Trường ĐH Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
֍֍֍֍֍֍֍֍֍
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Ngân hàng nhà nước giảmilãiisuấtiđiều
hành có táciđộnginhưithếinàoiđếnithịitrường
năm 2020-2021?
Giảng viên hướng dẫn: TS-PGS. Bùi Thị Mai Hồi
PhânHuỳnh
tích
Sinh viên thực hiện: Võ
Phương Oanh
Lớp: TT001
MSSV: 31201020768
Lớp học phần: 21C1PUF50402905
Phân tích
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
I/ TỔNG QUÁT VỀ LÃI SUẤT...............................................................................4
1. Lãiisuấtilàigì?.................................................................................................4
2. Lãiisuấtiđiềuihànhilàigì?................................................................................4
II/ CHÍNH SÁCH GIẢM LÃIISUẤTIĐIỀUIHÀNHICỦAINHNNINĂMI2020....5
1. Chính sách giảm lãiisuấtiđiềuihànhicủaiNHNNinămi2020...........................5
2. Mục đích của chính sách................................................................................6
3. Tác động của chính sách................................................................................7
III/ VAFI ĐỀ NGHỊ GIẢM LÃI SUẤT TIỀN GỬI XUỐNG 0%...........................8
1. Đề nghị giảm lãi suất tiền gửi xuống 0%.......................................................8
2. Phân tích và nhận định...................................................................................9
IV/ KẾT LUẬN.......................................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………..……….13
2
LỜI MỞ ĐẦU
Dịch Covid bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào cuối năm 2019, bùng phát lây lan
mạnh mẽ trong năm 2020 và 2021. Dịch bệnh đã có tác động rấtilớniđốiivớiinền kinh
tế nước ta ở tất cả các ngành. Trước tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, Nhà
nước đã đưa ra nhiều chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp đặc biệt ở ngành Ngân
hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn cho sản
xuất, kinh doanh.“NHNN, từ đầu năm 2020 đến nay, để giảm bớt khó khăn do tác
động của dịch COVID-19, từ đó nền kinh tế có điều kiện phục hồi nhanh, tăng khả
năng tiếp cận vốn vay ngân hàng đối với nền kinh tế, trên cơ sở diễn biến kinh tế trong
và ngoài nước,“NHNN đã liên tiếp điều chỉnh giảm 3 lần các mức lãi suất, tổng mức
giảm 1,5-2,0%/năm đối với lãi suất điều hành, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho TCTD,
tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí
thấp hơn, qua đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ khách hàng phục hồi sản
xuất kinh doanh.””
Lãi suất là một trong những yếu tố quan trọng đối với nền kinh tế nền em quyết
định chọn làm đề tài của tiểu luận cuối kì, phân tích và nhận định chính sách giảm lãi
suất này đã táciđộnginhưithếinàoiđếnithịitrường năm 2020, cũng như đề xuất giảm lãi
suấtitiềnigửiivềi0% của VAFI có nên thực thi tại nước ta hay khơng?
3
I. TỔNG QUÁT VỀ LÃI SUẤT
1. Lãi suất là gì?
Lãi suất là một phạm trù kinh tế, phản ánh tỷ lệ tiền lãi mà người đi vay có trách
nhiệm phải trả cho việc sử dụng tiền của người cho vay. Ngồi ra lãi suất cịn phản ánh
mối quan hệ giữa cung và cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Khác với giá cả hàng hố, lãi
suất khơng được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm.
- Mỗi năm, bạn trả (nếu bạn đang vay) hoặc nhận (nếu bạn đang cho vay) tỷ lệ phần
trăm này trên tổng số tiền của khoản vay. Ví dụ, đối với khoản vay 100 đô la với lãi
suất 10%, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay 10 đô la vào cuối năm.
- Lãi suất danh nghĩa: Là một thuật ngữ về kinh tế học chỉ tỷ lệ lãi hiện hành. Tức là
tỷ lệ lãi chưa được điều chỉnh bởi ảnh hưởng của lạm phát phát hay ảnh hưởng của lãi
kép. Cho biết sự tăng trưởng của số tiền trong tài khoản sau một khoản thời gian nhất
định.
Lãi suất thực: Là lãi suất thực sự thu được, đã được điều chỉnh theo tác động của
lạm phát. Cho biết sự gia tăng của sức mua từ số tiền trong tài khoản trong một khoản
thời gian nhất định.
-
2.
Lãi suất thực bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát kỳ vọng.
Lãi suất điều hành là gì?
- “Lãi suất điều hành là một cơng cụ chính sách của các Ngân hàng Trung ương trên
thế giới.
- Nhiệm vụ chính của NHTW chính là điều hành các chỉ tiêu kinh tế như tỷ giá, lạm
phát, điều chỉnh lãi suất trên thị trường. Để làm được điều đó, NHTW đã sử dụng các
biện pháp hành chính cũng như các cơng cụ trên thị trường.”Theo Luật NHNN năm
2010, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia,
bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở
và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ.
- “Việc phổ biến của cơng cụ hành chính là huy động, trần tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc. NHTW thông qua việc mua bán ngoại tệ để điều hành tỷ giá, từ các
giấy tờ có giá đề điều tiết các cung cầu tiền trên thị trường.”
4
II. CHÍNH SÁCH GIẢMILÃIISUẤTIĐIỀUIHÀNH CỦA
NHNN NĂM 2020
1. Chính sách giảm lãiisuấtiđiềuihànhicủaiNHNNinămi2020:
- Chiều ngày 30/9/2020, NHNN đã công bố giảm 1 số lãi suất điều hành từ ngày
1/10/2020. Trong đó giảm lãi suất tái cấp vốn từ 4.5%/năm xuống 4%/năm, lãi suất tái
chiết khấu từ 3%/năm xuống 2.5%/năm và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng. So với các nước trong khu vực, Philippines giảm 2%; Thái Lan
giảm 0.75%, Malaysia giảm 1.25%, Indonesia giảm 1.25%; Ấn Độ giảm 1.15%; Trung
Quốc giảm 0.3%. Như vậy, Việt Nam hiện là một trong những nước có mức giảm lãi
suất điều hành lớn nhất.
- Thứ nhất về trần gửi lãi suất tiết kiệm bằng VND đây là giữa nhtm và KH. Đây là
đợt điều chỉnh lần thứ 3 trong năm 2020. Lần thứ nhất vào tháng 3, lần thứ 2 vào tháng
5 và lần thứ 3 là vào tháng 10. Tiền gửi không kỳ hạn, và kỳ hạn dưới 1 tháng có trần
lãi suất trước đây là 0,8%/năm, giảm ở lần 1 còn 0,5%/năm, giảm ở lần 2 cũng như giữ
nguyên ở lần 3 là 0,2%/năm.
- Thứ hai, tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, trước đây là 5%/năm, ở
lần giảm lãi suất thứ nhất còn là 4,75%, vào tháng 5 điều chỉnh về 4,25%/năm và đến
lần thứ 3 thì đã điều chỉnh là 4%/năm.
- Đối với trần lãi suất cho vay bằng VND, đối với các nhóm ngành hàng ưu tiên: 5
nhóm ngành mà chính phủ và NHNN đã chỉ rõ: Nơng nghiệp – “nông nghiệp là trụ đỡ
của nền kinh tế VN”, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp phụ trợ, cơng
nghệ cao.
- Lãiisuấtichoivayingắnihạn đối với các nhóm ngành ưuitiênigiảm từ 6%/năm
xuống 5,5% ở lần 1, 5%/năm ở lần 2, và xuống 4,5%/năm ở tháng 10/2020. Đây là
điều vô cùng thuận lợi đối với những nhóm ngành như nơng nghiệp, vì nơng nghiệp
cần khá nhiều vốn và thời gian thu hồi vốn cũng khá cao trong các kỳ hạn. Khi giải
phóng được nguồn tín dụng chảy vào những lĩnh vực thuốc nhóm ngành ưu tiên góp
phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng năng suất lao
động và GDP.
- Ví dụ thực tế trồng macca ở Việt Nam. Macca là một loại cây khó trồng, thời gian
thu hoạch có thể lên đến 5 năm, thậm chí người dân cịn khơng thể xác định được có
lợi nhuận hay khơng sau khi thu hoạch. Nếu có lợi nhuận thì kết quả sẽ rất tốt nhưng
nếu khơng có thì kết quả của người nơng dân bỏ ra cơng sức là bằng khơng. Tín dụng
4,5% cho vay ngắn hạn là 1 điều quan trọng đối với người nông dân với 1 số cây trồng
ngắn ngày như lúa gạo, hay ni trồng thủy sản để có khả năng xoay vòng vốn tốt hơn
5
- Mối quan hệ giữa các Ngân hàng Nhà nước cũng như các Ngân hàng Thương mại
cũng giảm 0,5% như“lãi suất chào mua giấy tờ có giá thơng qua nghiệp vụ thị trường
mở (OMO)”thì 3% vào tháng 5 xuống cịn 2,5%, lãi suất tái chiết khấu là từ 3% xuống
còn 2,5%, tái cấp vốn là từ 4,5% xuống còn 4%, lãi suất cho vay qua đêm giảm từ
5,5% xuống còn 5%. Theo tơi, thì mối quan hệ giữa Ngân hàng trung ương và Ngân
hàng thương mại khơng có nhiều tác động đến thị trường vốn nhiều vì hiện nay thanh
khoản ở các ngân hàng rất dồi dào, nhu cầu cho vay các doanh nghiệp và người dân là
thấp. Các ngân hàng thương mại huy động tiền gửi của dân với lãi suất rất thấp, được
Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn với lãi suất thấp và đầu ra là không thể cho vay trong
thời điểm này. Những doanh nghiệp yếu muốn vay thì khơng có đủ điều kiện tài chính
để vay lãi suất thấp do khơng có đủ tài sản và năng lực để đảm bảo. Vấn đề tiêu thụ ở
một số ngành như du lịch, nhà hàng, khách sạn, các lĩnh vực dịch vụ gần như khơng có
do ảnh hưởng của dịch.
- Nhóm 5 ngành ưu tiên mà chính phủ muốn thúc đẩy như nông nghiệp, xuất khẩu,
doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngồi như Samsung ở khu vực công nghiệp Thái Nguyên-Bắc Ninh hay những
khu công nghiệp lớn ở Bình Dương, Biên Hịa , cơng nghệ cao ở quận 9 TPHCM sẽ có
nhiều cơ hội được hưởng lãi suất vay ưu đãi. Tuy nhiên, cơ hội không chia đồng đều
cho tất cả các doanh nghiệp mà là hỗ trợ theo nhóm ngành. Vì thế, tùy vào doanh
nghiệp, tùy vào lợi thế cạnh tranh, sức cạnh tranh, năng lực và khả năng về tài chính
thì các doanh nghiệp sẽ có thể vay những gói vay khác nhau.
2.
-
Mục đích của chính sách:
Để khách hàng dễ dàng vay vốn phục vụ các ngành sản xuất kinh doanh.
- Kích thích tiêu dùng - nghĩa là tiền phải chạy vào các ngành kinh tế cơ bản - và
đầu tư nhưng vẫn ổn định vĩ mơ và kiểm sốt lạm phát. Đầu tư ở đây là là đầu tư vào
các doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh vì đây mới là cốt lõi để thị trường tài chính
tăng trưởng.
- Việc giảm lãi suất này là điểm tham chiếu cho các chính sách tiền tệ khác của
Ngân hàng Nhà nước như chính sách về thanh khoản, hỗ trợ thị trường mở, phân loại
các khoản vay,…
- Thể hiện tính nhất quán trong cơ sở của Ngân hàng Nhà nước và chính phủ Việt
Nam khi hỗ trợ thị trường. Từ đó sẽ tạo tâm lý tích cực của thị trường => Tạo thanh
khoản => Tăng dòng tiền => Kích thích tiêu dùng và đầu tư: Người dân có thêm thu
nhập sẽ tiêu dùng nhiều hơn thay vì đầu tư và đầu cơ => tạo đà tăng trưởng cho tồn
bộ nền kinh tế.
-
Kỳ vọng của chính sách đối với những tài sản đầu tư:
6
o Thị trường chứng khoán sẽ bị tác động tâm lý nhưng chỉ rất nhanh chóng vì dịng
tiền thực đi vào khơng q lớn trong thời điểm này vì nó đã chảy vào thị trường
trước đó. Chính sách chỉ phản ánh thực tế của thị trường. Đây là một ảnh hưởng
tích cực đối với thị trường.
o Đầu tư vào các tài sản khác như vàng, bất động sản, trái phiếu: Đối với những
người giao dịch trái phiếu, thì việc giảm lãi suất như một thiên đường vì mối
quan hệ trái chiều giữa lãi suất và giá trái phiếu, lãi suất giảm thì giá trái phiếu
tăng. Thế nhưng đối với người dân thì giảm lãi suất khơng ảnh hưởng nhiều đến
danh mục đầu tư trái phiếu.
o Bất động sản là thị trường đang rất quan trọng trong thời điểm này đối với bất kỳ
nhà đầu tư cá nhân nào. Thị trường tài chính có sự hứng khởi nhất định thì nhà
đầu tư có xu hướng chuyển sang những tài sản có tính ổn định hơn, giữ giá hơn
như bất động sản.
o Sự thay đổi của thị trường đang vận động theo đúng xu hướng mà chính sách của
chính phủ đề ra, dần dần giữ được tính ổn định mọi thứ để kiểm soát được lạm
phát và các vấn đề liên quan đến thu nhập và việc làm.
3.
Tác động của chính sách:
Khi giảm lãi suất, đồng tiền sẽ trở nên rẻ hơn do ngườiidânirútitiền ra khỏi ngân
hàng và đưa vàoicácitàiisảnikhác đặc biệt là cổ phiếu vì chúng có tính thanh khoản cao
và là xu hướng. Tuy nhiên thì xu hướng này đã giảm đi so với thời điểm đỉnh của dịch
Covid vì các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm trên thị trường sẽ chọn cách chắc chắn,
nghĩa là chọn thời điểm mọi thứ dễ dàng hơn, Index xuống thấp thì mua và trong giai
đoạn Index khơng có sự cải thiện hay tăng trưởng một cách đáng kể thì họ sẽ quan sát
thị trường nhiều hơn => Theo đó các thị trường bất động sản hay thị trường vàng trở
nên sôi động trở lại.
Tâm lý thị trường: Thị trường chứng khoán là thị trường vơ cùng nhạy cảm về
dịng tiền đặc biệt là sau khi chính sách mới được cơng bố, khi mọi yếu tố về mặt cơ
bản bị đẩy quá xa so với các quy định nói chung của thị trường và nói riêng của nhà
đầu tư. Thị trường kỳ vọng dịng tiền lớn sẽ đổ vào thị trường chứng khoán. => Yếu tố
tâm lý là yếu tố đẩy thị trường lên trong ngắn hạn thay vì yếu tố dịng tiền thực. Cơ sở
tiền tệ cần phải có thời gian để nó có thể phát huy vai trị của mình.
Với nhiều doanh nghiệp, họ mong chờ vào chính sách này trong việc giảm lãi
suất, chí ít giảm lãi suất vào thời điểm này giúp cho các lãi suất phải nộp trên hợp
đồng vay vốn hiện tại được giảm. Giảm lãi suất sẽ làm giảm sức ép đồng tiền cho
doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đang gặp khó khăn khi đại dịch xảy ra.
Từ đó sẽ là nền tảng để họ có thể tái đầu tư, trả lương cho nhân viên, kích thích tiêu
dùng cho nền kinh tế. Nói thêm vào thời điểm này, chính phủ đã đưa ra gói cứu trợ
16000 tỷ đồng cho các doanh nghiệp vay với lãi suất 0% của chính phủ đưa ra khơng
7
giải ngân được đồng nào vì có q nhiều điều kiện để vay vốn cũng như, minh chứng
doanh nghiệp. Thay vì bỏ ra tiền và nhân lực để cố gắng nhận được khoản vay thì
doanh nghiệp có thể dành thời gian cũng như sức lao động vào việc tái cơ cấu và kinh
doanh để tăng lợi nhuận.
Quy mô và tác động thực tế của việc giảm lãi suất lần này đến chính sách tiền tệ:
Khi chưa có chính sách này thì bản thân các ngân hàng họ cũng giảm lãi suất huy động
vì thanh khoản của họ đang dồi dào, họ đang có lượng tiền rất lớn trong khi cho vay
thì bị giới hạn. Các doanh nghiệp đang cố gắng giải quyết các khoản vay hiện tại thay
vì cho vay mới. Thị trường tiêu dùng đang ngưng trệ, đầu tư ngưng trệ là vấn đề lớn
đối với tất cả các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ tại Việt Nam. Các khoản vay mới sẽ
rất khó với ngân hàng vì họ sẽ phải cân đối giữa cố gắng cải thiện tín dụng, mở rộng
khoản vay mới đi kèm kiểm soát rủi ro, tránh được nở xấu, sức ép từ nợ xấu đang rất
lớn đối với bảng cân đối kế toán của các ngân hàng vào cuối năm 2020, 2021. Nghĩa là
cân đối lợi nhuận ngắn hạn trước mắt bằng cách tăng trưởng tín dụng với khả năng
tăng trưởng nợ xấu.
ð Giảm lãi suất thì tác động tâm lý thị trường nhiều hơn là tạo ra dòng tiền lớn hơn vào
thị trường thơng qua việc giảm chi phí vốn của doanh nghiệp.
III.VAFI ĐỀ NGHỊ GIẢM LÃI SUẤT TIỀN GỬI XUỐNG 0%
1.
Đề xuất lãi suất tiết kiệm 0%:
- “Ngày 22/6, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) gửi kiến nghị lên
Thủ tướng, Bộ Tài chính, NHNN... đề xuất hạ dần lãi suất tiền gửi VND về 0%/năm.
Theo công văn VAFI gửi Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà
nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương, hiện nay các nước Âu Mỹ,
Đông Âu chuyển đổi sang kinh tế thị trường, các nền kinh tế phát triển đều có mức lãi
suất nội tệ, ngoại tệ 0%/năm.
Thậm chí, một số nước cịn duy trì lãi suất âm (thu phí tiền gửi) nhằm bảo đảm lãi
suất cho vay cực thấp (2% - 5% tùy thuộc đối tượng vay và thời hạn vay) để kích thích
hệ thống doanh nghiệp và thị trường chứng khoán phát triển, đảm bảo an sinh xã hội
cho người thu nhập thấp và trung bình mua nhà ở và chi tiêu tiêu dùng có lãi suất tín
dụng cực thấp.
- Các nước trong khối ASEAN như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore cũng
đang có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cho đồng nội tệ ở mức 0%, lãi suất tiền gửi dài hạn
trong khoảng từ 0,2% - 0,7%/năm.
- Còn tại Việt Nam, tiền gửi VND cho kỳ hạn ngắn hạn và trung hạn đang ở mức từ
3,5% - 6,2%/năm là rất cao so với các nước nói trên và dẫn đến lãi suất cho vay cũng
8
cao hơn, trở thành bất lợi lớn cho cộng đồng doanh nghiệp cũng như đông đảo người
tiêu dùng thuộc đối tượng thu nhập thấp và trung bình.”
Bên cạnh đó VAFI cũng đề ra 5 giải pháp cũng như điều kiện tiên quyết để hạ lãi
suất nhanh:
·
“
·
“
·
“
·
“
·
“
Áp dụng luật thuế tài sản để ngăn mạnh dòng tiền đầu tư chảy vào thị
trường bất động sản.”
Yêu cầu bỏ thuế, phí giao dịch liên quan đến giao dịch trái phiếu, yêu cầu
các ngân hàng rằng khi năm giữ trái phiếu thì người nắm giữ được hưởng
lãi suất như tiền gửi tiết kiệm.”
Thu phí đối với việc gửi ngoại tệ tại ngân hàng, như phí giữ hộ của
vàng.”
Kiểm sốt chặt thâm hụt ngân hàng, VAFI cịn chỉ rõ là tham khảo chính
sách chi tiêu ngân sách của người Đức.”
Hệ thống ngân hàng trong nước tiếp tục củng cổ theo hướng loại bỏ ngân
hàng yếu kém.”
2. Phân tích và nhận định:
a. Vĩ mơ:
-
Tiền gửi vẫn là 1 khoản tiền đầu tư. Về lý thuyết đầu tư, khi nhà đầu tư đầu tư vào bất
kỳ tài sản nào thì cũng sẽ kỳ vọng vào lãi suất đầu tư. Lãi suất đầu tư gồm 3 phần: lãi
suất phi rủi ro, mức bù về lạm phát, phần bù về rủi ro.
-
Áp dụng trong nền kinh tế Việt Nam: Ví dụ Lãi suất phi rủi ro = Lãi suất chính phủ
10 năm (2,1%) + Lạm phát (4%) = 6,1% => Tương ứng với lãi suất tiết kiệm. Lãi suất
tiền gửi cũng giống như tất cả những sản phẩm tài chính khác trong thị trường tài
chính, khơng thể nào dùng 1 mệnh lệnh hành chính để chuyển về mức 0% để nguồn đó
chảy vào các sản phẩm tài chính khác. Vào theo đề xuất mà VAFI đưa ra thì dịng tiền
chậm ở cả bất động sản và tiền gửi và dường như họ muốn đưa dòng tiền đổ vào thị
trường cổ phiếu.
-
Khi lãi suất giảm thì cần tính ở trong tổng hịa tất cả các chính sách tiền tệ của từng
quốc gia trong từng thời điểm chứ không thể so sánh với bất kỳ nước nào vì chính sách
tiền tệ của chúng ta khác các nước trong khối ASEAN, chính sách ngoại hối cũng khác
với các nước Đông Âu.
-
Lãi suất phi rủi ro,“lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm là 2,1%” thì khi kéo lãi suất
tiền gửi về mức 0%/ năm cũng sẽ gây khó khăn cho việc phát hành trái phiếu thành
cơng của chính phủ.
9
=> Chúng ta cần phải cân bằng giữa lạm phát, các yếu tố vĩ mơ, chính sách tiền
tệ đặc biệt là điều kiện nước đang phát triển như Việt Nam sẽ khác với Nhật
hay Mỹ.
b. An sinh xã hội:
Nhận định cá nhân: VAFI đưa ra luận điểm là nếu như lãi suất tiết kiệm về bằng
0% thì mọi người sẽ dùng tiền vào nhiều mục đích khác, nhưng lại khơng chú ý đến
hậu quả. Hiện tại, tiền gửi của người dân đối với những người thiếu kiến thức cũng
như kinh nghiệm về đầu tư, thì tiền lãi từ khoản gửi tiết kiệm rất đáng mong chờ. Khi
đề xuất này được áp dụng, lãi suất 0%, thì họ sẽ khơng tiếp tục gửi tại Ngân hàng mà
lại rút ra và đưa vào những khoản đầu tư rủi ro khác => Dẫn đến hậu quả khó lường.
-
“Sự co hẹp lãi suất tiền gửi sẽ tạo ra những hệ lụy kinh tế khó lường và chỉ làm giàu
cho 1 số ít người thơng qua việc đốt nóng thị trường chứng khốn và bất động sản.”
-
Nhìn nhận theo tổng quan thì khi lãi suất về 0%, chưa hẳn thị trường cổ phiếu sẽ tăng.
Như chúng ta đã biết thì khơng có mối tương quan trực tiếp nào giữa lãi suất và giá
của cổ phiếu. Khi lãi suất tăng thì giá cổ phiếu có thể biến động theo nhiều xu hướng
khác nhau: tăng, giảm, hay không đổi. Theo GS Hồ Quốc Tuấn trong tọa đàm “Các
yếu tố tác động đến giá cổ phiếu”, thì có 80% những lần lãi suất tăng thì giá cổ phiếu
tăng.
c. Ngân hàng, các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán:
-
Ngân hàng sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên khi người dân rút tiền gửi dẫn đến
khả năng mất thanh khoản cao. Khi người dân rút tiền ra, nắm giữ tiền mặt nhiều hơn
thì lượng tiền trong nền kinh tế lớn, người dân có thể mua vàng hay đầu tư vào các tài
sản có tính rủi ro cao sẽ làm đồng tiền mất giá.
-
Nguyên lý cân bằng lãi suất: khi lãi suất của 1 đồng tiền giảm thì giá trị của đồng tiền
đó cũng sụt giảm theo. Thực tế, khi cầm 1 đồng tiền mang lại lãi tối thì mình sẽ tiếp
tục giữ nhưng nếu lãi suất đi xuống thì sẽ bán đồng tiền đó đi và nắm giữ đồng tiền có
lãi suất tốt hơn. Việc này vơ tình làm VNĐ giảm giá, ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu
của nước ta. Lạm phát, dòng tiền mất giá là kẻ thù của thị trường chứng khốn. Những
đầu tư nước ngồi sẽ cân nhắc hơn khi đầu tư vào Việt Nam, dẫn đến FDI giảm xuống.
Giảm lãi suất làm đồng tiền giảm giá và sẽ đưa Việt Nam vào danh sách thao túng tiền
tệ, mà hiện nay nước ta đang trong danh sách chờ.
-
43% lợi nhuận của thị trường chứng khoán là lợi nhuận ngân hàng. Nếu ngân hàng
sập, với tâm lý thị thị trường có thể khiến cả VNIndex sập theo.
-
Lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập người dân, thu nhập kém, chi tiêu kém thì các
doanh nghiệp trên sàn cũng khó có thể phát triển tốt.
10
-
Có thể nhận thấy, đề xuất này cũng có những điểm tích cực, một phần thúc đẩy nền
kinh tế nước ta phát triển tuy nhiên lại không đặt trên bối cảnh hiện tại của nước ta, 1
quốc gia đang phát triển, nền kinh tế đang phát triển, lãi suất cao, tốc độ tăng trưởng
GDP lớn với mục tiêu đa số trên 6% trong khi các quốc gia phát triển chỉ ở khoản 1%
đến 2%/năm.
- Nhiều ý kiến cho rằng hạ lãi suất tiền gửi để kéo lãi suất cho vay xuống thấp, để
tiền được bơm vào nền kinh tế, tài trợ cho tăng trưởng. Vấn đề này phụ thuộc vào
vòng quay tiền và cung tiền, lạm phát nhưng chưa hẳn điều này đã đúng ở Việt Nam.
Khi hệ lụy kinh tế như thế, tính rủi ro trong nền kinh tế cao lên, ngân hàng cho vay
doanh nghiệp có rủi ro cao thì buộc ngân hàng phải cho vay với lãi suất cao, tỷ lệ tín
nhiệm có thể giảm xuống thì lãi suất cho vay khó giảm được.
- Với đề nghị được đưa ra ở một bối cảnh vĩ mô khác như các nước Đơng Âu, người
dân có đủ kiến thức và kinh nghiệm tài chính, tất cả mọi thứ ổn định thì có thể hợp lý
do VAFI đã nhấn mạnh rằng đề xuất hạ dần lãi suất về 0%.
11
IV. KẾT LUẬN
-
Chính sách giảm lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước hầu như mang lại lợi
ích cho các doanh nghiệp, cũng như các Ngân hàng Thương mại, tác động rất tích cực
đến nền kinh tế; mọi thứ dần vận động theo xu hướng mà chính sách hướng đến. Ví
dụ ở“thị trường chứng khốn Việt Nam có sự phục hồi khá tốt và có thể nói là tốt hơn
các nước trong khu vực và trên thế giới. Thị trường chứng khốn gần như đã lấy lại
những gì đã mất từ đầu năm 2020. Vốn hóa thị trường đạt 71,3% GDP. Nhờ sự phục
hồi cả về chỉ số, quy mơ và nội lực cũng như diễn biến của dịng vốn ngoại có tác động
trực tiếp và mạnh mẽ lên thị trường chứng khoán Việt Nam.”
-
Về đề xuất giảm lãi suất tiền gửi về 0% của VAFI có thể sẽ là đề xuất mà nước ta
sẽ hướng đến trong tương lai khi bối cảnh kinh tế cũng như những yếu tố vĩ mơ khác
phát triển hơn. Như thế sẽ có quá nhiều hậu quả cho người dân và các ngành kinh tế
khi đề xuất được thực thi.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. />2.
/>th=100%25&leftWidth=0%25&rightWidth=0%25&showFooter=false&showHead
er=false&_adf.ctrlstate=z3ohdkegh_4&_afrLoop=11509512751431506#%40%3F_afrLoop%3D115
09512751431506%26centerWidth%3D100%2525%26leftWidth%3D0%2525%26
rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26
_adf.ctrl-state%3Dwwtygbhwf_4
3. />4. />
13