BÀI THẢO LUẬN NHÓM
Trường Đại Học Kinh tế Quốc Dân
Lớp học phần : Kinh tế quốc tế ( 219)_5
Nhóm thảo luận : Nhóm 5
Chủ đề : Lý thuyết HECKSCHER-OHLIN
Phân tích những ưu điểm, nhược điểm của lý thuyết H-O. Việt Nam đã ứng dụng lý thuyết H-O
như thế nào trong việc định hướng sản xuất và thương mại của quốc gia. Đưa ra nhận xét.
BÀI THẢO LUẬN NHĨM
Chủ đề : Lý thuyết HECKSCHER-OHLIN
Phân tích những ưu điểm, nhược điểm của lý thuyết H-O. Việt Nam đã ứng dụng lý thuyết H-O
như thế nào trong việc định hướng sản xuất và thương mại của quốc gia. Đưa ra nhận xét.
Lớp học phần : Kinh tế quốc tế ( 219)_5
Nhóm thảo luận : Nhóm 5
Thành viên nhóm 5:
11180571 -Bùi Minh Ánh ( Nhóm trưởng)
11183860 -Đỗ Thị Hồng Nhung
11182286 -Lê Thị Huyền
11184280 -Trần Như Quỳnh
11185337 -Hoàng Ngọc Tú
11182823 -Nguyễn Thùy Linh
11182922 -Triệu Thị Thùy Linh
[Type text]
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................................. 6
1.Lý thuyết H-O .......................................................................................................................... 7
1.1
Cơ sở hình thành : ......................................................................................................... 7
1.2
Nội dung : ....................................................................................................................... 7
1.3
Mơ hình H-O:................................................................................................................. 8
1.3.1 Các giả thiết : .............................................................................................................. 8
1.3.2 Tính thâm dụng yếu tố sản xuất ................................................................................ 9
1.3.3 Yếu tố dư thừa:.......................................................................................................... 10
1.4. Ưu điểm và nhược điểm:................................................................................................ 11
1.4.1 Ưu điểm :.................................................................................................................... 11
1.4.2 Nhược điểm : ............................................................................................................ 14
2. Ứng dụng lý thuyết H-O với Việt Nam: .............................................................................. 16
2.1. Ứng dụng lý thuyết H-O trong việc xuất khẩu ............................................................ 17
2.1.1. Theo lý thuyết H-O, Việt Nam sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều
tương đối yếu tố sản xuất................................................................................................... 17
2.1.2. Thực trạng về cơ cấu xuất khẩu ở VN hiện nay .................................................... 18
2.1.3. Tại sao lại có xu hướng chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu: ............................ 20
2.1.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thị trường mà các mặt hàng này hướng
tới: ........................................................................................................................................ 23
2.2. Ứng dụng lý thuyết H-O trong nhập khẩu ................................................................... 25
2.3. Định hướng của nhà nước trong phát triển thương mại trong thời gian tới ............ 29
2.3.1. Định hướng về xuất khẩu gắn với vận dụng lý thuyết H-O ................................. 29
2.3.2. Định hướng về nhập khẩu gắn với vận dụng lý thuyết H-O ............................... 29
3
[Type text]
3. Nhâ ̣n xét ................................................................................................................................. 30
4. KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................. 33
4
[Type text]
Danh Mục Hình Ảnh
Hình 1:Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa năm 20 16 ..................................................................... 19
Hình 2:Cơ cấu trình độ của chất lượng lao động Việt Nam ................................................ 20
Hình 3: Cơ cấu các thị trường xuất khẩu của Việt Nam ..................................................... 23
Hình 4: Cơ cấu xuất khẩu của máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam
theo quốc gia 9 tháng năm 2018 .............................................................................................. 25
Hình 5 Biểu đồ: 10 nhóm hàng nhập khẩu đạt mức tăng về trị giá lớn nhất trong 9
tháng/2019 .................................................................................................................................. 28
Danh Mục Bảng Biểu
Bảng 1: Cơ cấu xuất khẩu cả Việt Nam theo nhóm hàng .................................................... 19
Bảng 2: Các chỉ số về tình hình xuất khẩu của ngành linh kiện điện tử ............................ 22
Bảng 3: Số liệu lấy hết tháng 9 năm 2019 .............................................................................. 24
5
[Type text]
LỜI NĨI ĐẦU
Mơ hình Heckscher-Ohlin, nhiều khi được gọi tắt là Mơ hình H-O, là một mơ hình tốn cân
bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dùng để dự
báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của
quốc gia. Eli Heckscher và Bertil Ohlin của Thụy Điển là hai người đầu tiên xây dựng mơ hình
này, nên mơ hình mang tên họ, dù sau này có nhiều người khác tham gia phát triển mơ hình.
Mơ hình dựa vào lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo.
Giả sử có một tình huống trong đó hai nước A và B sản xuất hàng hóa X và Y. Nước A có
nhiều lao động và ít tư bản, cịn nước B có nhiều tư bản và ít lao động. Vì vậy, chi phí lao động
ở nước A thấp hơn so với tư bản, trong khi chi phí tư bản ở nước B thấp hơn so với lao động.
Bây giờ chúng ta giả sử rằng người ta cần nhiều tư bản hơn để sản xuất hàng hóa X và cần
nhiều lao động hơn để sản xuất hàng hóa Y. Với những khác biệt trong cường độ sử dụng lao
động và tư bản này người ta có thể đưa ra giả thuyết sau đây về cơ cấu của thương mại: nước
A có lợi thế trong việc sản xuất hàng hóa Y vì nước này có thể sử dụng nhiều nhân tố lao động
tương đối rẻ của mình. Nó sẽ chun mơn hóa vào việc sản xuất hàng hóa Y và xuất khẩu Y
sang B để đổi lấy X, mặt hàng mà nó khơng có lợi nhuận để so sánh. Nước B có lợi thế trong
việc sản xuất hàng hóa X vì nó sử dụng nhiều nhân tố tư bản tương đối rẻ của mình. Nước B sẽ
chun mơn hóa về việc sản xuất hàng hóa X và xuất khẩu X sang A để đổi lấy Y, tức nhập
khẩu Y - mặt hàng mà nó khơng có lợi thế so sánh.Lý thuyết tỉ lệ nhân tố Heckscher-Ohlin
trình bày cách lý giải tĩnh về thương mại quốc tế từ phía cung. Trong thời đại ngày nay hội
nhập kinh tế quốc là một yếu tố khơng thể thiếu. Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ là yếu tố quan
trọng trong cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Để xác định được cơ cấu hàng nhập khẩu phù hợp
đòi hỏi việc nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn các học thuyết kinh tế liên quan vào
thực tiễn nền kinh tế của mỗi quốc gia .
Do đó, Việt Nam đã ứng dụng lý thuyết H-O trong việc định hướng sản xuất và thương mại
quốc gia.Vì vậy, bài phân tích trên đây sẽ làm sáng tỏ được những vấn đề của lý thuyết H-O và
ứng dụng của lý thuyết đó với Việt Nam.
6
[Type text]
1. Lý thuyết H-O
1.1 Cơ sở hình thành :
Một mơ hình tốn cân bằng tổng thể trong lí thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động
quốc tế dung để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản
xuất sẵn có của quốc gia. Mơ hình ban đầu do Heckscher và Ohlin xây dựng chưa phải là mơ
hình toán, chỉ giới hạn với hai quốc gia, hai loại hàng hóa có thể đem trao đổi quốc tế và hai
loại yếu tố sản xuất (đây là hai biến nội sinh). Vì thế mơ hình ban đầu cịn được gọi là Mơ hình
2 x 2 x 2.
Về sau, mơ hình được Paul Samuelson là người đầu tiên áp dụng toán học vào, nên có khi được
gọi là Mơ hình Heckscher-Ohlin-Samuelson hay Mơ hình H-O-S. Jaroslav Vanek mở rộng để
áp dụng cho nhiều quốc gia và nhiều sản phẩm, nên cũng thường được gọi là Mơ hình
Heckscher-Ohlin-Vanek.
Mơ hình Heckscher-Ohlin phiên bản 2 x 2 x 2 sử dụng hàm Cobb-Douglass vì nó phù hợp với
giả thiết về lợi tức theo quy mơ khơng đổi.
Mơ hình đưa ra những kết luận sau: Nước nào có nhiều yếu tố đầu vào nào hơn thì nước đó sẽ
xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào đó và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng
yếu tố đầu vào kia. Kết luận này được kinh tế học gọi là Định lý Heckscher-Ohlin.
1.2 Nội dung :
•
Yếu tố thương mại giữa các nước : Một mặt hàng cần tỉ lệ các yếu tố đầu vào.
Mức độ dồi dào và rẻ của các yếu tố sản xuất.Thương mại quốc tế sẽ làm cho mức
lương của lao động đồng nhất và lợi suất của vốn đồng nhất là bằng nhau giữa các quốc
gia tham gia thương mại quốc tế.
Quốc gia 1 chun mơn hóa sản xuất sản phẩm X – sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố mà quốc
gia một dư thừa tương đối, giảm sản xuất sản phẩm Y- sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố mà quốc
gia 1 khan hiếm tương đối. Do vậy, cầu tương đối về lao động tăng -> tiền lương tăng, trong
khi đó, cầu tương đối về vốn giảm -> lãi suất tăng.
7
[Type text]
➔
Thương mại quốc tế làm cho :Tiền lương tăng ở quốc gia 1( quốc gia 1 vốn có
giá cơng nhân rẻ) và giảm ở quốc gia 2 ( quốc gia 2 vốn có giá cơng nhân cao).
•
Xuất khẩu hàng hóa dồi dào và nhập khẩu hàng hóa thiếu hụt: Một quốc gia sẽ
xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối
yếu tố sản xuất dồi dào và rẻ của quốc gia đó và nhập khẩu những mặt hàng mà việc sản
xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tơ khan hiếm và đắt của quốc gia đó.
Tóm lại quốc gia dồi dào về lao động nên xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều lao
động một cách tưng đối và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn một cách
tương đối.
Năng suất giữa các nước là khác nhau : Dựa vào mức độ sẵn có và dồi dào hay khan hiếm của
các nguồn lực trong nước. Bên cạnh đó cịn dựa vào năng lực lao động của người lao động ở
nước đó. Một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và do đó sẽ xuất khẩu, sản
phẩm thâm dụng các yếu tố sản xuất mà nó dồi dào một cách tương đối và nhập khẩu các sản
phẩm thâm dụng các yếu tố mà nó khan hiếm một cách tương đối.
1.3 Mơ hình H-O:
1.3.1 Các giả thiết :
•
2 quốc gia – 2 yếu tố sản xuất – 2 mặt hàng
Thế giới chỉ có 2 quốc gia có hai loại hàng hóa X và Y và chỉ có 2 yếu tố lao động và vốn
•
Cơng nghệ sản xuất là như nhau giữa hai quốc gia.
Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hóa giống nhau
•
Hàng hóa X có hàm lương lao động lớn hơn so với hàng hóa Y và hàng hóa Y có
hàm lượng vốn
lớn hơn so với hàng hóa X
Nghĩa là sản phẩm X đòi hỏi nhiều lao động hơn tư bản, sản phẩm Y ngược lại. Nói cách khác
tỉ lệ lao động trên tư bản ( L/K) cao hơn ở sản phẩm X so với Y ở cả hai quốc gia cùng một giá
cả yếu tố.
8
[Type text]
•
Hiệu suất khơng đổi theo quy mơ.
Khi tăng đầu vào lên n lần thì chúng ta có đầu ra tăng lên gấp n lần
•
Chun mơn hóa là khơng hồn hảo ở 2 quốc gia
Ta thấy các lí thuyết khác ủng hộ việc chun mơn hóa hồn tồn sản phẩm có lợi thế của
mình. Nhưng tại đây theo Ohlin để hai quốc gia đạt tới hiệu quả sản xuất tốt nhất thì khơng nên
chun mơn hóa hồn hồn . Ngay cả khi mậu dịch, hai quốc gia vẫn tiếp tục sản xuất hai sản
phẩm.
•
Sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia
Vị trí và hình dạng của đường bàng quang đồng nhất ở cả hai quốc gia. Vì vậy khi giá cả sản
phẩm so sánh là bằng nhau hai quốc gia sẽ tiêu dung hai sản phẩm X và Y cùng tỉ lệ.
•
Cạnh tranh hồn hảo trên tất cả các thi trường
•
Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong quốc gia nhưng không thể di
chuyển giữa các quốc gia
Trong phạm vi của mỗi quốc gia, lao động và tư bản tự do di chuyển từ vùng này sang vùng
khác, nghành này sang nghành khác, những nơi có tiền cơng thấp hơn sang những nơi có tiền
cơng cao hơn. Quá trình cứ tiếp tục cho đến tiền lương cho chính một loại lao động và tư bản
giống nhau ở mọi miền và mọi nghành của đất nước.
•
Thương mại hồn tồn tự do
•
Thương mại quốc tế giữa hai quốc gia là cân bằng
Xuất khẩu nước này là nhập khẩu của nước kia
•
Tất cả các nguồn lực đều được sử dụng hồn tồn ở cả hai quốc gia.
1.3.2 Tính thâm dụng yếu tố sản xuất
Tính thâm dụng yếu tố giống như lợi thế so sánh là một điều kiên tương đối. Trong pham vi
của hai sản phẩm X và Y, hai yếu tố sản xuất ( lao động và tư bản). Ta nói rằng Y là sản phẩm
9
[Type text]
thâm dụng tư bản nếu tỉ số K/L trong sản xuất sản phâm Y cao hơn so với sản xuất sản phẩm
X.
Ta lấy ví dụ sản xuất gạo và thép như sau :
Gạo thâm dụng hơn so với thép vì trên mỗi đơn vị tư bản việc sản xuất gao cần nhiều lao động
hơn so với thép. Nghĩa là tỉ suất lao động tư bản trong sản xuất thép cao hơn so với gạo. Về vấn
đề này nói cchugn ta cần xác định rõ đâu là sản phẩm thâm dụng lao động đâu là sản phẩm
thâm dụng tư bản. Bởi có lúc dù sử dụng một lượng tuyệt đối K nhiều hơn nhưng sản phẩm đó
vẫn là sản phẩm thâm dụng lao động và ngược lại. Ví dụ : cần 3K/12L để sản xuất 1X cần
2k/2L để sản xuất 1Y mặc dù để sản xuất 1X cần 3K trong khi 1Y chỉ cần 2K nên Y vẫn là sản
phẩm thâm dụng tư bản vì K/L của Y lớn hơn K/L của X.
➔
Tính thâm dụng yếu tố, giống như lợi thế so sánh, là một điều kiện tương đối. Khi
gạo thâm dụng lao động hơn thép thì tự động suy ra thép thâm dụng tư bản hơn gạo.
1.3.3 Yếu tố dư thừa:
Có hai cách xác định yếu tố dư thừa trong một quốc gia:
•
Dư thừa về mặt vật thể : Sử dung số lượng lao động và tư bản sẵn có trong nước (
chỉ dựa vào nguồn cung yếu tố). Một quốc gia là thừa tư bản nếu K/L cao hơn quốc gia
khác, do đó có thể xảy ra trường hợp một quốc gia có ít tư bản hay lao động hơn quốc
gia kia vẫn là dư thừa tư bản hay lao động.
•
Dư thừa về mặt kinh tế : Dư thừa lao động hay dư thừa tư bản dựa trên tỉ suất tiền
lương, lãi suất ở trạng thái cân bằng tự cung tự cấp ( tác dụng qua lại của cung cầu): Một
quốc gia là thừa tư bản nếu giá tư bản trên lao động thấp hơn tỉ số này ở quốc gia khác.
Mặt khác giá tư bản là lãi suất (r), giá lao động là tiền lương ( w). Nên giá tư bản trên
giá lao động bằng lãi suất trên tiền lương.
10
[Type text]
➔
Trong mơ hình H-O : Các nước xuất khẩu sản phẩm sử dụng yếu tố dư thừa và
nhập khẩu sử dụng yếu tố khan hiểm.
1.4. Ưu điểm và nhược điểm:
1.4.1 Ưu điểm :
Trong kinh tế ho ̣c hiện đa ̣i, lý thuyế t H-O đươ ̣c đánh giá là một trong những lý thuyế t ma ̣nh
nhấ t, vì một số lý do sau đây:
Thứ nhấ t, lý thuyế t này đưa ra đươ ̣c cách giải thích khoa ho ̣c, chặt chẽ và có tính lôgíc cao
về nguồ n gố c lơ ̣i thế so sánh và thương ma ̣i giữa các quố c gia.
Lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo sang đầu thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới lần
thứ nhất đã thể hiện những hạn chế của nó. Cơ sở lý luận của lý thuyết H-O chính là dựa vào lý
thuyết lợi thế so sánh của Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của
lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất (các nguồn lực sản xuất ). Và do vậy,
lý thuyết H-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có”.
Thuyết này đã kế thừa và phát triển một cách logic các yếu tố khoa học trong lý thuyết lợi thế
so sánh của Ricardo và các lý thuyết cổ điển trước đó về thương mại quốc tế. Quy luật H-O là
quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và được nhiều quốc gia vận dụng
trong hoạch định chính sách thương mại quốc tế. Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp
với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có theo thuyết H-O sẽ là điều kiện cần
thiết để các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và
hợp tác thương mại quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này.
Trên thực tế , Việt Nam đươ ̣c coi là nước dồ i dào tương đố i về lao động nên sẽ sản xuấ t và
xuấ t khẩ u mặt hàng vải (mặt hàng có hàm lươ ̣ng lao động cao). Còn Nhật Bản là nước dồ i dào
tương đố i về vố n, nên sẽ sản xuấ t và xuấ t khẩ u thép - mặt hàng sử du ̣ng nhiề u vố n.
Thứ hai, lý thuyế t H-O là công cu ̣ nghiên cứu hế t sức hữu ić h đố i với các nhà kinh tế ho ̣c
quố c tế : Chỉ với những giả thiế t đơn giản và dựa trên khái niệm về mức độ dồ i dào của các yế u
tố sản xuấ t, lý thuyế t này không chỉ cho phép đưa ra dự đoán về cơ cấ u sản xuấ t và thương ma ̣i
của các quố c gia, mà còn giúp cho việc nghiên cứu một loa ̣t các vấ n đề liên quan đế n giá cả các
11
[Type text]
yế u tố sản xuấ t, tác động của sự tăng trưởng các yế u tố sản xuấ t đế n quy mô sản xuấ t và thương
ma ̣i, và ảnh hưởng của thương ma ̣i đế n quá trình phân phố i thu nhập trong mỗi quố c gia.
Trong số các giả thiế t cơ bản của lý thuyết H-O, có hai khái niệm đươ ̣c coi là then chố t đố i
với lý thuyế t H-O - đó là khái niệm về hàm lươ ̣ng các yế u tố sản xuấ t và và khái niệm về mức
độ dồ i dào của các yế u tố sản xuấ t. Dựa trên hai khái niệm về hàm lươ ̣ng các yế u tố và mức độ
dồ i dào của các yế u tố sản xuấ t, nội dung của lý thuyế t H-O có thể đươ ̣c phát biể u khái quát :
Một quố c gia sẽ xuấ t khẩ u những mặt hàng sử du ̣ng nhiề u tương đố i yế u tố sản xuấ t dồ i dào
tương đố i, và nhập khẩ u những mặt hàng sử du ̣ng nhiề u tương đố i yế u tố sản xuấ t khan hiế m
tương đố i của quố c gia đó. Theo lý thuyế t H-O chin
́ h sự khác biệt về hàm lươ ̣ng các yế u tố đầ u
vào (đươ ̣c sử du ̣ng để sản xuấ t các mặt hàng), và sự khác biệt về tổ hơ ̣p tương đố i các nguồ n
lực là nguyên nhân dẫn đế n lơ ̣i thế so sánh của các quố c gia trong việc sản xuấ t các mặt hàng
khác nhau, từ đó giúp giải thić h đươ ̣c nguyên nhân, cơ cấ u, cũng như luồ ng thương ma ̣i giữa
các quố c gia.
Thương ma ̣i quố c tế không chỉ tác động đế n giá cả hàng hóa trao đổ i giữa các quố c gia, mà
còn làm thay đổ i giá cả các yế u tố đươ ̣c sử du ̣ng để sản xuấ t ra các hàng hóa đó. Đề cập đế n
mố i liên hệ giữa thương ma ̣i quố c tế và giá cả các yế u tố , trên cơ sở những giả thiế t có bản của
lý thuyế t H-O, nhà kinh tế ho ̣c người Mỹ P. Samuelson đã phát biể u đinh
̣ lý cân bằ ng giá cả các
yế u tố như sau:
Thương ma ̣i tự do không chỉ làm cân bằ ng giá cả hàng hóa, mà còn làm cân bằ ng giá cả
tương đố i của các yế u tố sản xuấ t giữa hai quố c gia, và nế u hai quố c gia tiế p tu ̣c sản xuấ t cả hai
mặt hàng khi có thương ma ̣i (tức thực hiện chuyên môn hóa không hoàn toàn), thì thương ma ̣i
sẽ cân bằ ng giá cả tuyệt đố i của các yế u tố sản xuấ t.
Nế u go ̣i r (laĩ suấ t) là giá của vố n, và w (tiề n lương) là giá của lao động, thì giá tương đố i
của vố n sẽ là r/w, và giá tương đố i của lao động là w/r. Theo đinh
̣ lý cân bằ ng giá cả các yế u tố
ở trên thì thương ma ̣i giữa Nhật Bản và Việt Nam sẽ dẫn đế n làm cân bằ ng giá tương đố i của
vố n (r/w) và giá tương đố i của lao động (w/r) giữa hai nước. Chẳng hạn trong mô hin
̀ h thương
ma ̣i giữa Nhật Bản và Việt Nam, Nhật Bản là nước dồ i dào tương đố i về vố n, Việt Nam dồ i dào
tương đố i về lao động, cho nên giá tương đố i của vố n ở Nhật Bản sẽ thấ p hơn giá tương đố i của
vố n ở Việt Nam, còn giá tương đố i của lao động ở Nhật Bản sẽ cao hơn giá tương đố i của lao
động ở Việt Nam. Khi thương ma ̣i diễn ra thì Nhật Bản sẽ gia tăng sản xuấ t thép và giảm sản
12
[Type text]
lươ ̣ng vải nên nhu cầ u về vố n (yế u tố sử du ̣ng nhiề u trong sản xuấ t thép) tăng lên trong tương
quan so với nhu cầ u về lao động. Mặt khác, Việt Nam sẽ gia tăng sản xuấ t vải và giảm sản xuấ t
thép nên nhu cầ u về vố n giảm xuố ng trong tương quan với nhu cầ u về lao động. Kế t quả là đế n
thời điể m nào đó thì các mức giá tương đố i của vố n và lao động ở hai nước sẽ cân bằ ng nhau.
Với những giả thiế t của lý thuyế t H-O về ca ̣nh tranh hoàn hảo trên thi ̣ trường hàng hóa và thi ̣
trường các yế u tố , sản xuấ t cả hai mặt hàng đươ ̣c đặc trưng bởi hiệu suấ t không đổ i theo quy
mô và công nghệ sản xuấ t giố ng nhau giữa hai nước - đươ ̣c giữ nguyên thì không chỉ giá tương
đố i, mà cả giá tuyệt đố i của các yế u tố sản xuấ t ở hai nước cũng sẽ cân bằ ng nhau, cu ̣ thể là laĩ
suấ t (và tiề n lương) ở Nhật Bản và Việt Nam sẽ cân bằ ng nhau.
Thứ ba, so với lý thuyế t lơ ̣i thế so sánh của Ricardo, thì lý thuyế t H-O có tiń h khái quát cao
hơn, nhấ t là khi đươ ̣c bổ sung thêm khái niệm vớ n con người.
Mơ hình H-O được xây dựng thay thế cho mơ hình cơ bản về lợi thế so sánh. Mặc dù nó
phức tạp hơn và có khả năng dự đốn chính xác hơn. Tuy nhiên lại hồn thiện hơn và có sự lý
tưởng hóa. Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế tân cổ điển vào lý
thuyết thương mại quốc tế. Mơ hình H-O lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết
định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực. Nó dự đoán rằng một nước sẽ xuất khẩunhững
sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩunhững sản
phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm. Thương mại tự do sẽ làm cho giá
cả các yếu tố sản xuất có xu hướng cân bằng.
Vốn con người là duy nhất và khác với bất kỳ vốn khác. Vốn con người tương tự như
"phương tiện sản xuất vật chất ", ví dụ, nhà máy và máy móc: người ta có thể đầu tư vào vốn
con người (thông qua giáo dục, đào tạo, điều trị y tế) và đầu ra của một người phụ thuộc một
phần vào tỷ lệ lợi nhuận của vốn con người mà công ty sở hữu. Do đó, vốn con người là một
phương tiện sản xuất, trong đó đầu tư bổ sung mang lại sản lượng bổ sung. Nguồn vốn con
người dồi dào dẫn đến việc nguồn lao động dồi dào, tăng lên của sức sản xuất làm rút ngắn thời
gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa.
Và ć i cùng, lý thuyế t H-O là một bộ phận cấ u thành của lý thuyế t kinh tế có ảnh hưởng
lớn nhấ t hiện nay - lý thuyế t cân bằ ng tổ ng quát của trường phái tân cổ điể n, và do đó góp phầ n
quan tro ̣ng trong việc giải thić h cơ chế vận hành của kinh tế thi ̣trường.
13
[Type text]
1.4.2 Nhược điểm :
Cho đến những năm 1950, địa vị thống trị của lý thuyết truyền thống về thương mại
quốc tế, với đại diện tiêu biểu là lý thuyết H–O, đã gặp phải những thách thức nghiêm trọng
với sự xuất hiện cái gọi là nghịch lý Leontief và nhiều hiện thực trái ngược với những kết luận
của lý thuyết H–O.
• Nghịch lý Leontief
Trên thực tế, các quốc gia có thực sự xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi
sử dụng nhiều yếu tố dồi dào của các quốc gia đó như lý thuyết H-O dự đốn hay không ? Để
trả lời câu hỏi này, nhiều công trình nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm thực tế lý thuyết H-O đã
được tiến hành, trong đó nổi tiếng nhất là công trinh do Leontief – một nhà kinh tế học người
Mỹ, thực hiện. Leontief đã dùng những số liệu về kinh tế Mỹ năm 1947 để tinh toán tỷ lệ giữa
lao động và vốn sử dụng trong sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu của Mỹ.
Các kết quả tính tốn cho thấy tỷ lệ vốn/ lao động trong sản xuất thay thế nhập khẩu của Mỹ lớ
hơn 30% so với tỷ lệ tương ứng trong sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Điều này hồn tồn trái
ngược với kết luận của lý thuyết H-O.
Một số cách lý giải nghịch lý Leontief :
Sai sót trong tính tốn và số liệu thống kê : Có ý kiến cho rằng các tính tốn của
Leontief là sai , hoặc các số liệu mà ơng sử dụng khơng mang tính đại diện. Tuy nhiên, quan
điểm này không xác đáng bởi lẽ nhiều cơng tình nghiên cứu khi áp dụng phương pháp kiểm
chứng của Leontief cũng đã đi tới những kết luận tương tự.
Sự đảo ngược hàm lượng các yếu tố: Cách giải thích này hàm ý rằng nếu như các mặt
hàng thay thế của Mỹ lại trở thành những mặt hàng sử dụng nhiều vốn một cách tương đối so
với các mặt hàng xuất khẩu thì theo kết luận của lý thuyết H-O , nhập khẩu của Mỹ sẽ là những
mặt hàng sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, trên thực tế thì sự đảo ngược hàm lượng các yếu
tố khơng phải là hiện tượng phổ biến và do vậy không thể coi nó là cơ sở duy nhất để giải thích
nghịch lí Leontief.
14
[Type text]
Sở thích : Trên thực tế, sở thích của các quốc gia là khác nhau, và dân chúng của một
quốc gia có thể có thiên hướng tiêu dùng nhiều những mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế
trong sản xuất. Nếu người dân Mỹ ưa thích sử dụng hàng hóa có hàm lượng vốn cao đến mức
sự dồi dào về vốn của người Mỹ không đủ tạo ra mức cung thích ứng, thì việc Mỹ phải nhập
khẩu các mặt hàng này là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, ở những nước có mức thu nhập cao thì
thường dân chúng lại có chi tiêu nhiều cho các mặt hàng có hàm lượng lao động cao, chứ
không phải cho các mặt hàng sử dụng nhiều vốn. Do vậy, nếu ở Mỹ tồn tại thiên hướng tiêu
dùng nhất định nào đó thì phải là thiên hướng tiêu dùng nhiều các mặt hàng sử dụng nhiều lao
động.
Chính sách bảo hộ thương mại: Trong các mơ hình đã được đề cập thì thương mại được
giả định là hoàn toàn tự do. Tuy nhiên, vào năm 1947, chính sách bảo hộ mậu dịch được áp
dụng phổ biến ở Mỹ và nhiều quốc gia khác. Nếu thuế quan được áp đặt nhằm loại trừ các mặt
hàng sử dụng nhiều lao động ra khỏi thị trường Mỹ, thì các quốc gia khác sẽ xuất khẩu vào Mỹ
các mặt hàng sử dụng nhiều vốn. Tuy nhiên, điểm không rõ ràng ở đây là tại sao các nước vẫn
không muốn bn bán với Mỹ nếu như chỉ có thể xuất khẩu vào Mỹ những mặt hàng khơng có
lợi thế ( mặt hàng sử dụng nhiều vốn ) để đổi lấy những mặt hàng mà chính họ có lợi thế ( mặt
hàng sử dụng nhiều lao động ).
Năng suất lao động cao của công nhân Mỹ : Bản thân Leontief có sự lý giải nghịch lý của
mình với lập luận rằng do năng suất lao động của công nhân Mỹ cao hơn nhiều so với các nước
khác, cho nên về thực chất Mỹ là nước dồi dào về lao động, chứ khơng phải dồi dào về vốn.
Trên thực tế, có nhiều yếu tố làm tăng năng suất lao động của công nhân Mỹ, và khi các mức
tăng này là tương đươngthì Mỹ vẫn là nước dồi dào tương đối về vốn.
Tài nguyên thiên nhiên: Có lập luận cho rằng Mỹ khơng cịn là nước dồi dào tương đối về
tài ngun thiên nhiên, cho nên phải nhập khẩu một lượng lớn các loại khống sản như : sắt,
đồng, bơ xít, dầu mỏ… Để chế biến các mặt hàng này, Mỹ sẽ phải nhập khẩu 1 lường lớn vốn
từ bên ngoài( dưới dạng hữu hình )
Vốn đầu tư vào nguồn nhân lực : Trong tính tốn của mình, Leontief chỉ đưa vào 2 yếu
tố sản xuất là lao động và vốn hữu hình. Tuy nhiên, nếu như các yếu tố khác chẳng hạn như
15
[Type text]
vốn đầu tư vào nguồn nhân lực, được tính đến thì hàm lượng các yếu tố của các mặt hàng xuất
khẩu và thay thế nhập khẩu của Mỹ có thể thay đổi, dẫn đến đỏa ngược nghịch lý Leontief.
• Thương mại giữa các nước công nghiệp đang phát triển
Ngày nay, hơn một nửa thương mại quốc tế được diễn ra giữa các quốc gia công nghiệp
phát triển- những nước được coi là có mức độ trang bị các yếu tố sản xuất tương đối giống
nhau. Hơn nữa kể từ sau Đại chiến thế giới thứ 2, tỷ trọng của các quốc gia này trong thương
mại thế giới tăng đều đặn cùng với việc thu nhập bình quân đầu người càng xích lại gần nhau.
Điều này thể hiện sự giống nhau ngày càng tăng về mức độ trang bị các yếu tố giữa các
quốc gia này và do đó mâu thuẫn với dự đốn của lý thuyết H-O.
• Thương mại nội ngành
Một tỉ trọng lớn và ngày càng gia tăng của thương mại thế giới, đặc biệt là thương mại
giữa các quốc gia công nghiệp phát triển, bao gồm những sản phẩm rất giống nhau ( hoặc nói
cách khác, có hàm lượng yếu tố giống nhau ).
Ví dụ : Nhật Bản xuất khẩu xe Toyota sang Mỹ, đồng thời lại nhập khẩu xe Cadillac từ Mỹ
Hiện tượng này không phù hợp với kết luận của lý thuyết H-O, theo đó các mặt hàng
xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia phải có hàm lượng các yếu tố khác nhau: mặt hàng
xuất khẩu là mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố dồi dào, còn mặt hàng nhập khẩu là mặt hàng sử
dụng nhiều yếu tố khan hiếm.
• Ảnh hưởng của q trình tự do hóa thương mại
Kể từ sau Đại chiến thế giới thứ hai, thương mại quốc tế đã được tự do hóa một cách
đang kể, và do đó có sự gia tăng nhanh chóng về quy mơ. Xuất phát từ lý thuyết H-O, thì thực
tế trên sẽ phải đi cùng với những biến đổi lớn trong quá trình phân bổ nguồn lực và mâu thuẫn
xã hội.
Ví dụ : Theo định lí Stolper – Samuelson, tự do hóa thương mại sẽ giảm thu nhập của một
yếu tố sản xuất, dẫn đến khả năng phản kháng quyết liệt của một số tầng lớp nào đó trong xã
hội.
2. Ứng dụng lý thuyết H-O với Việt Nam:
Lý thuyết H-O: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản
16
[Type text]
xuất dồi dào tương đối và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất
khan hiếm tương đối của 1 quốc gia đó.
2.1. Ứng dụng lý thuyết H-O trong việc xuất khẩu
2.1.1. Theo lý thuyết H-O, Việt Nam sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều
tương đối yếu tố sản xuất
Những thuận lợi để Việt Nam phát triển mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi
dào:
*Vị trí địa lí:
-Việt Nam nằm ở vùng đơng Nam Á, là vùng có tốc độ phát triển khả quan, nhanh so của kinh
tế thế giới.
- Vị trí của Việt Nam rất thuận lợi để trở thành trung tâm giao nhận vận tải biển quốc tế. Nằm
trên tuyến đường giao lưu hàng hải quốc tế từ các nước thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật
Bản, Nam Triều Tiên sang các nước Nam Á, Trung Đông và châu Phi. Ven biển Việt Nam,
nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu, khí hậu tốt, khơng có bão, sương mù.
Điều này cho phép tàu bè nước ngồi có thể thực hiện chuyển tải hàng húa, sửa chữa, tiếp
nhiên liệu vật liệu an toàn quanh năm. Nét đặc trưng của vùng Đông Nam Á trước hết là có
nhiều quốc gia nằm bên bờ một vùng biển nội địa kết nối với phần còn lại của thế giới. Vùng
Biển Đơng có bảy eo biển dẫn ra bên ngoài, cho phép kết nối giữa châu Á và châu Đại Dương,
giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.Do đó, sự phát triển của thương mại quốc tế đã mang
lại lợi nhuận cực kỳ cao cho các nước Đông Nam Á. Đặc biệt, đối với Nhật Bản cũng như là
Trung Quốc, đó là những con đường huyết mạch : 80% các nguồn cung của Trung Quốc đều
phải đi qua các eo biển này..
-Việt Nam nằm trên trục đường bộ và đường sắt từ châu Âu sang Trung Quốc qua Campuchia,
Lào, Thái Lan, Mianma, Pakistan, Ấn Độ… Đặc biệt con đường bộ xuyên Á được đưa vào sử
dụng từ năm 2003.
=> Vị trí thuận lợi : tạo khả năng phát triển các hoạt động trung chuyển, tái sản xuất và chuyển
hàng hóa qua các khu vực lân cận
*Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên thiên nhiên Việt Nam phong phú và đa dạng:
Tài nguyên đất: Diện tích đất khoảng 330.363 km2 trong đó lên tới 50% là đất dùng vào nông
17
[Type text]
nghiệp và ngư nghiệp. Với khí hậu nhiệt dới mưa nắng điều hịa cho phép chúng ta phát triển
nơng sản và lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao như: gọa, cao su, và các nông sản nhiệt đới
Chúng ta có đường bờ biển dài 3260km, có 2680 sơng ngịi, với diện tích 63.566ha, cho phép
Việt Nam phát tiển xuất khẩu thủy sản
Tài ngun khống sản:Có tiềm năng về xuất khẩu lớn nhất là dầu khí . Việt Nam đứng thứ 31
về trữ lượng dầu mỏ. Ngành dầu khí đóng góp tới 20% GDP cả nước, là ngành hàng đầu mang
lại kim ngạch xuất khẩu cho đất nước.
Về khoáng sản xây dựng:
Cát ở vùng biển miền Trung cho phép xuất khẩu, được các bạn hang nước ngoài ưa chuộng như
mỏ cát ở Nha Trang
*Về nguồn lao động:
- Đây là một lợi thế của Việt Nam, với dân số đông 96,3 triệu người(2019) đứng thư 15 Thế
giới số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ hơn 76%.Với nguồn lao động dồi dào, giá
nhân công rẻ, tư chất người Việt Nam cần cù, sáng tạo, tiếp thu nhanh công nghệ mới, có thể
tham gia lao động quốc tế. Chính điều này đã giúp cho Việt Nam phát triển các ngành như : dệt
may, sản xuất giày dép, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, lắp ráp hàng điện tử..
* Như vậy, vận dụng lý thuyết H-O với điều kiện phát triển của Việt Nam chúng ta cần ưu tiên
phát triển sản xuất những ngành nhiều lao dộng, những lĩnh vực tận dụng tối đa lợi thế của
nước ta về tài ngun thiên nhiên,..Ví dụ như nơng sản, dệt may, giày da…
- Về cơ cấu xuất khẩu, chúng ta cần tận dụng lợi thế về lao động dồi dào và những ưu thế về tài
nguyên, vị trí địa lí để xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dào.
2.1.2. Thực trạng về cơ cấu xuất khẩu ở VN hiện nay:
Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn là nhóm hàng cơng nghiệp ,tiếp
đến là nhóm hàng nơng sản, thủy sản và nhóm hàng nhiên liệu, khống sản tổng kim ngạch
xuất khẩu
18
[Type text]
Bảng 1: Cơ cấu xuất khẩu cả Việt Nam theo nhóm hàng
Hình 1:Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa năm 20 16
19
[Type text]
Mặt hàng điện tử và linh kiện điện tử đang được xuất khẩu mạnh, chiếm tỉ trọng cao. Đứng thư
hai là dệt may ; tiếp theo là nông lâm thủy sản và hiện tại khoáng sản ( nguyên liệu thơ) xuất
khẩu khơng nhiều.Tỉ trọng của nhóm nhiên liệu và khống sản khơng lớn
2.1.3. Tại sao lại có xu hướng chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu:
- Hai lợi thế mà Việt Nam đang có là tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào. Mặc
dầu Việt Nam được coi là một đất nước phong phú về các loại khống sản, nhưng nếu tính theo
mức đầu người thì khơng phải là nước giàu khoáng sản. Về lao động, Việt Nam có nguồn lao
động trẻ dồi dào, tuy nhiên lực lượng này lại chưa quen với lối lao động công nghiệp, việc tiếp
cận cơng nghệ mới cịn hạn chế
Hình 2:Cơ cấu trình độ của chất lượng lao động Việt Nam
- Giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra chủ yếu dựa trên lợi thế về điều kiện
20
[Type text]
sản xuất (nguyên liệu thô, gia công và sơ chế) luôn rẻ hơn so với các mặt hàng chế biến dựa
trên lợi thế về các điều kiện sản xuất cao hơn (lao động được đào tạo, công nghệ trung bình
thích hợp). Hiện tại Việt Nam đang xuất khẩu dầu thơ, gạo, khống sản… nếu khơng đi thẳng
vào cơng nghệ hiện đại sử dụng lao động dồi dào để sản xuất hàng xuất khẩu thì Việt Nam sẽ
phải chịu thiệt thòi về giá hàng xuất khẩu (giá trị gia tăng thấp). Thực tế đó đã được chứng
minh qua nhiều năm. Nhưng với q trình phát triển (cơng nghiệp hố, hiện đại hố), Việt Nam
sẽ có một bước chuyển rất căn bản: mở rộng lợi thế ra nhiều mặt hàng, nhóm hàng có giá trị
cao. Muốn vậy phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên
nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan
trọng cho việc thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển hiện
nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt về năng suất
-Chỉ xuất hiện trên dưới 10 năm trong “bản đồ” xuất nhập khẩu của Việt Nam nhưng 2 ngành
hàng công nghệ xuất khẩu linh kiện điện thoại và máy vi tính đã nhanh chóng vượt qua nhiều
lĩnh vực truyền thống như dệt may, giày dép, thủy sản… để vững vàng ở những vị trí xuất khẩu
lớn nhất của Việt Nam với khoảng cách với những ngành hàng kế tiếp từ vài tỷ đến vài chục tỷ
USD- một khoảng cách rất khó san lấp. Mặt khác, sự vượt trội của 2 nhóm hàng lớn cũng cho
thấy ưu thế về giá trị gia tăng, năng suất lao động của lĩnh vực công nghệ cao. Bởi dù chưa có
con số đầy đủ nhưng lao động trong các nhà máy sản xuất điện thoại; máy vi tính cũng chỉ
dừng ở con số một vài trăm nghìn, trong khi các lĩnh vực khác lượng lao động có thể lên đến cả
triệu, thậm chí vài triệu lao động như lĩnh vực dệt may.
21
[Type text]
Bảng 2: Các chỉ số về tình hình xuất khẩu của ngành linh kiện điện tử
22
[Type text]
Điều này cho thấy, việc nhập khẩu các mặt hàng linh kiện điện tử từ nước ngồi sau đó lắp ráp
và thuê gia công rồi xuất khẩu với sản phẩm hoàn thiện ăn chêch lệch đã đem lại 1 nguồn lãi
không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam.
=> Cho thấy thực tế cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam có đôi chút khác biệt với lý thuyết H-O
việc xuất khẩu sử dụng nhiều tương đối về yếu tố sản xuất còn còn hạn chế chúng ta cần xem
xét cả yếu tố cơng nghệ, trình độ của lao động Việt Nam đã cho thây sự khác biệt. Dù có lợi thế
về lao động về tài nguyên thiên nhiên nhưng lao động chất lượng chưa cao và tài nguyên chưa
phát triển ngành cơng nghiệp chế biến nhiên liệu chỉ có thể xuất khẩu nhiên liệu thô. Chúng ta
hướng tới sản xuất các mặt hàng điện thoại , linh kiện điện tử với số lượng nhân cơng ít, sử
dụng ngun liệu rẻ và thời gian sản xuất nhanh để kịp thời xuất khẩu sang các thị trường lớn.
2.1.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thị trường mà các mặt hàng này hướng
tới:
Do yếu tố cơng nghệ, chi phí nhân cơng và thời gian Việt Nam hiện nay đang hướng tới 1 số
mặt hàng chủ lực quan trọng phát huy lợi thế và đưa các sản phẩm này vào các thị trường tiềm
năng
*Một số thị trường lớn và mặt hàng xuất khẩu chủ lực:
Hình 3: Cơ cấu các thị trường xuất khẩu của Việt Nam
23
[Type text]
*.Mặt hàng cụ thể và thị trường chính:
Mặt hàng chủ lực
Thị trường chính hướng tới
1.Máy vi tính, sản phẩm Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ
điện tử và linh kiện đạt 25,6
tỷ USD
2. Hàng dệt may đạt 24,61 Hoa Kỳ đạt 11,21 tỷ USD;
tỷ USD
3. Hàng nông sản (bao gồm Trung Quốc, EU, ASEAN
hàng rau quả, hạt điều, hạt
tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và
sản phẩm sắn, cao su) đạt
12,54 tỷ USD
4. Thủy hải sản đạt 6,22 tỷ
Hoa Kỳ đạt 1,08 tỷ USD; Nhật Bản đạt 1,07 tỷ
USD
USD;EU đạt 982 triệu USD;Trung Quốc đạt 832 triệu
USD
5.Máy ảnh,máy quay phim, Trung Quốc với 1,29 tỷ USD; Ấn Độ với 458 triệu
linh kiện đạ 2,96 tỷ USD
USD; Hồng Kông với 380 triệu USD
6. Sắt thép dạt 3,16 tỷ USD
Campuchia,Malaysia, Hoa Kỳ…
Bảng 3: Số liệu lấy hết tháng 9 năm 2019
24
[Type text]
Hình 4: Cơ cấu xuất khẩu của máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam
theo quốc gia 9 tháng năm 2018
2.2. Ứng dụng lý thuyết H-O trong nhập khẩu
2.2.1. Nhập khẩu có vai trị quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt Nam trên các
mặt
Thứ nhất, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vì thông
qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60-100% nguyên-nhiên liệu chính phục vụ cho
sản xuất.
Thứ hai, nhập khẩu tác động mạnh vào quá trình đổi mới cơng nghệ trang thiết bị sản xuất.
Qua đó nâng cao trình độ sản xuất và năng suất lao động trong nước.
2.2.2. Thực trạng nhập khẩu Việt Nam hiện nay:
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: kim ngạch trong tháng 9 là 4,72 tỷ USD, giảm 4,6%
so với tháng 8, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm này trong 9 tháng/2019 đạt 38,25 tỷ USD, tăng
21,7% so với cùng kỳ năm trước.
Các thị trường xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện lớn nhất sang Việt Nam là:
Hàn Quốc với trị giá 13,53 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; đứng thứ 2 là Trung
Quốc với 9,03 tỷ USD, tăng mạnh tới 56,3%; đứng thứ 3 là Đài Loan với trị giá đạt 4,02 tỷ USD,
25