuổi tác làm họ khơng cịn đủ sức để kể chính xác, mất
đi truyền thống văn hóa bản địa. Lễ cúng bến nước cũng khơng ngoại lệ, nó cũng bị
mai một theo thời gian, mai một qua từng thế hệ mất đi một lễ nghi lễ đặc sắc. Vừa
qua buôn Wiao tổ chức thành công lễ cúng bến nước, nhưng cũng không được ghi
chép lưu giữ lại, tất cả được ghi chép lại trong chiếc đầu của già làng Y Ơn Niê.
Hiện nay số lượng người Êđê trong buôn theo đạo khá nhiều nhất là đạo tin
lành, nên họ khơng cịn quan tâm đến các giá trị văn hóa của dân tộc mình, điền này
làm phá vở đi kết cấu buôn làng, chia rẻ sự đồn kết dân tộc làm mờ nhạt đi vai trị
được hưởng gia trị tinh thần dân tộc của họ, đây là điều đáng buồn cho buôn Wiao.
Và ngày nay, những quan niệm về phương thức sản xuất, quan niệm về tín
ngưỡn tâm linh mới, sự đồng hóa về văn hóa của người Việt (người kinh), sự thờ ơ
văn hóa của lớp trẻ, sự bất lực của người gia trong buôn, cũng là nguyên nhân là
cho lễ cúng bến nước biến đổi nhiều so với truyền thống.
2.2.2. Các biến đổi nổi trội.
Lễ cúng bến nước trong truyền thống được tổ chưc ba ngày (ngày thứ nhất

cúng ở bên nước và nhà chủ bên nước, ngày thứ hai cấm buôn, ngày thứ ba mở
cổng), nhưng hiện nay thì đã được tối giản lại thành một ngày, khơng cịn nghi lễ
cấm bn, mở cổng, chỉ cúng ở bến nước và về nhà chủ bến nước.
Xưa đến ngày cúng bên nước thì dân làng trong buôn hồ hởi, vui mừng, nô
nức chuẩn bị, họ gác lại tất cả công việc nương rẫy, ở nhà nghỉ ngơi, đợi ngày tham
gia lễ hội, thì giao đây đó là cơng việc của các già làng, trưởng bn, của các các bộ
bn. Những già làng u bn thì họ đứng ra kêu gọi buôn làng nhớ đến ngày
cúng bến, khơng cịn tinh thần tự nguyện đóng góp và lễ cúng như truyền thống giờ
đây các già phải đi đến tận nhà kêu gọi đóng góp theo hình thức bắt buộc mới có đủ
kinh phí tổ chức.Tuy vẫn được duy trì đến tận ngày nay nhưng thành phần tham gia
khơng cịn tất cả người trong bn nữa, mà ai thích thì đến khơng thì ở nhà cũng
khơng sao, ngày cúng bến thì cuộc sống thường ngày vẫn được diễn ra, ai tham gia
vào lễ cúng thì ở nhà ai khơng tham gia có thể đi là rẫy, hoặc ở nhà. Lễ cúng bến
nước vẫn trang nghiêm và mang ý nghĩa như truyền thống, nhưng không được giới
trẻ hưởng ứng. Tuy có nhiều biến đổi như vậy nhưng bn Wiao Thị trấn Krơng
Năng vẫn cịn duy trì được tập tục truyền thống vào hằng năm, một số buôn làng
khác trong tỉnh Đắk Lắk đã mấtt hẳn đi nghi lễ quan trọng này.

17


Đêm đến dân làng tụ họp ở nhà chủ bến nước để ăn cháo và uống rượu cần,
cùng nhau múa hát bên những chiếc chiêng, bên những đống lửa thâu đêm suốt
sáng, lúc về sẽ được già làng chia cho một miếng thịt heo từ con heo làm lễ dù ít
hay nhiều thì dân làng đều vui vẻ nhận lấy. Còn bây giờ cúng bến nước xong dân
làng tập trung về nhà chủ bên nươc để ăn thịt heo và uống rượu trắng của người
Việt (người kinh) và khơng cịn được chia thịt mang về như truyền thống.
Trang phục truyền thống của người Êđê là màu đen hoặc màu chàm, trên có
họa tiết hoa văn sặc sỡ. Phần lớn đàn bà mặc váy, quấn váy, đàn ơng đóng khố, mặc
áo, họ cịn rất thích dùng đồ trang sức bằng bạc, hạt cường, hoa tai, vòng cổ. Đây là

trang phục được tất cả mọi người mặc khi tham gia lễ hội trong truyền thống ,
nhưng giờ thì chỉ thầy cúng mới mang vì chỉ có thầy cúng cịn giữ được bộ trang
phục này, còn các người khác qua thời gian người thì bị mất, người thì bị hư hỏng,
mà cũng khơng có ý định dệt lại hoặc may lại nếu có may lại thì vải cũng của người
Kinh. Vì vậy trang phục tham gia gia lễ hội hiện nay nhũng người thực hiện nghi lễ,
đàn bà mặc váy giống truyền thống nhưng bị cách tân khá nhiều, đàn ông mặc áo
truyền thống và quần tây hoặc jean, còn người dân tham gia lễ thì thích mặc gì cũng
được.
Người Êđê truyền thống không tham gia bất cứ một tôn giáo nào, người Êđê
thờ đa thần (thần cây, thần nước, thần lửa,…). Hiện nay trên địa bàn thị trấn Krơng
Năng thì hơn một nữa dân là người Êđê là theo đạo tin lành tôn thờ đức chúa trời,
thờ đức mẹ Maria, con người sinh ra từ chúa, chúa ban cho cuộc sống sung túc thức
ăn, chỗ ở…và tất cả là của chúa trời, cho chỉ nghe theo lời của cha đạo họ không tin
buôn làng. Những người theo đạo tin lành họ không tham gia bất cứ các nghi lễ nào
trong buôn, họ ghét những lễ hội, ghét già làng, ghét trưởng buôn, họ vẫn qun
góp tiền cho lễ hội nhưng khơng tham gia, coi việc đó khơng liên qua đến cuộc sống
của mình…Lễ cúng bến nước là một lễ quan trọng của bn Wiao, nhưng từ khi
theo đạo tin lành thì họ cũng chưa tham gia lễ cúng này lần nào.
Vừa qua buôn Wiao vừa tổ chức thành công lễ cúng bến nước truyền thống
của người Êđê, có sự tham gia của buôn làng, cán bộ buôn, cán bộ địa phương, cán
bộ đài truyền hình, cùng các nhà báo của tỉnh. Lễ cúng bến nước năm nay có thể nói
là phục dựng, tái hiện hoặc quảng bá du lịch cho huyện, chứ không phải là lễ cúng
bến nước cầu thần linh ban phước cho buôn làng. Dù thế lễ cúng bên nước này vẫn
còn tồn tại là một điều đáng mừng cho văn hóa người Êđê ở đây.
18


2.2.3. Đánh giá về sự biến đổi.
Tuy có nhiều biến đổi so với truyền thống, theo thời gian, qua còn thế hệ
khơng cịn giữ lại được cách ngun vẹn các nghi lễ giống như trong truyền thống

nhưng dù sao lễ cúng bến nước vẫn cịn tại ở bn Wiao, thị trấn Krông Năng. Nét
đẹp truyền thống mất đi thay vào đó những khoa học kĩ thuật hiện đại đáp ứng đầy
đủ nhu cầu của cuộc sống tất nhiên các nghi lễ truyền thống cũng phải có sự biến
đổi phù hợp với thời cuộc nhưng khơng vì thế mà làm biến đổi quá nhanh, nhanh
quá có thể làm mất đi những nét văn hóa truyền thống mà chúng ta khơng để ý.
Những biến đổi của lễ cúng bến nước hiện nay, cũng làm cho những người
lớn tuổi trong buôn phải suy ngẫm, suy ngẫm về thế hệ trẻ, suy ngẫm về sự tồn tại
của bến nước. Suy ngẫm về nét đẹp truyền thống. Với sự phát triển qua nhanh của
đất nước thì vào một tương lai khơng xa sẽ khơng có sự biến đổi nào hết mà lễ cúng
bến nước không cịn tồn tại ở bn làng, nó sẽ bị dân làng lãng qn, nó chỉ cịn
xuất hiện trong q khứ đẹp của người Êđê ở buôn Wiao thị trấn Krông Năng. Vì
vậy cần phải quan tâm, đầu tư, phát triển các lễ hội của các dân tộc thiểu số.
Tiểu kết: Lễ cúng bến nước của người Êđê ở thị trấn Krông Năng diễn ra nhằm đáp
ứng nhu cầu vật chất tình thần của đồng bào. Hoạt động nghi lễ diễn ra cho thấy
việc cầu khấn các vị thần ở nơi đây là rất quan trọng, bên cạnh các nghi lễ mang
tính nghiêm trang thì các hoạt động vui chơi, giải trí cũng khơng kém thần sơi nổi,
sự hịa quyện giữa chất thiêng với chất trần tục đã tạo nên chất keo gắn kết cộng
đồng. Khi tham gia lễ hội mọi người dường như không lo toan, bề bộn của cuộc
sống thường nhật thay vào đó là niềm vui, ước vọng thiêng liêng với khơng khí
hoan náo nhiệt của người đi hội.

19


Chương 3.
VAI TRÒ CỦA LỄ CÚNG BẾN NƯỚC CỦA NGƯỜI ÊĐÊ
3.1.Trong truyền thống.
Lễ hội nói chung, lễ cúng bên nước nói riêng là một sinh hoạt tổng hợp bao
gồm các mặt tinh thần và vật chất, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật thiêng liêng và
đời thường, đây cịn là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt, có sức hấp

dẫn và lơi cuốn nhiều tầng lớp tham gia đã trở thành nhu cầu, khát vọng của dân
làng bn Wiao nói riêng, nhân huyện Krơng Năng nói chung.
Cúng bến nước là lễ hội mong muốn một năm mưa thuận gió hịa, mùa màng
tươi tốt, nguồn nước dồi dào, trong lành sạch sẽ, dân làng đoàn kết, yêu thương,
giúp đỡ lẫn nhau. Vì vậy lễ cúng bến nước có vai trị đặc biệt quan trọng quyết định
sự no đói, giàu nghèo của mỗi gia đình, quyết định sự tồn tại lầu dài của buôn làng,
dân làng không bao giờ quên ngày cúng bến nước, không bao giờ quên thần nước,
bến nước gắn liền với cuộc sống, in sâu vào tiềm thức của mỗi người Êđê. Ngày đi
lấy nước về nhà sinh hoạt giống như một ngày hội, người lớn cùng đợi nhau đi lấy
nước, nhà nhà, người người, đi thành từng nhóm cùng nói chuyện, vui đùa với nhau,
trẻ con đi theo mẹ, chị ra bến nước tắm mát, vui chơi, tuổi thơ gắn với bến nước
này. Bến nước là nơi gắn kết cộng đồng, là cuộc sống, là là lịch sử lâu đời của buôn
làng, từ khi lập bn đên ngày nay, là sự đồn kết, sống chan hịa, u thương nhau
của dân làng trong bn.
Lễ cúng bến nước là dịp để biểu dương sức mạnh của cộng đồng và chất kết
dính cấu kết cộng đồng, bởi trong nó có sức quy tụ vơ cùng to lớn. Mọi người trong
cộng đồng khi đến với lễ cúng bến nước này họ đều cảm thấy gần gũi, dễ tiếp xúc
với nhau, mọi người vui vẻ, thân thiện, hòa đồng, họ cùng nhau theo chân các già
làng, thầy cúng ra bến nước thực hiên nghi lễ của lễ hội. Kinh phí tổ chức lễ hội đều
do người dân tự nguyện quyên góp, góp sức người sức của để làm nên thành công
của lễ cúng bến nước truyền thống của người Êđe ở Krông Năng.
Lễ cúng bên nước là lễ hội truyền thống thực hiện chức năng gắn kết cộng
đồng, dù dưới hình thức nào thì kễ cúng bến nước thì vẫn là kiểu sinh hoạt tập thể
của buôn tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất vất vả của một năm. Lễ cúng bến
nước đáp ứng được nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh giả quyết những khát khao,
ước muốn của cộng đồng người Êđê ở buôn Wiao.

20



Lễ cúng bên nước còn là dịp dân làng được trở về cội nguồn tự nhiên hay cội
nguồn dân tộc, là sức mạnh gắn kết cộng đồng, họ thờ chung một vị thần, có chung
mục đích đồn kết vượt qua gian khó, giành lấy cuộc sống hạnh phúc. Cúng bến
nước cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa, vật chất và tinh
thần sáng tạo của mọi thế hệ.
Với ý nghĩa tốt đẹp đó lễ cúng bến nước hướng dân làng tới cái “cái
thiêng”và gắn bó con người với nhau, và lơi cuốn các tầng lớp xã hội, trở thành nhu
cầu và khát vọng của nhân làng, tinh thần của nghi lễ là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ
khí sắc bén cho mọi tời đại của dân tộc. Giá trị tích cực của lễ cúng bến nước góp
phần duy trì ổn định cộng đồng, gìn giữ các phong tục tập quán tốt đẹp của cộng
đồng, bảo tồn văn hóa tộc người, củng cố gắn bó các thành viên trong gia đình, xã
hội góp phần xây dựng cuộc sống chung hòa giữa con người với con người và con
người với thiên nhiên, trong đó con người phải đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau . Do đó
thực hiện tốt vai trị của lễ hội truyền thống là góp phần giáo dục văn hóa truyền
thống của dân tộc, làm lành mạnh phong phú đời sống tinh thần của bn làng và
cũng để góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bên cạnh
đó cịn góp phần vào quảng bá du lịch, quảng bá hình ảnh văn hóa Êđê với bạn bè
bốn phương.
Như vậy lễ cúng bến nước của người Êđê có vai trị vơ cùng lớn, nó khơng
chỉ là nơi để vui chơi, mà nó cịn mang đậm màu sắc dân tộc, đồng thời cũng là nơi
lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc, nó để lại ấn tượng trong tâm trí của những
người tham gia. Lễ cúng bến nước có vị trị quan trọng trong tâm trí của người Êđê,
làm thỏa mãn nhu cầu thị hiếu, đáp ứng nhu cầu tinh thần, nơi duy trì và phát huy
các giá trị truyền thống làng tự hào về dân tộc mình, tinh thần yêu nước.
3.2. Trong hiện đại.
Lễ cúng bến nước được tổ chức đã đáp ứng cầu về tâm linh, tín ngưỡng cho
bn làng, nhờ vậy mà cúng bến nước vẫn được diễn ra qua các năm, lễ cúng bến
nước tạo dịp cho dân làng nghỉ ngơi vui chơi, tham dự lê hội, thưởng thức thức ăn
truyền thống của dân tộc mình, tạo điều kiên giao lưu kết bạn, làm tăng thêm sự
thân thiết của bn làm, là nơi hịa giả những mới quan hệ mâu thuẫn của dân bn

mình. Vì vậy nó là một hoạt động văn hóa khơng thể thiếu có vai trị quan trọng
trong đời sống của buôn làng.

21


Hiện nay tuy nguồn nước chính được sử dụng trong bn Wiao có sự thay
đổi, bến nước khơng cịn là nơi cung cấp nước duy nhất cho buôn làng, nhưng lễ
cúng bến nước vẫn được diễn ra hằng năm thu hút được sự tham gia của buôn làng,
với mong muốn mưa thuận gió hịa, cuộc sống no đủ gắn kết cộng đồng như truyền
thống. Nó đã tạo ra nếp sống cộng đồng của buôn làng, là phương thức điều chỉnh
hành vi, lối sống, thái độ ứng xử với môi trường với nguồn nước một cách tốt đẹp
hơn.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế của khoa học kỹ
thuật, nên nhu cầu thụ hưởng của con người ngày càng tăng lên. Lễ cúng bến nước
cũng được coi trong để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của bn làng bên cạnh đó địa
phương cịn lợi dụng lễ hội này để phục vụ cho sự phát triển văn hóa du lịch của
huyện. Trên thực tế những năm qua các cán bộ địa phương chủ động xây dụng lễ
cúng bến nước trở thành một hoạt động văn hóa có giá trị để phục vụ du lịch, nhưng
văn hóa du lịch ln có quan hệ gắn bó chặt chẽ với truyền thống dân tộc tác động
chi phối lẫn nhau. Kết quả trước kia buôn Wiao được coi là nơi heo hút rừng thiêng
nước độc, giờ thì trở nên sầm uất nhờ sự can thiệp của các nhà báo, các ban ngành
của huyện, đài truyền hình.
Lễ cúng bến nước hình thành trên cơ sở của những nền tảng gắn kết cộng
đồng, gắn kết thiên nhiên với con người, gắn kết số mệnh của tộc người với một thế
lực siêu nhiên, thần linh để tạo niềm tin và hưởng thụ văn hóa. Ngày nay, trong xã
hội hiện đại thì cộng đồng ln coi trọng tính cá nhân của mình làm phá vỡ kết cấu
gắn kết truyền thống của tộc người mình, làm cho lễ hội ngày càng mất đi giá trị
văn hóa và mất đi sức mạnh cộng đồng. Xã hội hiện đại làm cho con người hưởng
thụ đời sống tâm linh cũng bị dồn nén thiếu sự cởi mở, xô bồ không tin vào thế giới

siên nhiên.
3.3. Một vài kiến nghị về bảo tồn và phát huy lễ cúng bến nước.
Căn cứ vào thực trạng của lễ cúng bến nước và tình hình thực tế của lễ cúng
bến nước, để đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy những mặt tích cực
cũng như những giá trị tốt đẹp, đồng thời qua đó giúp mọi người ý thức tốt hơn
trong việc bảo vệ, bảo tồn lễ cúng bên nước xứng đảng là một lễ hội quan trọng của
người Êđê huyện Krông Năng.
Trước hết, để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn phát huy những giá trị văn hóa
của lễ hội, chúng ta cần xác định được nhu cầu tâm linh của đại bộ phận dân trong
22


×