Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

SKKN vận dụng kiến thức sinh 8 vào thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (959.78 KB, 26 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG ĐIỀN
TRƯỜNG THCS NGUYỄN HỮU DẬT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ Phát triển năng lực vận dụng kiến thức sinh
học 8 vào thực tiễn cuộc sống”

Người thực hiện: HỒ THỊ THU HƯƠNG
Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên mơn: Hóa – Sinh – CN - TD

Năm học: 2020 - 2021
1


Phần I. MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
Giáo dục từ lâu đã được coi là quốc sách hàng đầu. Đặc biệt là trong
những năm gần đây giáo dục càng trở nên quan trọng. Xã hội càng phát triển,
nhu cầu về nguồn lực con người càng tăng đòi hỏi chất lượng dạy và học cần
phải được nâng cao để có được sản phẩm con người phát triển một cách toàn
diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách – đó là nguồn nhân lực lao động sáng tạo, là
chủ thể để xây dựng đất nước. Bởi vậy việc chuẩn bị cho học sinh những phẩm
chất, kiến thức và kỹ năng gắn liền với thực tiễn cuộc sống là hết sức cần thiết
trong nhà trường phổ thông hiện nay. Thời đại ngày nay, nhiều thành tựu khoa
học và công nghệ xuất hiện một cách hết sức bất ngờ và cũng được đổi mới
một cách cực kì nhanh chóng. Hệ thống giáo dục theo đó cũng đặt ra những
yêu cầu mới.
Giáo dục phổ thơng nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh


vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải
thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ
một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng,
hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả
giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng
kiến thức giải quyết vấn đề, đặc biệt đánh giá năng lực vận dụng kiến thức các
môn học vào cuộc sống; coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với
kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng
cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
Sinh học nói chung và mơn Sinh học 8 nói riêng là một mơn khoa học
vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính thực tiễn. Mơn sinh học 8 bước đầu
giúp học sinh khám phá về một loài động vật cao nhất trên bậc thang tiến hóa –
con người, về những điều bí ẩn trong chính bản thân các em. Khi đã hiểu rõ,
nắm chắc các kiến thức đó, các em sẽ có cơ sở áp dụng các biện pháp vệ sinh,
rèn luyện thân thể khỏe mạnh, tạo điều kiện cho hoạt động học tập và lao động
có hiệu suất và chất lượng. Bởi vậy, việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ
năng nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức Sinh học vào thực tiễn là
thực sự cần thiết, tạo tiền đề vững chắc cho học sinh, giúp họ tự tin hơn khi
bước vào cuộc sống. Vì vậy tơi lựa chọn đề tài: “Phát triển năng lực vận
dụng kiến thức Sinh học 8 vào thực tiễn cuộc sống” với mong muốn góp
một phần nhỏ bé để nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học 8, nhằm phát

2


triển một số phẩm chất và năng lực cho học sinh Trường THCS Nguyễn Hữu
Dật, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế .
2. Đối tượng nghiên cứu.
Bản thân tôi xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài này là năng lực
vận dụng kiến thức sinh học 8 vào thực tiễn cuộc sống nhằm giúp học sinh tích

cực hơn trong việc tìm hiểu các kiến thức sinh học 8, tạo hứng thú hơn cho học
sinh học tập, lĩnh hội kiến thức.
3. Phạm vi nghiên cứu.
- Học sinh lớp 8/3 trường THCS Nguyễn Hữu Dật, năm học 2019- 2020 dạy
thực nghiệm, lớp 8/1 đối chứng.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Đọc tài liệu.
Để thực hiện tốt và có cơ sở cho việc nghiên cứu, điều tra tình hình học
tập của học sinh, bản thân tôi đã đọc 1 số tài liệu: sách giáo khoa, sách tham
khảo, tài liệu chuyên môn, sách bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo
viên…đặc biệt là những tài liệu giúp học sinh tích cực, hứng thú trong học tập
bộ mơn sinh học. Qua đó cung cấp thêm những kiến thức chuyên môn nhằm
phục vụ tốt hơn trong công tác nghiên cứu.
Sau khi đọc nhiều tài liệu tôi nhận thấy rằng sinh học là một bộ môn
khoa học thực nghiệm, và để học sinh học tốt bộ môn này thì cần phải rèn
luyện cho các em năng lực biết vận dụng các kiến thức đã học để ứng dụng vào
thực tiễn cuộc sống, từ đó các em sẽ nhớ được kiến thức lâu hơn, hiểu sâu được
kiến thức hơn.
4.2. Điều tra.
4.2.1. Dự giờ:
Bản thân tôi đã dự giờ nhiều tiết ở các khối lớp, đặc biệt là giáo viên dạy
cùng bộ mơn, từ đó rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân qua các thao
tác, phương pháp giảng dạy của mỗi giáo viên, đặc biệt là việc phát huy năng
lực vận dụng thực tiễn của học sinh trong tiết học.
Ngồi ra bản thân tơi cũng thường xun được các đồng nghiệp, tổ
chuyên môn dự giờ, đánh giá, rút kinh nghiệm, từ đó có thể dần hồn thiện bản
thân và phương pháp dạy học.
4.2.2. Đàm thoại.

3



Trong công tác, tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để khắc phục
những khó khăn trong giảng dạy, cách thức phối hợp các phương pháp dạy học
thích hợp trong từng bài.
Trong q trình dạy học, tơi thường đàm thoại trực tiếp với học sinh để
nắm được tình hình học tập của lớp, từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học cho
phù hợp với từng đối tượng học sinh.
4.3. Thực nghiệm
Tôi đã sử dụng những biện pháp để nâng cao năng lực vận dụng kiến
thức sinh học vào thực tiễn để giảng dạy ở lớp 8/3 nhưng không áp dụng với 2
lớp cịn lại đó là 8/1 và 8/2. Từ đó tơi đối chiếu kết quả học tập của các lớp
thông qua kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết và kiểm tra học kì 1

4


Phần II. NỘI DUNG.
1. Cơ sở lí luận chung.
Qua sinh học 6 và sinh học 7 , các em đã được tìm hiểu về cấu tạo và
đời sống của các cơ thể thực vật, động vật, thấy được tính đa dạng và phong
phú cũng như tính thích nghi kì diệu với môi trường sống của chúng. Đông thời
các em cũng thấy được sự tiến hóa của sinh vật từ đơn giản đến phức tạp và
biết được con người là động vật cao nhất trên bậc thang tiến hóa.
Bước sang chương trình sinh học 8 , các em sẽ được tìm hiểu sâu về con
người, tự khám phá được những điều bí ẩn trong chính bản thân các em. Chính
vì vậy, tôi nghĩ đổi mới phương pháp dạy học phải thể hiện được ba tính chất
cơ bản sau:
+ Một là: Phát huy tính tích cực, năng lực tư duy, óc sáng tạo và khả
năng tự học của học sinh trong quá trình học tập.

+ Hai là: Giảng dạy và học tập phải gắn liền với cuộc sống sản xuất,
học đi đôi với hành.
+ Ba là: Rèn luyện được kĩ năng sống và phát triển năng lực học sinh.
Tôi nhận thấy rằng học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong q
trình dạy và học giáo viên ln có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến
thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày, rất nhiều kiến thức sinh
học 8 có thể liên hệ được với các hiện tượng sinh lý của cơ thể người.
2. Cơ sở thực tiễn.
2.1. Vài nét về tình hình nhà trường
Trong 3 năm bước vào nghề, tuy thời gian không dài nhưng cả 3 năm tôi
đều được Ban giám hiệu phân công trực tiếp giảng dạy môn Sinh học 8 nên có
nhiều thuận lợi cho việc thực hiện đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến
thức Sinh học 8 vào thực tiễn cuộc sống” cho học sinh tại nhà trường.
Bên cạnh đó, trong q trình giảng dạy vẫn gặp phải một số hạn chế như
cơ sở hạ tầng của nhà trường chưa đầy đủ, phòng thực hành Sinh học riêng biệt
mới được đưa vào hoạt động trong năm học này, việc ứng dụng cơng nghệ
thơng tin cũng cịn hạn chế vì những năm trước đây phịng máy tính, máy chiếu
cịn ít. Các mơ hình, tranh ảnh đã cũ, hỏng vì vậy chưa gây được hứng thú cho
học sinh trong học tập bộ mơn.
Với đề tài này có thể thấy được cách vận dụng để giải thích các hiện
tượng sinh lý thực tế có hệ thống qua một số bài, hỗ trợ giáo viên dạy học
trong một số tiết, qua đó cung cấp cho học sinh những kiến thức bổ ích, thiết
5


thực, tạo niềm tin vào khoa học, say mê học tập, vận dụng kiến thức vào đời
sống và sản xuất.
2.2. Vài nét về chất lượng học sinh
Với những năm thực nghiệm giảng dạy từ những lớp học sinh đã qua tôi
nhận thấy rằng học sinh dù khả năng tư duy tốt thì vẫn rất ngại những bài học

khơ khan mang tính lí thuyết, ngược lại các em tỏ ra hứng thú với những bài
giảng có tính thực tế, mỗi khi giáo viên đặt ra những hiện tượng thực tế trong
đời sống hàng ngày xung quanh mình các em tỏ ra tị mị, hiếu kì muốn tìm
ngay lời giải đáp và tập trung vào bài học rất cao.
Trong các năm học, tôi đã tiến hành dạy thử nghiệm với khối lớp 8 –
Trường THCS Nguyễn Hữu Dật, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong suốt thời gian dạy thực nghiệm tôi nhận thấy rằng học sinh hoạt
động rất tích cực, về nhà làm bài tập nhiều hơn, tiết học sôi nổi hơn mỗi khi các
em thảo luận với nhau về các hiện tượng thực tế liên quan trong bài học để tìm
câu trả lời và đặc biệt hơn là học sinh đã chủ động lĩnh hội kiến thức, biết vận
dụng kiến thức vào đời sống.
Xuất phát từ những thực tế đó và một số kinh nghiệm trong giảng dạy
bộ môn Sinh học 8, tơi thấy để có chất lượng giáo dục bộ mơn Sinh học cao
hơn, người giáo viên ngồi phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực, cần
khai thác thêm các hiện tượng Sinh học trong thực tiễn trong đời sống để đưa
vào bài giảng hoặc yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức lí thuyết để giải thích
các hiện tượng thực tiễn bằng nhiều phương pháp và hình thức học khác nhau
nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm vui và
hứng thú trong học tập bộ mơn. Từ những lí do đó tơi chọn đề tài: “Phát triển
năng lực vận dụng kiến thức Sinh học 8 vào thực tiễn cuộc sống” cho học sinh,
áp dụng cho chương trình Sinh học lớp 8 cấp THCS.
3. Nội dung vấn đề.
3.1. Kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học là một thành tố của năng
lực khoa học tự nhiên.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, dạy học các môn khoa học
phát triển cho HS năng lực đặc thù (những năng lực được hình thành, phát triển
chủ yếu thơng qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực
ngơn ngữ, năng lực tính tốn, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực
tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất) là năng lực khoa học, được thể
hiện qua các thành tố: Nhận thức khoa học; Tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội;

Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học . Như vậy, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã
học chính là một kĩ năng thành tố của năng lực khoa học.
6


Trong một số nghiên cứu , nhiều tác giả đã định nghĩa kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn như: “Kĩ năng vận dụng kiến thức là khả năng của bản
thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và
hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống,
những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến
đổi nó. Kĩ năng vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con
người trong qua trình hoạt động để thoả mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức” .
Hay Kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là khả năng của cá nhân có thể
thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động dựa trên kiến thức, kinh
nghiệm đã có của bản thân hoặc tìm tịi, khám phá kiến thức mới để giải quyết
được các vấn đề thực tiễn một cách có hiệu quả .
Trong Chương trình mơn Sinh học (2018), kĩ năng vận dụng kiến thức,
kĩ năng đã học có nghĩa là HS vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải
thích, đánh giá hiện tượng thường gặp trong tự nhiên và trong đời sống; có thái
độ và hành vi ứng xử thích hợp . Cụ thể như sau:
- Giải thích thực tiễn: giải thích, đánh giá được những hiện tượng
thường gặp trong tự nhiên và trong đời sống, tác động của chúng đến phát triển
bền vững.
- Giải thích, đánh giá, phản biện được một số mơ hình cơng nghệ ở mức
độ phù hợp.
- Có hành vi, thái độ thích hợp: đề xuất, thực hiện được một số giải pháp
để bảo vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và cộng đồng; bảo vệ thiên nhiên, mơi
trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
3.2. Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong dạy học
Sinh học.

Theo Hoàng Phê (2003), “Rèn luyện nghĩa là luyện tập nhiều trong thực
tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo” .Rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong quá trình dạy học nghĩa là
GV thường xuyên đặt HS vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,
yêu cầu HS giải quyết vấn đề đó bằng cách sử dụng các kiến thức, kĩ năng đã
học, thông qua việc giải quyết các vấn đề này mà khả năng vận dụng kiến thức,
kĩ năng đã học của HS cũng được tăng lên.
Để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong môn Sinh
học, GV cần dựa vào các biểu hiện của kĩ năng như trên, gắn kiến thức môn
học với các hiện tượng trong tự nhiên và đời sống, ví dụ như các hiện tượng
liên quan đến các q trình sinh lí trong cơ thể thực vật, động vật, con người,
các hiện tượng di truyền, biến dị, tiến hóa,…; GV cũng có thể giới thiệu các mơ
7


hình cơng nghệ như: cơng nghệ vi sinh vật, cơng nghệ tế bào, cơng nghệ gene,
mơ hình STEM,…
Từ việc u cầu HS quan sát các hiện tượng trong tự nhiên, đời sống và
các mơ hình cơng nghệ, GV u cầu HS giải thích, đánh giá, phản biện qua đó
HS vận dụng được các kĩ năng như thuyết trình, phản biện, đánh giá,… Đồng
thời, GV yêu cầu HS đề xuất và thể hiện các hành vi, thái độ phù hợp trong
cuộc sống nhằm bảo vệ bản thân, gia đình, bảo vệ thiên nhiên, môi trường và
phát triển bền vững. Để thực hiện việc rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ
năng đã học, GV có thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau như sử dụng các
phương pháp, kĩ thuật dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học phù hợp, hoặc
có thể một số dạng bài tập trong dạy học Sinh học.
Về quy trình rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, GV
có thể sử dụng bài tập để rèn luyện cho HS qua các bước của quá trình dạy học
như:
- Sử dụng bài tập đặt vấn đề: 1) HS nhận nhiệm vụ học tập với bài tập

thực tiễn (bài tập tình huống, bài tập thực nghiệm); 2) HS thảo luận nhóm hoặc
làm việc cá nhân; 3) HS thảo luận trước lớp. GV yêu cầu các nhóm có ý kiến
khác nhau, nhưng khơng kết luận vấn đề, vấn đề sẽ được giải quyết sau khi HS
học kiến thức mới.
- Sử dụng bài tập dạy học bài mới: 1) HS nhận nhiệm vụ học tập với các
dạng bài tập khác nhau (bài tập thực tiễn, bài tập thực nghiệm,…); 2) HS hoạt
động cá nhân, sau đó thảo luận nhóm; 3) HS thuyết trình, thảo luận trước lớp,
các nhóm bổ sung ý kiến và chốt kiến thức.4) GV cùng HS kết luận chính xác
hóa vấn đề, đánh giá kết quả và đề xuất vấn đề mới.
- Sử dụng bài tập để củng cố kiến thức: 1) HS nhận nhiệm vụ học tập
với bài tập; 2) HS hoạt động cá nhân/ hoạt động nhóm; 3) HS tự đánh giá, đánh
giá lẫn nhau; HS thảo luận trước lớp và cùng kết luận kiến thức; 4) Đánh giá và
nhận nhiệm vụ tiếp theo.
- Sử dụng bài tập kiểm tra, đánh giá: 1) HS nhận nhiệm vụ học tập với
bài tập; 2) HS thực hiện nhiệm vụ học tập; 3) HS tự đánh giá/ đánh giá lẫn
nhau/ GV đánh giá; 4) HS nhận lại bài kiểm tra, suy ngẫm và rút kinh nghiệm.
Cấu trúc của năng lực vận dụng kiến thức Sinh học vào thực tiễn
a) Có năng lực hệ thống hóa kiến thức: Khả năng phân loại kiến thức, lựa
chọn kiến thức sinh học một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống xảy
ra cụ thể trong cuộc sống.

8


b) Năng lực phân tích tổng hợp các kiến thức sinh học vận dụng vào cuộc
sống thực tiễn:Thông qua các thao tác phân tích, so sánh, chọn lọc, để chuyển
hóa các kiến thức sinh học mang tính lẻ tẻ, rời rạc, tản mạn thành dạng kiến
thức mang tính tổng hợp và có định hướng vận dụng vào cuộc sống thực tiễn.
c) Năng lực phát hiện các nội dung kiến thức sinh học được ứng dụng
trong các vấn đề, các lĩnh vực khác nhau: Phát hiện kiến thức sinh học có

liên quan đến các vấn đề trong đời sống thực tiễn liên quan đến sức khỏe của
con người và môi trường sống xung quanh ảnh hưởng đến đừi sống con người.
d). Năng lực phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức
sinh học để giải thích: Dựa vào các kiến thức sinh học để có thể giải thích
được một số các hiện tượng xảy ra trong thực tiễn .
e) Năng lực độc lập sáng tạo trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn: Có khả
năng làm việc độc lập và đề xuất các biện pháp ở mức độ lý thuyết xử lý các
vấn đề hàng ngày liên quan đến sinh học và có ý thức bảo vệ môi trường .
3. 3. Các giải pháp thực hiện.
3.3.1.Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới.
Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất
khơi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng
lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong q trình học tập.
Ví dụ 1: Khi dạy về bài 6: “PHẢN XẠ” (Sinh học 8) giáo viên có thể mở bài
bằng một câu chuyện liên hệ thực tế như sau :
– GV: Đội kèn của trường đang tập luyện thì một bạn ngồi xem mang me ra
ăn. Việc làm của bạn đó có ảnh hưởng gì đến việc tập luyện của đội kèn khơng?
Vì sao?
– HS: trả lời
– GV: Khi các bạn trong đội kèn đã từng ăn me, biết mùi vị của me thì khi thấy
người khác ăn tự nhiên sẽ tiết nước bọt, đó được gọi là một phản xạ? Vậy phản
xạ là gì, Phản xạ đươc tạo ra như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu trong bài
học hơm nay.
Ví dụ 2: Khi dạy về bài 10: “HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ” (Sinh học 8), giáo viên
có thể mở bài như sau :
– GV : Nhân dịp 20/11, nhà trường tổ chức giải bóng đá cho HS khối 8,9.
Trong trận đấu giữa đội bóng lớp 8/2 và lớp 8/3 , khi trận đấu đang diễn ra thì
một cầu thủ ở vị trí tiền vệ của lớp 8/3 bỗng nhiên bị co cứng ở bắp cơ chân
phải, không hoạt động được làm trận đấu gián đoạn.
9



Theo các em hiện tượng trên được gọi là gì? Nguyên nhân của hiện tượng đó?
– HS trả lời
– GV: khi chúng ta chơi thể thao mà không khởi động kĩ hoặc cơ bắp không đủ
khỏe và độ dẻo dai thì dễ dẫn đến hiện tượng co cơ quá mức hay chuột rút.
Vậy trong những trường hợp nào cơ dễ bị mỏi? Làm thế nào để chống mỏi cơ
và chúng ta phải rèn luyện cơ như thế nào? Để trả lời những câu hỏi đó, chúng
ta cùng đi vào bài học hơm nay.
Ví dụ 3: Khi dạy về bài 30:“VỆ SINH HỆ TIÊU HĨA” (Sinh học 8) giáo viên
có thể mở bài bằng 1 tình huống sau:
- GV: Mẹ của Linh là công nhân may. Hàng ngày, mẹ đi làm từ 7 giờ sáng, có
lúc khơng kịp ăn sáng vì phải làm xong các công việc nhà. Giờ nghỉ trưa, mẹ
có khoảng một giờ để vừa ăn và nghỉ nghơi. Nhưng để có thêm thu nhập thêm,
mẹ của Linh thường chỉ nghỉ khoảng mười lăm phút sau khi ăn là đi làm ln.
Mẹ linh làm vậy có tốt cho sức khỏe khơng, vì sao?
- HS trả lời
- GV: mẹ bạn Linh làm như vậy là không tốt cho sức khỏe, đặc biệt là gây hại
cho hệ tiêu hóa. Vậy ngồi thói quen sinh hoạt khơng đúng, cịn có những tác
nhân nào gây hại cho hệ tiêu hóa? Chúng ta phải có những biện pháp nào để
bào vệ cho hệ tiêu hóa? Cơ trị ta cùng đi vào bài học hơm nay.
Ví dụ 4: Khi dạy bài 42: “ VỆ SINH DA” (Sinh học 8) giáo viên có thể mở bài
bằng 1 tình huống sau:
- GV: Bạn Hoa có thói quen rửa mặt, chân , tay bằng xà phòng sau khi lao
động, đi học về , tắm giặt thương xuyên. Ngày nghỉ bạn thường tắm nắng lúc 89 giờ trong thời gian khoảng 30-45 phút.
Các bạn trong lớp thấy vậy cười trêu bạn Hoa quá sạch sẽ, kĩ tính.
Theo em việc làm của bạn Hoa là cần thiết hay khơng? Vì sao?
- HS trả lời
- GV: tất cả những việc làm của bạn Hoa đều rất cần thiết, bạn Hoa là một
người có nếp sống khoa học. Những việc làm của bạn sẽ giúp bảo vệ da, bảo vệ

cơ thể khỏi các tác nhân gây hại, giúp rèn luyện da và phịng chống các bệnh
ngồi da. Vậy để hiểu rõ cơ sở khoa học của những việc bạn Hoa làm, chúng ta
cùng tìm hiểu bài học hơm nay.
3.3.2. Liên hệ thực tế qua từng nội dung và tính chất cụ thể trong bài học.

10


Cách nêu vấn đề này sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy
được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tị
mị của học sinh nếu HS khơng giải quyết được vấn đề.
Ví dụ 1: Khi học bài 14 : «BẠCH CẦU – MIỄN DỊCH» (Sinh học 8), mục I:
Các hoạt động chủ yếu của bạch cầu. Để giúp học sinh tự lĩnh hội kiến thức,
gv đưa ra tình huống sau:
– GV : Khi bạn Lan làm vệ sinh quanh vườn vơ tình dẫm phải cái gai. Sau đó
chỗ bị thương bị viêm dẫn tới sưng đỏ, đau một vài hơm sau đó khỏi mà khơng
cần uống thuốc. Vậy chỗ viêm do đâu mà khỏi
- GV có thể gợi ý bằng câu hỏi: Các hoạt động chủ yếu nào của bạch cầu trong
bảo vệ cơ thể chống tác nhân gây nhiễm?
- HS dựa vào kiến thức thực tiễn và những thơng tin trong mục I sgk để giải
thích hiện tượng:
Khi có vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ổ viêm, tế bào ở mô bị thương sẽ tiết
ra các tín hiệu hóa học kích thích phản ứng bảo vệ cơ thể: mạch máu nở rộng
ra, bạch cầu chui ra khỏi mạch máu tới ổ viêm để tiến hành tiêu diệt vi khuẩn.
Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể thơng qua 3 hàng rào phịng thủ:
+ Sự thực bào: là hiện tượng bạch cầu ( BC trung tính, đại thực bào) hình
thành chân giả , bắt, nuốt vi khuẩn rồi tiêu hóa chúng.
+ Khi các virut, vi khuẩn thoát khỏi sự thực bào, chúng sẽ bị vơ hiệu hóa nhờ
kháng thể do tế bào limpho B tiết ra gây kết dính các kháng nguyên. Đây chính
là hàng rào phòng thủ thứ 2

+ Khi tế bào nhiễm bệnh, tế bào limpho T sẽ phá hủy các tế bào nhiễm bằng
cách nhận diện và tiếp xúc với chúng nhờ cơ chế chìa khóa - ổ khóa. Các
protein đặc hiệu sẽ phá tan màng của các TB nhiễm và TB nhiễm sẽ bị phá hủy.
Chỗ viêm ở chân bạn Lan tự khỏi sau 1 thời gian chính là nhờ hoạt động của
bạch cầu.
- GV kết luận, chính xác hóa kiến thức, xác định hướng giải quyết hợp lí.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 17 “TIM VÀ MẠCH MÁU” (Sinh học 8) , MỤC III. Chu
kì co dãn tim, để giúp HS khắc sâu kiến thức, gv nêu câu hỏi:
– GV: Vì sao tim hoạt động liên tục, suốt đời mà không mệt mỏi?
- HS thông qua kiến thức vừa tiếp thu, kết hợp với sơ đồ chu kì co dãn tim để
giải quyết vấn đề theo nhóm

11


Tim hoạt động theo chu kì, mỗi chu kì kéo dài 0,8 giây gồm 3 pha:
+ Pha co tâm nhĩ: 0,1 giây
+ Pha co tâm thất: 0,3 giây
+ Pha dãn chung: 0,4 giây
Trong một chu kì, sau khi co tâm nhĩ sẽ nghỉ 0,7 giây, tâm thất nghỉ 0,5 giây,
tim nghỉ ngơi hoàn toàn là 0,4 giây. Nhờ thời gian nghỉ ngơi đó mà các cơ tim
phục hồi được khả năng làm việc nên tim làm việc suốt đời mà không mỏi.
- GV kết luận, nhận xét cách giải quyết vấn đề của HS
Ví dụ 3: Khi dạy bài 22 “ VỆ SINH HỆ HÔ HẤP” ( Sinh học 8), MỤC II. Cần
tập luyện để có một hệ hơ hấp khỏe mạnh, để giúp học sinh hiểu rõ vì sao phải
tập hít thở sâu và giảm số nhịp thở trong mỗi phút, GV đưa ra bài tập:
- GV: Hoàn thành bảng sau

So sánh


Số
nhịp/
phút

Lượng
Khí lưu thơng/ Khí vơ ích
khí
hít phút
vào/ nhịp

Khí hữu ích

Thở BT

18

400 ml

400 x 18= ?

150 x 18 = ?

?

Thở sâu 12

600 ml

600 x 12= ?


150 x 12= ?

?

- HS tính lượng khí lưu thơng và lượng khí vơ ích
- GV gợi ý cách tính lượng khí hữu ích = khí lưu thơng - khí vơ ích
- HS hồn thành bảng

So sánh

Số
nhịp/
phút

Lượng
Khí lưu thơng/ Khí vơ ích
khí
hít phút
vào/ nhịp

Thở BT

18

400 ml

400 x
7200ml

18= 150 x

2700ml

Thở sâu 12

600 ml

600 x
7200ml

12= 150
x
1800ml

18

Khí hữu ích

=

4500ml

12=

5400ml

Từ kết quả đó so sánh lượng khí hữu ích khi thở bình thường và khi hít thở sâu
- GV chính xác hóa kiến thức, qua đó giúp HS nhận thức được tầm quan trọng
của việc luyện tập hít thở sâu và giảm nhịp thở thường xuyên trong 1 phút.
Ví dụ 4 : Khi dạy bài 33: “THÂN NHIỆT” (Sinh học 8), giáo viên có thể liên
hệ thực tế bằng câu hỏi sau:

12


– GV: Vì sao vào mùa hè, da người ta hồng hào cịn mùa đơng , nhất là khi trời
rét, da thường tái hoặc sởn gai ốc?
- Bằng những hiểu biết của mình, HS suy nghĩ trả lời cá nhân
+ Vào mùa hè, nhiệt độ cao ( trời nóng) , cơ thể tăng tỏa nhiệt bằng phả xạ dãn
mao mạch ở dưới da, lưu lượng máu qua các mao mạch dưới da tăng lên. Vì
vậy da trở nên hồng hào.
+ Vào mùa đông, nhiệt độ thấp, cơ thể chống lại sự tỏa nhiệt bằng cách phản xạ
co các mao mạch ở dưới da, lưu lượng máu qua các mao mạch dưới da , lưu
lượng máu qua các mao mạch dưới da giảm xuống. Vì vậy da trở nên tím tái,
ngồi ra cịn có hiện tượng sởn gai ốc.
- GV chính xác hóa kiến thức , nhận xét, qua giải thích hiện tượng trên giúp HS
có thể hiểu được vai trị của da trong điêì hịa thân nhiệt.
Ví dụ 5: Khi dạy bài 39: “BÀI TIẾT NƯỚC TIỂU” (Sinh học 8), MỤC II. Thải
nước tiểu. để giúp HS nắm bắt kiến thức, giải quyết được vấn đề bài học, gv
nêu câu hỏi có vấn đề.
- GV u cầu HS giải thích : Vì sao sự tạo thành nước tiểu ở các đơn vị chức
năng của thận lại diễn ra liên tục, nhưng sự thải nước tiểu ra khỏi cơ thể chỉ xảy
ra ở những lúc nhất định ?
- HS dựa vào những kiến thức đã học kết hợp với nội dung mục II thảo luận
nhóm trả lời:
Vì do máu ln tuần hoàn liên tục qua cầu thận nên nước tiểu được hình thành
liên tục.
Khi nước tiểu được hình thành thì sẽ được dẫn xuống bể thận rồi theo ống dẫn
nước tiểu xuống bóng đái. Nếu nước tiểu trong bóng đái đạt đến 200 ml đủ áp
lực và cảm giác buồn đi tiểu. Tiếp theo cơ vòng ở ống đái mở ra phối hợp với
cơ vịng bóng đái và cơ bụng giúp nước tiểu thải ra ngồi.
- GV: kết luận, chính xác hóa kiến thức, qua đó HS rèn luyện được kĩ năng

nhận thức, phân tích, tổng hợp.
3.3.3. Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học.
Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã
học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó
trong cuộc sống, học sinh sẽ suy nghĩ và mong muốn tìm ra câu trả lời, từ đó
phát huy năng lực tư duy, vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HS.

13


Ví dụ 1: Sau khi học xong bài 8 “ Cấu tạo và tính chất của xương” (Sinh học
8). Để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề thực tiễn, giáo
viên đưa ra bài tập sau:
- GV : Trong một chuyến tham quan, Bà và Nam bị tai nạn phải nhập viện vì bị
gãy xương cánh tay phải bó bột. Sau 1 tháng Nam đã tháo bột cịn bà của Nam
thì chưa tháo được vì xương chưa phục hồi. Bằng hiểu biết của em, hãy giải
thích nguyên nhân trên.
- Mục đích của bài tập:
+ HS hiểu được đặc điểm cấu tạo hóa học của xương và quá trình tăng trưởng
của xương ở các lứa tuổi khác nhau là không giống nhau.
- Gợi ý trả lời:
+ Trong xương xảy ra hai quá trình tạo xương và hủy xương, tỉ lệ này ở các lứa
tuổi khác nhau có sự khác nhau
+ ở người trẻ: quá trình tạo xương diễn ra mạnh hơn q trình hủy xương do đó
khi các tế bào của lớp màng xương phân chia sẽ tạo ra các tế bào mới nối các
phần xương gãy với nhau nên xương nhanh chóng phục hồi
+ ở người già: quá trình tạo xương diễn ra yếu hơn quá trình hủy xương nên
khả năng phục hồi của xương chậm hơn
Ví dụ 2: Sau khi học xong bài “Phản xạ” (Sinh học 8). Để kiểm tra mức độ tiếp
thu bài của học sinh, giáo viên có thể đưa ra một tình huống thực tế như sau :

– GV: Trên đường đi học về, bạn Hà đã vơ tình chạm vào cây trinh nữ làm cho
một số chiếc lá cụp lại. Hôm sau, khi đến trường Hà đã kể lại cho bạn Lan nghe
và Lan cho rằng lá cây trinh nữ có phản xạ.
Theo em ý kiến của bạn Lan đúng hay khơng? Vì sao?
- Mục đích của bài tập:
+ HS nắm được bản chất của phản xạ
+ HS phân biệt được hiện tượng cảm ứng ở thực vật và phản xạ
- Gợi ý trả lời:
Hiện tượng cụp lá ở cây trinh nữ là hiện tượng cảm ứng ở thực vật, khơng được
coi là phản xạ, bởi vì phản xạ có sự tham gia của tổ chức thần kinh và được
thực hiện nhờ cung phản xạ.
Ví dụ 3: Sau khi học xong bài 15: “ĐÔNG MÁU VÀ NGUYÊN TẮC TRUYỀN
MÁU” (Sinh học 8), giáo viên có thể liên hệ thực tế bằng 1 tình huống sau :
14


GV : Người chồng có nhóm máu O, người vợ có nhóm máu B. Trong một làn
nằm viện, con của họ cần truyền máu. Biết người con này có nhóm máu
B.Theo ý kiến của em, ai có thể cho người con máu? Vì sao?
- Mục đích của bài tập:
+ Học sinh hiểu được nguyên tắc truyền máu
- Gợi ý trả lời:
Cả hai vợ chồng đều có thể cho con máu
Vì: trong máu người có 2 yếu tố
+ Kháng nguyên có trong hồng cầu gồm 2 loại là A và B . Kháng thể có trong
huyết tương gồm 2 loại là α và β ( α gây kết dính A, β gây kết dính B ). Hiện
tượng kết dính hồng cầu của máu người cho xảy ra do khi vào cơ thể người
nhận gặp kháng thể trong huyết tương của máu người nhận gây kết dính.
Vì vậy khi truyền máu cần đảm bảo nguyên tắc “ Hồng cầu của máu người cho
không bị huyết tương của máu người nhận gây kết dính.

+ Chồng Máu O là máu có thể cho được tất cả các nhóm máu khác vì máu O
khơng chứa kháng ngun trong hồng cầu vì vậy khơng gây kết dính với kháng
thể trong máu người nhận.
+ Vợ có nhóm máu B , hồng cầu có B khơng gây kết dính với huyết tương của
người con có α .
Vì thế cả 2 vợ chồng đều truyền được máu cho con.
Ví dụ 4: Sau khi học xong bài 25: “TIÊU HÓA Ở KHOANG MIỆNG” (Sinh
học 8), giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
– GV : Hãy giải thích nghĩa đen về mặt sinh học của câu thành ngữ: “ Nhai kĩ
no lâu”
- Mục đích của bài tập:
+ HS hiểu được vai trò của hoạt động nhai ở khoang miệng đối với việc tiêu
hóa và hấp thụ thức ăn.
– Gợi ý trả lời: Khi nhai kĩ, thức ăn sẽ biến thành dạng nhỏ , làm tăng bề mặt
tiếp xúc với các enzym tiêu hóa , vì vậy hiệu suất tiêu hóa cao, cơ thể sẽ hấp
thụ được nhiều chất dinh dưỡng , cơ thể được đáp ứng đầy đủ nên no lâu.
Ví dụ 5: Sau khi học xong bài 46: “ TRỤ NÃO, TIỂU NÃO, NÃO TRUNG
GIAN” (Sinh học 8), giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :

15


- GV: Giải thích vì sao người say rượu thường có biểu hiện chân nam đá chân
chiêu?
- Mục đích của bài tập:
+ HS hiểu rõ chức năng của tiểu não
- Gợi ý trả lời:
Người say rượu chân nam đá chân chiêu là do rượu đã ngăn cản, ức chế
sự dẫn truyền qua xináp giữa các tế bào có liên quan đến tiểu não.
=> Tiểu não không điều khiển được các hoạt động phức tạp và giữa thăng bằng

cơ thể một cách chính xác, nên người say rượu bước đi khơng vững.
3.3.4. Liên hệ thực tế trong các tiết thực hành
Những tiết thực hành đúng nghĩa sẽ giúp HS có thể vận dụng kiến thức đã học
tìm cách giải thích hay tự kiểm chứng lại kiến thức qua các thí nghiệm, qua các
thao tác thực hành giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng kiến thức sinh
học vào đời sống thực tiễn và qua đó rèn luyện cho các em một số kĩ năng cần
thiết trong cuộc sống.
Ví dụ 1: Khi học bài 12: “THỰC HÀNH: TẬP SƠ CỨU VÀ BĂNG BÓ CHO
NGƯỜI GÃY XƯƠNG” (Sinh học 8)
- GV nêu một số câu hỏi liên hệ thực tế:
+ Nêu những ngun nhân dẫn tới gãy xương?
+ Vì sao nói khả năng gãy xương có liên quan đến lứa tuổi?
+ Để bảo vệ xương , khi tham gia giao thông em cần chú ý những gì?
+ Gặp người bị tai nạn gãy xương, chúng ta có nên nắn lại chỗ xương gãy
khơng? Vì sao?
- GV hướng dẫn các thao tác sơ cứu đối với từng vị trí gãy, chia nhóm để HS
thực hiện lại các thao tác đó.
- Mục đích :
+ HS biết được những nguyên nhân dẫn tới gãy xương để có ý thức bảo vệ cơ
thể và hình thành ý thức bảo vệ cơ thể khi tham gia giao thông hay trong các
hoạt động khác.
+ HS biết được cách xử lí trong tình huống gặp người bị tai nạn, bị gãy xương.
- Gợi ý trả lời các câu hỏi:

16


+ Do xương bị 1 lực mạnh tác dụng vào khiến cho xương bị gãy ( vd: ngã,tai
nạn,vui chơi ko lành mạnh => gãy xương)
+ Mỗi lứa tuổi khác nhau, xương có cấu tạo và thành phần khác nhau. Ở người

già, lượng cốt giao giảm, trong khi muối canxi lại nhiều nên xương giòn, dễ
gãy. Ở lứa thuổi thanh thiếu niên, lượng cốt giao nhiều nên xương đàn hồi, dẻo
dai, chắc khỏe hơn.
+ Cần: đội mũ bảo hiểm, Khơng phóng nhanh vượt ẩu, chấp hành luật lệ giao
thông, không sử dụng chất có cồn khi lái xe…..
+ Khơng nên vì khi nắn lại sẽ có thể làm cho đầu xương gãy đụng vào mạch
máu, dây thần kinh, có thể rách cơ và da. Chúng ta phải đặt nạn nhân nằm yên,
dùng gạc hay khăn sạch lau vết thương, tiến hành sơ cứu.
Ví dụ 2: Khi học bài 26: “THỰC HÀNH: TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA
ENZYM TRONG NƯỚC BỌT” (Sinh học 8) , giáo viên có thể liên hệ thực tế
bằng những câu hỏi nhỏ:
- GV đặt câu hỏi:
+ Vì sao khi chúng ta nhai cơm hay bánh mì lâu trong miệng thì sẽ thấy có cảm
giác ngọt?
+ Theo em những yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến hoạt động của enzym
amlaza.
- Mục đích :
+ Giúp HS hiểu được vai trò của enzym amilaza trong nước bọt và các yếu tố
ảnh hưởng đến enzym
- Gợi ý trả lời:
+ Khi nhai cơm hay bánh mì lâu trong miệng , ting bột trong cơm hay bánh mì
sẽ được enzym amilaza biến đổi thành dường đôi, đường này đã tác động lên
các gai vị giác trên lưỡi, làm cho chúng ta cảm giác được vị ngọt .
+ Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của enzym: nhiệt độ, pH,
- GV có thể mở rộng thêm đề các em có thể biết được các em nên làm gì để
phát huy hoạt động của các enzym, từ đó giúp cơ thể tiêu hóa và chuyển hóa
tốt.
+ Sự thiếu hụt các loại enzyme tiêu hóa sẽ làm giảm hoặc vơ hiệu hóa sự phân
giải thực phẩm thành những loại đường đơn, các axít amino và các axít béo vốn
có nhiệm vụ tạo năng lượng cho cơ thể, do đó nó gây ra sự mệt mỏi, thiếu sức

sống.
17


+ Ngoài mệt mỏi kinh niên, sự thiếu hụt enzyme còn dẫn đến những hệ lụy
khác cho sức khỏe, chẳng hạn như trào ngược dạ dày thực quản, khó tiêu, đầy
hơi, táo bón, nhức đầu, các rối loạn về ruột, xơ vữa động mạch, cholesterol cao,
yếu cơ và nguy hiểm nhất là sự suy giảm chức năng hoạt động của các cơ quan
trong cơ thể.
+ Con người trong suốt thời gian sống chỉ có một số lượng enzyme nhất định
cịn gọi là “enzyme tiềm năng”. Thời điểm cơ thể dùng hết các enzyme tiềm
năng này cũng là lúc cuộc đời kết thúc. Nếu chúng ta muốn sống lâu, sống
khỏe thì phải tiết kiệm enzym bằng cách:
Nên lựa chọn một khẩu phần ăn như sau: 85-90% là thực vật (50% là
ngũ cốc như gạo, đậu nguyên hạt; 30% là rau xanh và củ; 5-10% là trái cây và
hạt), 10-15% là protein động vật (cá, trứng, sữa đậu nành, một lượng giới hạn
thịt gia súc và gia cầm). Nên bổ sung thêm các loại trà thảo mộc, tảo biển, men
bia, phấn và sáp ong, vitamin và khoáng chất bổ sung. Cần sử dụng các thực
phẩm tươi sống và mới nhất bởi đó là trạng thái thực phẩm chứa nhiều enzyme
nhất.
Hạn chế hoạt động giải độc ở gan . Không nấu quá kỹ, sử dụng thường
xuyên các loại thực phẩm chiên rán, đồ ăn nhanh, các thực phẩm có chứa thuốc
bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản hay thói quen uống rượu bia, thuốc lá, mơi
trường sống độc hại, căng thẳng…. chính là các yếu tố khiến gan phải làm việc
liên tục và hết công suất để giải độc và đương nhiên sẽ tiêu tốn một lượng
enzyme lớn của cơ thể.
3.3.5. Liên hệ thực tế thơng qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi
hài hay các câu chuyện lịch sử phát hiện vấn đề nghiên cứu
Hướng này có thể góp phần tạo khơng khí học tập thoải mải. Đó cũng là cách
kích thích niềm đam mê học bộ mơn sinh học.

Ví dụ 1: Khi học về bài 52: “PHẢN XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN VÀ PHẢN XẠ
KHÔNG ĐIỀU KIỆN” (Sinh học 8), giáo viên có thể giới thiệu về Ivan
Petrovich Pavlov và cơng trình nghiên cứu của ơng thơng qua câu chuyện sau:
- GV:
+ Pavlov được sinh ra trong một gia đình linh mục đơng con. Ngay từ khi cịn
nhỏ, Pavlov đã là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, có nghị lực, bền
bỉ và kiên nhẫn trong mọi việc.
+ Năm 1870, Pavlov quyết định từ bỏ việc nghiên cứu thần học và đăng ký vào
học tại Đại học Saint Petersburg để nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên và
trở thành một nhà sinh vật học.
18


+ Vào thập niên 1890, Pavlov làm việc tại Viện y học thực nghiệm. Dưới sự chỉ
đạo của ông, Viện đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về
nghiên cứu sinh lý.
Một trong những nghiên cứu thú vị và có ý nghĩa lịch sử của ơng là về vấn đề
tiết dịch vị. Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để
giúp tiêu hóa thức ăn. Với quyết tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho
dạ dày như thế nào, Pavlov tiến hành thí nghiệm đối với con chó đã sống ở
phịng thí nghiệm nhiều năm.
+ Ơng nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy tiếng
bước chân của nhân viên thường mang thức ăn đến cho chúng. Ông nghĩ tiếng
bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được mang tới, thơng qua thần kinh
đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị. Từ phát hiện này, Pavlov
nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chng, tiếng huýt sáo... gắn liền
với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết
quả tương tự. Ơng lặp lại thí nghiệm này trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm
này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phịng thí nghiệm. Cịn
với những chú chó mới được ni thì khơng được. Pavlov cho rằng đây là loại

phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngồi. Ơng gọi đó là “phản xạ có điều
kiện”.
- Sau câu chuyện này, GV có thể đi vào mục 1. Hình thành phản xạ có điều
kiện
Ví dụ 2: Khi dạy về bài 55: “GIỚI THIỆU CHUNG HỆ NỘI TIẾT” (Sinh học
8), giáo viên có thể vào bài bằng câu chuyện :
- GV:
+ Tại buổi giao lưu "Nụ cười và sức khỏe" do Trung tâm Làm giàu thế giới nội
tâm (Inner Space) tổ chức ở TP.HCM , bà Phạm Thị Sen - giám đốc đào tạo
Inner Space - cho rằng bây giờ nhiều người lớn có cười, nhưng không nhiều
người cười thật sự. Nụ cười ngày càng xuất hiện ít dần và khơng khởi nguồn từ
sự hạnh phúc của chính họ.
+ Tiếp lời bà Sen ,ơng Letchumanan Ramatha - Cục An toàn sinh học, Bộ Tài
nguyên và mơi trường Malaysia, điều phối chương trình Inner Space tại
Malaysia Khuyến khích mọi người cười nhiều hơn nhưng lưu ý: "Nụ cười thật
sự phải là nụ cười của hạnh phúc, của sự hân hoan bên trong bạn, chứ không
phải là nụ cười bên ngồi mang tính "chiếu lệ" để chào sếp khi ở cơ quan hay
để lấy lòng người đối diện".
“Một nụ cười bằng 10 than thuốc bổ”

19


+ Theo bà Sen, khi chúng ta cười hay nói khác hơn là có trạng thái tâm lý tích
cực, vui vẻ thì cơ thể sẽ giải phóng endorphin (được xem là "hormone hạnh
phúc" vì giúp cơ thể tập trung hơn, hưng phấn và hạnh phúc hơn, giải tỏa căng
thẳng, lo âu và chống sự mệt mỏi).
Một nghiên cứu cũng cho thấy khi cười thì lượng hormone cortisol và
epinephrine tiết ra có khuynh hướng giảm. Đây là những hormone gây căng
thẳng, ức chế hệ miễn dịch, tạo kẽ hở cho các viêm nhiễm, bệnh tật.

- Từ câu chuyện trên, GV có thể vào bài .
3.4. Kết quả đạt được
3.4.1. Kết quả chấm bài kiểm tra 1 tiết HKI :
ĐIỂM
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
KT1T SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
Lớp
8/3

7

20,6

11

32,4

10

29,4

6

17,6

0


0,0

Lớp
8/1

3

7,7

10

25,6

15

38,5

11

28,2

0

0,0

3.4.2. Kết quả điểm thi HKI
ĐIỂM
Giỏi
Khá

Trung bình
Yếu
Kém
KT1T SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
Lớp
8/3

3

8,8

9

26,5

12

35,3

7

20,6

3

8,8

Lớp
8/1


3

7,7

8

20,5

14

35,9

10

25,6

4

10,3

3.4.2. Kết quả điểm trung bình HKI

ĐIỂM
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
KT1T SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
Lớp

8/3

4

11,8

14

41,2

14

41,2

2

5,9

0

0,0

Lớp
8/1

4

10,3

13


33,3

19

48.7

3

7,7

0

0,0

20


21


Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
“Phát triển năng lực vận dụng kiến thức Sinh học 8 vào thực tiễn cuộc
sống” cho học sinh THCS là một nội dung cần thiết, người dạy cần phải nắm
bắt được nội dung và đặc điểm môn học; lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật
dạy học phù hợp nhằm khai thác được hết kiến thức và hiểu biết thực tiễn của
học sinh; từ đó giúp các em vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất.
Như vậy, đòi hỏi người giáo viên cần có kiến thức sâu và thời gian nghiên cứu
các môn học, các nội dung kiến thức phù hợp, phối kết hợp một cách linh hoạt,

sáng tạo nhằm gây hứng thú cho học sinh. Từ đó, các em thấy được kiến thức ở
các môn học là một thể thống nhất, bổ trợ cho nhau nhưng lại có thể có các
cách nhìn khác nhau rất đa dạng; đồng thời các em biết vận dụng linh hoạt các
kiến thức đó để giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống và sản xuất,
từ đó các em phát triển tồn diện hơn về mọi mặt đức- trí- thể- mĩ và hình
thành được kĩ năng sống.
Tuy nhiên, vì mới vào nghề, kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế, hơn
nữa sáng kiến này mới chỉ được đánh giá thực nghiệm trong học kì I, chưa tiến
hành được ở học kì II do thời gian nghỉ học vì dịch bệnh kéo dài vì thế khơng
tránh khỏ những thiếu sót và kết quả thu được cũng chưa cao.
2. Kiến nghị:
Phần sinh học 8 nghiên cứu về cấu tạo và sinh lý của con người, vì thế
địi hỏi người giáo viên phải ln nỗ lực, tìm tịi để có được những kiến thức
thực tế sâu rộng, giúp các em có thể giải thích được những hiện tượng xung
quanh mình và xảy ra chính trên cơ thể mình.
Ngồi ra người giáo viên cũng cần rèn cho mình kĩ năng giảng dạy hài
hước, dí dỏm để học sinh có hứng thú hơn, ham học hơn, tiếp thu bài tốt hơn
bằng các tình huống thực tế vì phần kiến thức về sinh lý người thường khó hiểu
và khó nhớ.
Về phía học sinh:
+ Học sinh cần tích cực tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổ
chức trong các tiết học hay giao nhiệm vụ về nhà.
+ Biết tìm tịi, quan sát các hiện tượng thực tế và đời sống; từ đó biết
vận dụng kiến thức các mơn học để giải thích các hiện tượng đó.
+ Có tinh thần học hỏi thầy cô, bạn bè, người thân….và lòng đam mê
khám phá khoa học.

22



Trên đây là một số kinh nghiệm trong giảng dạy môn Sinh học 8 nhằm
“Phát triển năng lực vận dụng kiến thức Sinh học 8 vào thực tiễn cuộc sống” và
những thực nghiệm giảng dạy tại nhà trường. Vì thời gian có hạn, kinh nghiệm
chưa nhiều nên rất mong được sự đóng góp của nhà nhà trường và đồng nghiệp
để sáng kiến kinh nghiệm này của tôi đạt kết quả cao hơn.

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa sinh học 8 ( NXB giáo dục)
2. Sách giáo viên sinh học 8 ( NXB giáo dục)
3. Bài giảng sinh học 8 ( TS. Phan Khắc Nghệ)
4. Tạp chí Giáo dục, Số 440 (Kì 2 - 10/2018), tr 44-48; 29
5. Tạp chí Giáo dục, Số 452 (Kì 2 - 4/2019), tr 57-60

24


25


×