Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

nươc rửa chén lên men từ rác

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.08 MB, 24 trang )

Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê
PHẦN I. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều nước loại rửa chén bát
được làm bằng hóa chất. Những loại nước tẩy rửa này phần lớn đáp
ứng được độ tẩy rửa cao cho mỗi gia đình nhưng khi rửa xong da tay
người sử dụng thường bị khô, bong tróc da và cịn gây độc hại cho
chính chúng ta. Khi rửa bằng các loại nước tẩy rửa này cần một
lượng nước lớn để rửa trôi hết các chất tẩy rửa này, điều đó gây tốn
nguồn nước sạch. Bên cạnh đó, phần lớn các chất tẩy rửa hóa học
thường chứa các hóa chất độc hại như phốt phát, nitrat, amoniac, clo
v.v ...khi thải ra môi trường do sử dụng lượng bọt không tan quá lớn
nên làm cây trồng và vật nuôi bị ảnh hưởng, cây không phát triển
được, vật ni khi ăn thức ăn thừa có lẫn các chất tẩy rửa này phần
lớn bị ốm đau, còi cọc dẫn đến chết, đặc biệt là cá, tôm dưới nước
cũng bị ảnh hưởng lớn. Đây là nhược điểm khó khắc phục được trong
quá trình chế tạo chất tẩy rửa đi từ nguyên liệu của các hợp chất có
nguồn gốc là hóa vô cơ, chất béo như: xút, axit và các chất hoạt
động bề mặt có nguồn gốc từ sản phẩm hóa học. Mỗi khi bạn sử
dụng các sản phẩm làm sạch được làm bằng hóa chất, bạn đã làm ơ
nhiễm nước ngầm, sông và hệ sinh thái xung quanh. Hiệu ứng tích
lũy của các hóa chất này được giải phóng từ mọi hộ gia đình có thể
gây ra thiệt hại rất lớn cho môi trường sinh thái, ảnh hưởng không
tốt cho sức khỏe con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, của con người thải ra một
lượng rất lớn các rác thải sinh hoạt dạng chất hữu cơ. Chất thải hữu
cơ được chất đống trong bãi rác tạo ra khí độc hại cho môi trường và
sức khỏe của người dân sống xung quanh bãi rác. Tại các bãi chôn


lấp, chất thải hữu cơ trải qua q trình phân hủy yếm khí tạo ra khí
mê-tan(CH4)- một loại khí nhà kính có khả năng bẫy nhiệt hiệu quả
gấp 30 lần so với carbon dioxide ,có thể giữ nhiệt gấp 21 lần so với
CO2, làm tăng thêm tình trạng nóng lên tồn cầu. Hơn nữa, khí mêtan cũng có thể đe dọa sức khỏe của những người sống xung quanh
bãi rác bằng cách thay thế hàm lượng oxy trong khơng khí. Vấn đề
mơi trường và sức khỏe phát sinh do chất thải hữu cơ trong bãi chôn
lấp phải được xử lý bằng cách giảm lượng chất thải hữu cơ cũng như

1
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
bằng nào đó biến chất thải hữu cơ thành nguyên liệu để sản xuất ra
các sản phẩm có giá trị cao.
Một trong những biện pháp làm giảm lượng rác thải hữu cơ đó
là dùng các rác thải hữu cơ để sản xuất enzim sinh thái(eco
enzyme). Enzyme Eco được phát triển bởi Tiến sĩ Rosukon từ Thái
Lan.Tiến sĩ Rosukon đã tích cực tham gia nghiên cứu enzyme trong
hơn 30 năm và bà khuyến khích mọi người tạo ra enzyme sinh thái
tại nhà để giảm bớt sự nóng lên tồn cầu. Eco enzyme được tạo ra
bằng cách lên men chất thải nhà bếp tươi (vỏ trái cây và rau), đường
(đường nâu, đường thốt nốt hoặc đường rỉ mật) và nước... Eco
enzyme là một chất lỏng đa năng,có thể được sử dụng:trong nơng
nghiệp,chăn ni, máy lọc khơng khí, thuốc chống cơn trùng, chất
tẩy rửa, chăm sóc xe hơi, phân bón hữu cơ, v.v Enzyme sinh thái có
thể thay thế hầu hết các chất lỏng làm sạch cho nhiều sản phẩm gia

dụng, thậm chí để làm sạch khơng khí khỏi vi khuẩn trong khơng khí,
do khả năng tiêu diệt vi khuẩn và nấm
Từ những vấn đề thực tiễn trên, nhằm góp phần làm giảm
lượng rác thải hữu cơ đồng thời tạo ra một sản phẩm an toàn cho sức
khỏe con người, tốt cho môi trường sinh thái. Chúng em quyết định
chọn đề tài: Nghiên cứu sản xuất nước rửa chén sinh học từ vỏ
trái cây và rau củ bỏ đi” 
1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Tạo ra sản phẩm an toàn cho con người, cho môi trường sinh
thái.
- Giảm thiểu lượng rác thải hữu cơ ra môi trường, giảm thiểu ô
nhiễm môi trường,tăng thêm nguồn phân bón hữu cơ để bón
cho cây trồng.
- Sản xuất nước rửa chén bát từ nguyên liệu sinh học có giá
thành rẻ,tính tẩy rửa cao
- Đề tài sử dụng phương pháp đơn giản, hiệu quả và thân thiện
với mơi
trường.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu.
- Tìm ra một phương pháp đơn giản, tối ưu để mọi người đều có
thể tự sản xuất ra nước rửa chén sinh học từ vỏ rau củ.
1.4. Thời gian, phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu:

2
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên



Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
Chúng em nghiên cứu từ tháng 8/2019 đến thời điểm hiện tại.
- Phạm vi nghiên cứu :
Chúng em nghiên cứu tại nhà và tại phịng bộ mơn hóa của trường
THPT Thanh Khê.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Phương pháp lý luận
Nghiên cứu các lý thuyết về các rác thải hữu cơ, sản xuất
enzim sinh thái từ rác thải hữu cơ, ứng dụng của enzim sinh thái,trái
bồ hịn, các chất phụ gia tạo đặc có nguồn gốc thiên nhiên an tồn
với con người, với mơi trường sinh thái.
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu từ thực tiễn.
- Thí nghiệm các quy trình lên men để sản xuất enzim sinh thái
từ rác tải hữu cơ
- Thí nghiệm nghiên cứu công thức pha chế nước rửa chén sinh
học từ enzim sinh thái
- Thí nghiệm tính năng tẩy rửa của nước rửa chén sinh học với
các phụ gia từ đó đưa ra sản phẩm tối ưu nhất.
1.6. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
- Tháng 8/2019: Lên ý tưởng và nghiên cứu lí thuyết
+ Thu thập, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài.
+ Xây dựng kế hoạch nghiên cứu.
- Từ ngày 15/8/2019 –15/11/2019: Tiến hành lên men
-Từ ngày 15/11/2019 –21/11/2019:
+ Nghiên cứu các tỉ lệ các chất tạo đặc để sản xuất nước rửa chén
+Khảo sát tính tẩy rửa của nước rửa chén
-Từ ngày 21/11/2019 –25/11/2019: Hoàn chỉnh đề tài


3
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê

Phần 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Rau củ tươi,vỏ trái cây
Trong rau củ tươi, vỏ trái cây có thành phần hóa học rất phong
phú, bao gồm các thành phần sau:
a/ Nước
Trong rau quả hàm lượng nước rất cao, trung bình 80-90%( có
khi đến 93-97%). Nuớc trong rau quả chủ yếu ở dạng tự do, trong đó
chứa các chất hoà tan, chỉ một phần nhỏ là ở dạng liên kết trong các
hệ keo của tế bào.
b/Các glucid
Glucid hay carbonhydrat là hợp phần chủ yếu của các chất khô
trong rau quả.
Đường tự do trong rau quả chủ yếu ở dạng D – glucozơ, D- fructozơ
và sacarozơ,. Fructozơ cịn có trong thành phần của saccarozơ và
innulin. Tất cả các loại đường đều tan trong nước, và độ tan tăng khi
nhiệt độ tăng.các đường đều hút ẩm mạnh, nhất là fructoza.
Trong các chủng loại rau quả khác nhau, số lượng và tỉ lệ các
loại đường khác nhau, làm cho rau quả có vị ngot khác nhau. Quả

hạch (mơ, mận,đào) cị ít saccaroza, cịn glucoza và fructoza bằng
nhau. Trong quả có múi ( cam, chanh, quýt, buởi), chuối tiêu, dứa thì
đường chủ yếu là saccarozơ. Trong quả nhân, dưa hấu, luợng

4
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
fructozơ thuờng cao.Trong nho, chuối, bom, đường chủ yếu là
glucoza.
c/Tinh bột
Tinh bột là một polyme mà monomer là glucozơ. Tinh bột do
hai polysacarid khác nhau: amiloza và amilopectin. Nhìn chung tỉ lệ
amiloza và amilozapectin trong đa số tinh bột là ¼.
Tinh bột chứa nhiều các loại đậu( 50-60%), củ ( khoai tây 1518%, khoai lang 12-26%, sắn%)… Trong các loại quả khác nhau, tinh
bột đều có nhưng hàm luợng rất thấp và thay đổi thao quy luật
riêng.Với các loại rau đậu, hàm lượng tinh bột tăng lên trong q
trình già chín, đồng thời hàm luợng đuờng giảm đi.Với các loại quả
thì nguợc lại, khi xanh tinh bột nhiều hơn khi chín. Ví dụ, chuối tiêu
xanh khi già chứa 20.6% tinh bột, nhưng khi chín chỉ còn 1.95%,
trong khi hàm lượng đường tăng từ 1.44-16.48%.
d/ Cellulose
Cellulose trong rau quả ở các phần vỏ ( thành tế bào, vỏ quả,
vỏ hạt) và mô nâng đỡ. Cellulose có cấu tạo mạch thẳng, liên kết
2000 – 10000 phân tử glucoza.Các phân tử celluloza hình sợi liên kết
với nhau bằng cầu hydro tạo thành bó gọi là mixen.

Hàm lượng celluloza trong quả là 0.5-0.7%, có khi tới 6% (dứa 0.8%,
cam , buởi 1.4%, hồng 2.5%, ổi chín 6%); trong rau 0.2-2.8% ( cà ,
cải bắp -1.5%, măng -3%) và có khi cao hơn (dưa chuột 4-5%).
e/ Pectin
Pectin trong rau quả ở hai dạng : hồ tan và khơng hồ tan.Các
loại rau quả khác nhau có hàm lượng pectin khác nhau: táo 1.53.5%, chanh 2.5-4%, cam 3.5-12.4%, cà rốt, bí ngô 2.5%, cùi buởi
3.1%, vỏ múi bưỏi 5.8%, vỏ hạt 5.3%, bã tép 5.2%.Trong phát triển
và già chín của rau quả, hàm lượng pectin luôn biến đổi, thường cao
nhất khi tới chín. Khi quả bị thối rữa, pectin bị phân huỷ sâu hơn.
f/Các hợp chất chứa nitơ
Hàm luợng đạm trong rau quả tuy không nhiều, thuờng chỉ từ
0.2 – 1.5% (trừ chuối tiêu 1.8%, nhóm rau đậu và cải 3,5 -5 ,5%)
nhưng đóng vai trị quan trọng trong trao đổi chất dinh dưỡng. Nitơ
ammoniac,amid và acid amin tuy ít nhưng có vai trị quan trọng hơn
nitơ protein trong q trình lên men, vì nấm men cần sử dụng dạng
nitơ này để phát triển. Trong rau quả hầu hết acid amin tự do, đặc
biệt có đủ tám acid amin khơng thể thay thế được. Tỉ lệ thành phần

5
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
các acid amin trong một số loại rau quả khá cân đối như trong chuối
tiêu, đậu, khoai tây, cà rốt, cải bắp (1.5-1.6%). Trong lá sắn tươi có 69% nitơ ( nhưng chỉ có 20% luợng đạm này đuợc cơ thể hấp thu).
g/Enzyme
Hệ enzyme trong rau quả rất phong phú và đa dạng . Enzyme

là chất xúc tác sinh học các quá trình trao đổi chất và biến đổi hóa
học xảy ra trong các mô thực vật. Các hệ enzym chứa trong các chất
nguyên sinh có tác dụng tổng hợp ra các chất phức tạp hơn. Còn các
hệ enzyme ở dịch quả lại thủy phân ra các chất đơn giản hơn.
Enzyme trong rau quả có hoạt lực cao và rất khác nhau.
Trong mơ thực vật có các lớp enzyme sau:
– Lớp enzyme oxi hóakhử( oxidaz ):peroxidaza.polyphenoloxidaza,catalaza…
– Lớp enzyme thủy phân (hydrolaza) xúc tác quá trình thủy phân:
cacbonhydraza (amilaza,invectaza…); enzyme pectolitic (pectaza,
pectine steraza.)
– Lớp enzyme tổng hợp xúc tác các quá trình tổng hợp chất đơn giản
thành chất phức tạp: photphotaza..
h/Các chất khoáng :
Trong rau quả, một phần nhỏ chất khoáng ở dạng nguyên tố
kim loại liên kết với các hợp chất hữu cơ cao phân tử như magie
trong clorofin; lưu huỳnh, photpho trong thành phần của
protein,enzyme và lipoit; sắt, đồng trong enzyme. Phần chủ yếu các
chất khoáng ở trong thành phần các acid hữu cơ và vô vơ như axit
photphoric, acid sunfuric,acid silixic,acid boric… Cơ thể nguời rất dễ
hấp thu các chất khoáng ở dạng liên kết như vậy.
Tuỳ theo hàm luợng, các chất khoáng trong rau quả chia ra các
loại:đa luợng, vi luợng và siêu vi luợng.
i/Các vitamin
Nhiều vitamin chỉ có thể tổng hợp đuợc trong thực vật, do vậy
rau quả là nguồn cung cấp vitamin rất quan trọng và rất cần thiết
đối với con nguời. Rau quả giàu vitamin A, C, PP,B1,B2, K..
Các vitamin hoà tan trong nuớc quan trọng là: vitamin C,
vitamin P, axit folic, vitamin PP, vitamin nhóm B và axit pantotenic.
Các citamin hoà tan trong chất béo thuờng gặp là vitamin A và
vitamin K.


6
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
Trong rau quả, vitamin C phân bố không đồng đều, thuờng tập
trung gần vỏ hay lớp gần vỏ, có khi3-4 lần cao hơn trong mẫu trung
bình. Trong lõi cải bắp, hàm luợng vitamin C cao gấp hai lần ở bẹ
(100 và 50mg %).
k/Acid hữu cơ
Acid hữu cơ tạo cho rau quả có mùi vị đặc trưng hơn bất cứ
thành phần nào khác. Acid hữu cơ có trong rau quả duới dạng tự do,
dạng muối và este. Một số acid bay hơi kết hợp với este tạo ra mùi
thơm..
Độ chua của rau quả thường không quả 1%. Tuy nhiên một số rau
quả có độ acid cao: bưởi chua 1.2%, mận chua 1.5%, mơ 1.3%,
chanh 6-8%.
l/Các chất màu
Chất màu ( sắc tố ) tạo cho rau quả có màu sắc khác nhau. Các
chất màu trong rau quả có thể chia thành 4 nhóm : chlorophyl,
carotinoit hồ tan trong chất béo, antoxian và chất màu flavon tan
trong nước.
2.1.2. Quả bồ hịn
2.1.2.1.Mơ tả
Cây bồ hịn cịn được gọi trại âm là cây bịn hịn. Bên cạnh đó,
người ta tin rằng tràng hạt được làm từ hạt bồ hòn có thể xua đuổi

tai họa, tà ma, tiêu trừ phiền não nên cịn gọi nó là “vơ hoạn tử”. (1)
Tên khoa học Sapindus saponaria L
Tên khác: Vơ hoạn, Bịn bịn, Mộc hoạn tử, Mác hón (Tày), Co-hón
(Thái), Mầy quyến ngầm (Dao).
Họ: Bồ hịn (Sapindaceae).

.

.
Hình 2.1. Bồ hịn
Bồ hịn là cây thân gỗ, lá kép lơng chim, hoa lưỡng tính, quả
trịn và hạt bên trong cũng màu đen hoặc màu cánh gián như quả
nhãn. Thịt quả khá dày, khi chín mềm lại khiến cho cả vỏ và thịt quả

7
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
đều bị tóp lại, nhăn nheo. Khi chín, quả bồ hịn có màu vàng trong,
nhìn bắt mắt nhưng vị của nó lại rất đắng nên mới có câu ca dao:
“Đắng này xem tựa bồ hòn
Chát này xem tựa sung non ngậm vào”
2.1.2.2.Phân bố, sinh thái
Việt Nam có 4 lồi, đều là cây gỗ. Trong đó, bồ hịn là cây khá
quen thuộc, bởi quả được sử dụng như xà phòng từ xa xưa. Cây phân
bố rải rác hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp (thường dưới 1000m)

Và trung du bao gồm các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh
Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái, Thanh Hố, Nghệ An, Hà Tĩnh. V.V. Cây
cịn được trồng ở một số nơi như ở đình chùa, quanh làng bản để lấy
qủa và bóng mát.
2.1.2.3.Thành phần hóa học
Quả bồ hịn là nguồn ngun liệu giàu saponin. Trong thịt quả
có tới 18% Saponosid. Saponin mukorosin C 52H84O11 .2H2O (đc 155 –
156°) đã được chiết ra dưới dạng kết tinh. Khi thủy phân cho ta genin
là hederagenin và đường là L- arabinose, DI – glucose, L – rhamnose,
và D- Xylose.
Các Sapindosid có trong bồ hịn như Sapindosid A. B, C, D, E, E1, X,
Y, Y2… đều là những saponin triterpen. Ngoài ra cịn có mukuroyiosid
ia, Ib, II2, IIb; là những saponin có hoạt tính bề mặt mạnh.
Nhiều phương pháp chiết xuất saponin từ quả bồ hịn đã được
mơ tả, trong đó phương pháp đơn giản nhất là đun sôi bột quả với
nước, cô đặc dịch chiết và tủa Saponin bằng sulfat amoni. Hạt bồ
hịn chứa 9 – 10% dầu béo.
2.1.2.4. Cơng dụng
Trong y học dân gian Ấn Độ, để điều trị viêm phổi người ta dùng
bột vỏ quả bồ hòn trộn với mật ong, làm thành viên hoàn mỗi viên
khoảng 2g. Mỗi lần uống một viên, trộn với sữa nóng, ngày 2 lần.
Nhân dân một số vùng ở Nepal dùng vỏ quả bồ hòn tán nhỏ
thành bột nhão đắp hàng ngày vào chỗ bị bệnh để trị những bệnh
ngoài da như ghẻ và bệnh nấm da. Cũng dùng vỏ quả bồ hịn tán
nhỏ, trộn với 2 lần lượng bột ngơ và dùng gội đầu thường xuyên đế
trị gầu và diệt chấy.
Nhờ lượng saponin cao trong thịt quả với đặc điểm tạo bọt, kháng
khuẩn, không độc hại và thân thiện với môi trường mà từ lâu, nước
bồ hòn đã được dùng để lau rửa, giặt giũ, tắm gội, tẩy trắng, đánh


8
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
bóng đồ trang sức, trừ sâu, chống côn trùng… (tên tiếng Anh của
quả bồ hịn là Soapnut, nghĩa là quả xà phịng) (7)
Khơng chỉ được trồng để phủ xanh đồi trọc, cung cấp gỗ cho
sản xuất mà quả của cây bồ hòn còn là nguyên liệu trong sản xuất
hàng tiêu dùng như xà phòng, kem đánh răng, dầu gội thảo dược
Ayurvedic…, mỹ phẩm (kem dưỡng da) và dược phẩm…(8)
Chưa thấy có tài liệu nói về độc tính của bồ hịn nhưng cần lưu ý
tránh để nước bồ hòn rơi trực tiếp vào mắt sẽ gây kích ứng, đỏ mắt.
Nếu thấy có triệu chứng như phát ban, đỏ da hoặc ngứa ngáy bất kỳ
trên da hoặc tóc thì ngưng ngay lập tức vì có thể cơ địa bị dị ứng với
saponin trong quả bồ hòn.
2.1.3. Phương pháp lên men lactic
Lên men lactic là quá trình chuyển hóa kị khí đường (glucozơ,
lactozơ) thành sản phẩm chủ yếu là axit lactic.
Vi khuẩn lên men lactic thuộc họ Lactobacterium hơ hấp kị khí
khơng bắt buộc. Chúng có khả năng lên men nhiều loại đường đơn
hay đường đôi nhưng khơng có khả năng lên men gluxit phức tạp và
tinh bột.
Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men: pH mơi trường, nhiệt độ,
nguồn cácbon và các axit amin.
Có 2 loại lên men lactic là lên men đồng hình và lên men dị hình:
Glucozơ + vi khuẩn lactic đồng hình → Axit lactic

Glucozơ + vi khuẩn lactic dị hình → Axit lactic + CO 2 + Eetanol +
axit axetic
Quá trình lên men đã được con người sử dụng cho sản xuất
thực phẩm hoặc nước giải khát ở thời kỳ đồ đá. Ví dụ, lên men được
dùng để bảo quản trong quá trình lên men acid lactic được tìm thấy
trong thực phẩm muối chua như là dưa muối, kim chi và yaua, cũng
như trong q trình sản xuất thức uống có cồn như rượu và bia. Q
trình lên men thậm chí diễn ra trong dạ dày của động vật, cũng như
ruột người. Hội chứng nhà máy bia là hội chứng y khoa hiếm gặp khi
bao tử chứa nấm men bia, phân giải tinh bột thành cồn, thứ có thể đi
vào trong máu.
2.1.4. Enzim sinh thái ( Eco Enzim)
2.1.4.1. Nguồn gốc

9
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
Công thức enzim sinh thái được nghiên cứu và phổ biến bởi
người sáng lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Thái Lan,
Tiến sĩ
Rosukon Poompanvong , người đã giành giải thưởng FAO năm 2003
vì đóng góp xuất sắc của mình cho canh tác hữu cơ, thông qua công
việc sử dụng chất thải hữu cơ lên men làm phân bón, thuốc trừ sâu
và thứa ăn chăn nuôi.
Rượu (ethanol) và / hoặc axit axetic được tạo ra bởi q trình

trao đổi chất của vi khuẩn có mặt tự nhiên trên phế liệu trái cây hoặc
thực vật. Hô hấp kỵ khí, cịn được gọi là lên men, được vi khuẩn trải
qua để lấy năng lượng từ carbohydrate trong điều kiện yếm khí
(khơng có oxy) để tạo ra rượu hoặc axit axetic (tùy thuộc vào loại vi
sinh vật) làm sản phẩm phụ. Nấm men và một số loại vi khuẩn sản
xuất rượu thơng qua q trình lên men, trong khi hầu hết các vi
khuẩn sản xuất axit axetic. Trong quá trình sản xuất enzyme sinh
thái, rượu, axit axetic hoặc cả hai đều được sản xuất, tùy thuộc vào
loại vi sinh vật có trên phế liệu trái cây hoặc rau quả, cả hai chất đều
có tính khử trùng. Enzyme này được tạo thành sau thời gian 3 tháng
lên men cặn rau củ từ nhà bếp.
Năm 2015, Arun và Sivashanmugam đã phát hiện ra rằng
enzyme sinh thái cịn có chứa hoạt tính amylase, protease và lipase
có thể được sử dụng để xử lý chất thải từ sữa, trong đó nó chứa
carbohydrate, protein và chất béo bị phá vỡ bởi các enzyme đó.
2.1.4.2. Vật tư cần thiết:
 Mật hoặc đường thốt nốt hoặc đường nâu.
 Rau tươi hoặc vỏ trái cây (cặn, vỏ khơng được nấu chín).
 Bình nhựa kín khí.
2.1.4.3. Một số lưu ý khi sản xuất GE
1. Không sử dụng hộp đựng bằng thủy tinh hoặc kim loại không
thể mở rộng.
2. Rác để sản xuất enzyme không bao gồm vật liệu giấy, nhựa,
kim loại hoặc thủy tinh.
3. Màu sắc lý tưởng của enzyme sinh thái là màu nâu sẫm. Nếu
nó chuyển sang màu đen, thêm một lượng đường tương tự để
bắt đầu lại q trình lên men.
4. Nó có thể có một lớp màu trắng, đen hoặc nâu trên đầu
enzyme, bỏ qua nó. Nếu bạn gặp ruồi và sâu trong thùng chứa


10
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
hãy vớt bỏ phần đó rồi cho thêm đường vào, q trình lên men
sẽ tiếp diễn.
5. Tận dụng dư lượng enzyme sinh thái:
a) Tái sử dụng cho sản xuất tiếp theo bằng cách thêm rác tươi.
b) Sử dụng làm phân bón bằng cách làm khơ cặn, trộn nó và chơn
trong đất.
c) Nghiền cặn, đổ vào bồn cầu, thêm một ít đường nâu và xả để giúp
làm sạch nước thải.
6.
Nếu bạn không thu gom đủ chất thải nhà bếp, bạn có thể đổ
đầy thùng chứa dần dần. Thời gian lên men 3 tháng bắt đầu từ ngày
bạn đặt lô chất thải nhà bếp cuối cùng.
7.
Càng để lâu, nó càng tốt. Enzim Eco thu hoạch sẽ không bao
giờ hết hạn. Không lưu trữ trong tủ lạnh.
8.
Nếu mỗi hộ gia đình sử dụng rác thải của họ để sản xuất
enzyme sinh thái, nó có thể ngăn chất thải nhà bếp gây ô nhiễm đất
đai của chúng ta và trong khi đó làm dịu sự nóng lên tồn cầu. Bạn
có thể giúp thay đổi khí hậu!
2.1.4.2. Ứng dụng:
Là một chất khử trùng, enzyme sinh thái có thể thay thế hầu

hết các chất lỏng làm sạch cho nhiều sản phẩm gia dụng, thậm chí
để làm sạch khơng khí khỏi vi khuẩn trong khơng khí, do khả năng
tiêu diệt vi khuẩn và nấm. Ngoài việc giảm sử dụng chất lỏng làm
sạch dựa trên hóa chất, enzyme sinh thái cịn có giá trị kinh tế riêng
vì nó giảm chi phí từ việc mua các sản phẩm làm sạch thương
mại. Hơn nữa, các chất dinh dưỡng có trong bã trái cây và rau quả từ
chế biến một loại enzyme sinh thái có thể được sử dụng làm phân
bón, thức ăn cho chăn nuôi nhằm tăng cường sức đề kháng cho vật
nuôi.
Sau đây là một số lợi ích của enzyme sinh thái:
1. Nước lau sàn.
2. Vệ sinh nhà bếp.
3. Nước rửa bát.
4. Chất tẩy quần áo.
5. Rửa cơ thể và chăm sóc tóc.
6. Thuốc chống cơn trùng.
7. Giảm sử dụng q mức hóa chất trong nông nghiệp. Giữ cho
trang trại không bị nhiễm trùng và cơn trùng.
8. Enzyme có thể bón phân cho đất để trồng rau khỏe mạnh.

11
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
9. Nó là hoóc môn tự nhiên cho cây và cây cũng như thuốc diệt cỏ
tự nhiên và thuốc trừ sâu. Enzyme cũng có thể canh tác đất cát

thành đất nông nghiệp màu mỡ thích hợp để trồng. Xử lý chất
thải.
10.
Nó cũng giữ cho khơng khí trong khơng khí sạch sẽ và
mát mẻ.
2.1.5. Các chất phu gia tạo đặc có nguồn gốc thiên nhiên
2.1.5.1. Xanthan Gum(Chỉ số quốc tế: E415)
Cơng thức hóa học: C35H49O29

Hình 2.2. Bột xanthan Gum và cấu trúc phân tử xanthan Gum
Xanthan Gum là một polysaccharide tự nhiên được tạo ra thơng
qua q trình lên men của đường (glucose hoặc sucrose) do vi khuẩn
Xanthomonas campestris đảm nhiệm. Nó được sử dụng như một phụ
gia trong thực phẩm, đối với mỹ phẩm nó như là chất tạo đặc và chất
nhũ hố.
Xanthan Gum giữ một vai trị quan trọng trong những ngành
cơng nghiệp ứng dụng như công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ
phẩm, công nghiệp dầu mỏ và nhiều ngành công nghiệp khác. Phụ
gia Xanthan gum sử dụng làm chất làm dày, đông đặc cho các sản
phẩm tinh bột, bột kem tươi, bột làm bánh mì, bột bún phở, sợi mì,
hủ tiếu.Chịu được độ mặn cao nên được dùng chất tạo treo, chống
lắng cặn trong nước mắm, nước tương, tương ớt, nước giải khát, nước
ép trái cây.Với tỷ lệ 1% hoặc nhỏ hơn cũng có thể được sử dụng
trong nhiều ứng dụng khác nhau trong Mỹ phẩm. Xanthan Gum là
một chất làm đặc nguồn tự nhiên tuyệt vời cho các loại kem, xà
phòng, sữa tắm, rửa cơ thể và dầu gội.
Lưu ý: Khi nó được ngậm nước đầy đủ bạn có thể phá vỡ cấu
trúc bằng cách đun nóng để thêm các các thành phần khác.Nếu bạn
muốn trộn xanthan gum tốt mà không bị đóng cục thì bạn nên bật
máy trộn để tạo vịng xốy của nước và rưới nó vào vịng xốy đó.


12
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
2.1.5.2. CDE(Coconut Diethanolaminde)
CDE là chất có màu hơi vàng, chất có tính nhớt, khi sờ vào có
cảm giác trơn và khi pha lỗng vào nước thì nước sẽ có độ sệt sệt,
mùi hơi hăng nhưng khơng hơi, khơng gây cảm giác khó chịu.

Hình 2.3. CDE và cấu trúc phân tử CDE
CDE có tác dụng tẩy rửa, tăng bọt, tăng khả năng làm tan các
thành phần dầu (tinh mùi) vào sản phẩm, tăng khả năng nhũ hóa,
tăng cảm giác dễ chịu đối với da và tóc (do CDE có nguồn gốc là dừa
nên có tác dụng như chất xả)
Đặc biệt CDE có khả năng làm tăng độ nhớt của sản phẩm vì
vậy nó được dùng như thickener còn gọi là chất làm nền, chỉ cần một
lượng nhỏ tinh hóa chất CDE cùng sự có mặt của các loại muối sẽ
làm tính đặc của sản phẩm tăng lên. Do đó hóa chất Coconut Oil Acid
Diethanolamine được dùng nhiều trong ngành hóa mỹ phẩm
Hiện nay chưa thấy khuyến nghị nào liên quan đến việc độc hại
của CDE đối với sức khỏe người và động vật.
2.1.5.3. Ceclopro DK 702 (HPMC)
Hydroxypropyl methylcellulose hoặc Hypromellose (HPMC) là
một polyme cellulose biến đổi về mặt hóa học có màu trắng nhạt và
được coi là an toàn cho người tiêu thụ. Sản phẩm này thường được

sử dụng như là một thay thế cho gelatin và gluten trong các mặt
hàng ăn chay thân thiện. Đây là một loại polymer thân thiện với môi
trường, phong phú nhất trong tự nhiên, thường được lấy từ sợi bơng
hoặc gỗ.
Celopro® DK702 là một loại Hydroxypropyl methylcellulose
(HPMC) có độ hịa tan chậm để tránh hình thành cục. HPMC có thể
làm cho chất lỏng giặt trở nên nhớt hơn và hiệu quả của việc giặt ổn
định hơn. Celopro® là một trong những chất phụ gia cần thiết trong
nước giặt quần áo và chất tẩy rửa bát đĩa. Trong giải pháp, Celopro®

13
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
có chức năng như chất làm đặc và bảo vệ các thành phần khác
chống lại sự lắng đọng.

Hình 2.4. HPMC và cấu trúc phân tử HPMC
Sau nhiều nghiên cứu trên chuột, người ta khuyên rằng
Hydroxypropyl methylcellulose hoặc Hypromellose (HPMC) là khơng
độc hại. Nó được coi là "an toàn như các thành phần mỹ phẩm trong
các thực hành sử dụng và tập trung hiện tại. Đặc biệt trong ngành
cơng nghiệp chế biến thực phẩm, nó chủ yếu hoạt động như một giải
pháp thay thế cho gelatin động vật với kí hiệu E464.
Sử dụng phổ biến: một chất thay thế cho Gelatin, thay thế cho
Gluten, chất làm đặc, chất phủ polymer, chất kết dính, và sinh học

trong dược phẩm, thực phẩm và các sản phẩm công nghiệp.
2.1.5.4. Natri laureth sulfate( SLES )
SLESlà một chất tẩy anion và chất hoạt động bề mặt có trong
nhiều sản phẩm chăm sóc cá nhân ( xà phịng , dầu gội , kem đánh
răng , v.v.) vì đặc tính làm sạch và nhũ hóa của chúng. SLES là một
chất tạo bọt rẻ tiền và rất hiệu quả. Nó có nguồn gốc từ dầu hạt cọ
hoặc dầu dừa .
Cơng thức hóa học : C H 3 (CH 2 ) 11 ( O CH 2 CH 2 ) n O S O 3 Na .
(Phổ biến cho các sản phẩm thương mại cho n = 3 )
SLES là một chất gây kích ứng. Người ta cũng chứng minh rằng SLES
gây kích ứng mắt hoặc da trong các thí nghiệm được thực hiện trên
động vật và con người. Một số sản phẩm SLES chứa dấu vết (lên đến
300 ppm) 1,4-dioxane . 1,4-dioxane được phân loại theo các Cơ quan
quốc tế Nghiên cứu Ung thư là một chất gây ung thư Nhóm 2B : có
thể gây ung thư cho con người
2.2. Thiết bị và dụng cụ nghiên cứu

14
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
Bộ bộ dụng cụ chưng cất hồi lưu để chưng cất tinh dầu (phòng
bộ mơn Hố, trường THPT Thanh Khê);tổng phân tích vi sinh vật yếm
khí, tổng phân tích coliform(Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất
lượng 2), thừng nhựa kín khí để lên men.
Cân phân tích, cốc thuỷ tinh, bình tam giác, ống nghiệm, bếp

điện, bếp cách thuỷ, cốc sứ, các loại pipet, bình định mức, bình hút
ẩm…,giấy pH

Hình 2.. Chưng cất tinh dầu
* Các chất phụ gia:
Xanthan gum, CDE, Ceclopro DK 702, SLES
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tối ưu nhất để lên men, lọc dung dịch
sau lên men.
- Thêm chất phụ gia tạo đặc (nguồn gốc sinh học) để tăng độ
nhớt, độ đặc cho nước rửa chén.
- Tạo hương thơm cho sản phẩm nước rửa chén từ các loại tinh
dầu chiết xuất từ thiên nhiên.
- Khảo sát và thực nghiệm sử dụng nước rửa chén bát từ nguồn
vỏ trái cây và rau củ bỏ đi.
Phần 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Quy trình nghiên cứu
1kg đường nâu

2kg vỏ trái cây + 1 kg
bồ hịn (khơ, bỏ hạt)

10 lít nước (nước vo gạo
càng tốt)

Cho hỗn hợp vào thùng nhựa
sạch, đậy kín, lên men
Sau 3 tháng
Lọc lấy dung dịch

Cho thêm tinh dầu, chất tạo đặc
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm
Sản phẩm

15
GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê

Sơ đồ 2. Quy trình sản xuất nước rửa chén có lên men bồ hịn
3.1.
Thuyết minh qui trình
3.1.1.

Thu gom và xử lí ngun liệu

3.1.1.1.

Thu nguyên liệu, xử lí nguyên liệu:

-Vỏ trái cây, rau củ: chỉ sử dụng trái cây và rau củ sống để sản xuất
enzyme sinh thái. Sau khi thu gom rau củ, vỏ trái cây cần loại bỏ
phần hư hỏng, thối rữa, rửa sạch đất cát sau đó để ráo.
- Đường: chỉ sử dụng các loại đường như: đường thốt nốt, đường bát,
đường hoa mai hoặc rỉ mật(những loại đường chưa bị tẩy trắng như
đường tinh luyện,đường cát).
- Bồ hòn nên chọn loại quả chín già, đã bỏ hạt, phơi khơ.

- Các loại vỏ (bưởi, cam… ),sả để chưng cất tinh dầu.
3.1.1.2.
-

-

Tiến hành quá trình lên men:

Thùng chứa: nên chọn thùng chứa bằng nhựa có nắp đậy, thể tích của thùng lớn
hơn thể tích của dung dịch lên men vì trong q trình lên men có sản sinh ra một
lượng khí CO2.
Hịa tan đường hoặc rỉ mật với 10 lit nước sạch đã được chuẩn bị sẵn (nếu có
nước vo gạo càng tốt),sau đó cho vỏ trái cây, rau củ đã chuẩn bị ở trên vào, nhấn
chìm xuống, đậy nắp lại để ở chỗ thoáng mát. Dán nhãn, ghi ngày sản xuất lên
thùng chứa để dễ dàng kiểm tra và theo dõi thời gian lên men.

-

Trong tháng đầu của quá trình lên men, sau 3 – 5 ngày ta cần mở thùng cho
thốt bớt khí, khuấy đều đồng thời kiểm tra xem có bất thường gì khơng.

-

Nếu khơng có gì bất thường thì trên bề mặt của thùng lên men sẽ xuất hiện một
lớp men màu trắng.

16
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên



Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê

Hình 3.1. Bề mặt thùng lên men trong tháng đầu.
Nếu ta bỏ không đúng tỉ lệ đường hoặc sử dụng vỏ rau củ, quả đã thối rữa thì
q trình lên men sẽ khơng thành công. Bề mặt thùng lên men không xuất hiện men vi
sinh vật mà sẽ xuất hiện mốc, sâu. Ta có thể vớt bỏ phần phía trên, cho thêm đường và
đậy kín lại, q trình lên men sẽ tiếp tục.

Hình 3.2. Bề mặt thùng lên men bị mốc, sâu.
Sau 3 tháng để trong chỗ mát, thống khí thì ta sẽ được dung dịch lên men hoàn
chỉnh. Trên bề mặt thùng lên men sẽ xuất hiện lớp men màu trắng, dày còn dung dịch
lên men chuyển sang màu vàng sậm có mùi thơm ngọt.

Hình 3.3. Bề mặt thùng lên men sau 3 tháng.
Nếu ta có thể đợi sau 6 tháng thì chất lượng của dung dịch lên men còn tốt hơn nữa.
Trong quá trình lên men cần lưu ý một số vấn đề sau:
-

Sử dụng hộp nhựa kín khí, chứ khơng phải kim loại hoặc thủy tinh
có thể mở rộng khi khí tích tụ trong thùng chứa và có thể phát
nổ. Ngay cả với hộp nhựa, nó cũng rất quan trọng để mở nắp mỗi

17
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên



Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
tuần một lần hoặc vài ngày một lần trong tháng đầu tiên và
khuấy.
-

Bảo quản hộp đựng ở nơi khơ ráo, thống mát, tránh ánh nắng
trực tiếp. Giữ GE ở nhiệt độ phòng.

-

Ban đầu quá trình lên men sẽ xuất hiện lớp váng màu trắng trên
bề mặt thùng lên men. Lớp trắng là men rất giàu phức hợp
Vitamin B và Vitamin C.

3.1.1.3.

Lọc dung dịch sau lên men

Sau thời gian 3 tháng chúng ta có thể sử dụng enzim. Bạn có thể lọc cặn
sau 3 tháng bằng rây hoặc vải cotton hoặc áo phơng. Khơng có thời
hạn sử dụng cho enzim sau lọc, cũng không cần bảo quản enzim
trong tủ lạnh vì mặc dù đã lọc khỏi bã nhưng trong dung dịch vẫn
còn vi sinh vật có thể lên men nên q trình lên men vẫn tiếp tục.
Chúng ta chỉ cần để dung dịch ở chỗ thống mát, cịn phần bã ra củ
được lọc ra sau q trình lên men ta có thể dùng để bón cho cây rất
tốt, bã trái bồ hịn có thể tái sử dụng đem đi lên men ở mẻ tiếp theo.


Hình 3.4. Lọc dung dịch lên men sau 3 tháng và dung dịch sau lọc
Nếu ở qui mơ hộ gia đình, ta chỉ cần bảo quản dung dịch nơi thoáng mát và sử
dụng để làm nước rửa chén bát.Dung dịch lên men này để như vậy mà rửa chén bát
khá sạch tuy nhiên thói quen của người sử dụng là khi rửa phải có bọt và cũng để tăng
tính năng tẩy rửa của nước rửa bát chúng em đã cho thêm vào GE nước bồ hòn.
Dung dịch lên men sau lọc có màu vàng sậm, mùi thơm ngọt dễ chịu. Khi dùng
thiết bị cảm biến để đo pH của dịch GE thì pH của GE đạt gần bằng 4. Nguyên nhân là
do trong quá trình lên men, đường và gluxit trong ra củ đã được lên men tạo axit.

18
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê

Hình 3.5. pH của dung dịch GE sau lọc
Khi pH = 4 nếu ta đem đi pha loãng để sử dụng làm chất tẩy rửa tại hộ gia đình
thì tính làm sạch, khử mùi rất tốt tuy nhiên đây là pH thấp so với nước rửa chén thơng
thường. Do đó chúng em đã thêm vào GE ít nước bồ hịn để vừa tăng độ tạo bọt, tăng
tính tẩy rửa và điều chỉnh pH của dung dịch về pH = 6.
Cách tiến hành: cân 100g bồ hịn, đun sơi với 400ml nước trong 15 phút sau đó lọc lấy
nước. Lấy nước bồ hịn này pha với GE theo tỉ lệ 1 : 1 ta được nước rửa chén có độ tạo
bọt và tính tẩy rửa cao hơn.

a)
b)

Hình 3.6. Nước bồ hịn, GE và GE sau khi thêm nước bồ hịn(a), pH(b)
Vì GE là dung dịch sau lên men chỉ được lọc thủ công, trong dung dịch sau lọc
vẫn còn vi sinh vật nên trong quá trình lên men vẫn tiếp diễn. Chúng ta để dung dịch
sau lọc ở chỗ thoáng mát một thời gian sau ta sẽ thấy hiện tượng phân lớp, có sự xuất
hiện một màng vi sinh vật mới, điều này nó làm mất tính thẩm mĩ của sản phẩm.

a)

b)

Hình 3.7. Dung dịch GE sau lọc (a) và dung dịch sau lọc để sau 10 ngày (b)
3.1.1.4. Đánh giá dung dịch lên men:

19
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê

Hình 3.8. Kết quả kiểm tra vi sinh vật
Theo kết quả kiểm tra tại Quatest 2 thì hàm lượng vi
sinh vật trong dịch lên men rất cao, điều này cho thấy quá trình lên men rất tốt, đây là
lí do tạo nên pH của dung dịch lên men rất thấp. Bên cạnh đó, dung dịch lên men hàm
lượng coliforms là âm tính, đảm bảo tính an tồn của dung dịch lên men.
3.1.1.4.


Thêm chất ổn định, tạo đặc cho dung dịch

Để tăng tính ổn định cho dung dịch, tăng tính thẩm mĩ cho
nước rửa chén, chúng em đã thử pha dung dịch sau lên men(GE) với
một số chất phụ gia tạo đặc như: Xanthan gum, CDE, Ceclopro@
DK702, SLES. Kết quả thử nghiệm ở bảng sau:
ST
T

Phụ gia
thêm vào

Tỉ
lệ(g/
ml)

Hình
ảnh

Nhận xét

1

Xanthan gum

1:100

Màu sắc đẹp, độ nhớt vừa
phải.


2

CDE

1:100

Màu sắc không được đẹp,
độ nhớt cao, bền bọt hơn.

20
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
3

Ceclopro
DK702

1:100

4

SLES

1:100

Trường THPT Thanh Khê

Màu sắc đẹp, độ nhớt
không cao lắm, bọt nhanh
tan.
Màu sắc đẹp, bọt nhiều
hơn, bền bọt hơn, độ nhớt
cao.Sản phẩm có tính thẩm
mĩ cao nhất trong các sản
phẩm.

3.2.
Đánh giá sản phẩm
Dung dịch nước tẩy rửa sinh học từ vỏ trái cây, cặn rau củ khơng
có hóa chất tạo đơng, khơng có chất tạo bọt có thể sử dụng để rửa
bát, lau nhà, rửa kính, lau chùi nhà bếp một cách dễ dàng, an toàn.
Chúng em đã thử nghiệm trên nhiều đối tượng và cho kết quả như
sau:
- Rửa chén bát có nhiều dầu mỡ và các vết trà ố lâu ngày: Ngồi đặc
tính an tồn với sức khỏe, nước rửa chén bát được sản xuất từ rác
thải có nguồn gốc thực vật cịn giúp khử sạch hiệu quả mùi tanh, các
vết dầu, mảng bám cứng đầu trên chén bát, đồ dùng ăn uống….
- Lau kính, lau cửa xe ô tô và các vật dụng bằng kính khác: Sử dụng
nước tẩy rửa sinh học từ rác thải có nguồn gốc thực vật để lau kính,
an tồn và tiện lợi với giá thành thấp giúp kính sạch bóng.
- Lau sàn nhà với nhiều vết ố bẩn, vết dầu mỡ động vật: nước tẩy rửa
sinh học sử dụng để lau nhà có thể rửa sạch sàn nhà, giúp sàn nhà
sáng bóng. Đồng thời, lau nhà theo định kì cịn có tác dụng hạn chế
ruồi, muỗi xâm nhập.
- Lau bếp, bàn bếp có nhiều vết dầu mỡ và cáu bẩn lâu ngày cũng
thu được kết quả sạch bất ngờ.
- Lau rửa bồn cầu, bồn rửa mặt và các dụng cụ bằng sứ khác: Nước

tẩy rửa sinh học được sử dụng làm nước rửa bồn cầu, nước rửa bồn
rửa mặt … làm bề mặt bồn cầu và bồn rửa mặt sạch bóng, những vết
ố bẩn lâu ngày cũng được dễ dàng đánh bật nhờ vào hàm lượng axit
tự nhiên được hình thành trong quá trình lên men.

21
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT

Trường THPT Thanh Khê

Hình 3.8. Sản phẩm nước rửa chén sinh học
3.3.
Đánh giá giá thành sản phẩm:
Nguyên liệu ban đầu:
+ Bồ hịn khơ tách hạt: 160.000đ/kg
+ Đường hoa mai (hoặc rỉ mật): 25.000đ/kg( rỉ mật
25.000đ/lit)
+Vỏ trái cây, rau củ: 0đ
+ Xanthan gum:120.000đ/kg
Sau 3 tháng lên men ta thu được 10 lít GE, nếu ta thêm phụ gia xanthan gum
cũng chỉ hết 100g xanthan gum, như vậy tính ra giá thành sản phẩm chỉ 19.700đ/lít.
Nếu chỉ tính riêng về mặ kinh tế thì nó rất rẻ. Cịn nếu tính về tính an tồn cho sức
khỏe con người, an tồn cho mơi trường sinh thái thì quả là rất tuyệt vời. Đây là một
sản phẩm vừa an toàn, vừa hiệu quả lại rất kinh tế.


KẾT LUẬN
Từ một số kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Điều kiện để tiến hành sản xuất nước rửa chén sinh học rất dễ dàng, không cần
thiết bị cầu kì, ai cũng có thể tiến hành được.

22
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
2. Giá thành của sản phẩm lại còn rẻ hơn so với nước rửa chén công nghiệp mà
hiệu quả tẩy rửa lại cao, không gây kích ứng da, khơng hại sức khỏe con người,
khơng gây hại cho môi trường sinh thái.
3. Khi nguồn rác thải hữu cơ được sử dụng để sản xuất GE sẽ giảm nguồn rác thải
ra môi trường, giúp giảm rác thải gây ơ nhiễm mơi trường.GE được tạo thành
ngồi việc sử dụng làm nước rửa chén cịn có thể sử dụng để thay thế các chất
tẩy rửa trong hộ gia đinhg như: nước lau sàn, khử trùng khơng khí, chất giặt tẩy,
thuốc trừ sâu…
4. Khi thêm phụ gia tạo đặc cho sản phẩm nước rửa chén, chúng em đã thử với
một số phụ gia. Tuy nhiên vẫn chưa nghiên cứu được phụ gia (an toàn) tối ưu
nhất để dung dịch có độ đặc như trên thị trường.
5. Đề xuất nghiên cứu thêm về phụ gia tạo đặc để sản phẩm đạt được độ đặc tối ưu
nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1] Trần Tứ Hiếu. Hố học phân tích. Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội

[2] Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản y học Hà
Nội
[3] Lê Thị Mùi. Giáo trình hố phân tích. Trường Đại Học Bách Khoa Đà
Nẵng
[4] Hồ Viết Quý. Phân tích hố lí. Nhà xuất bản giáo dục-2000

23
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên


Bài dự thi KHKT
Trường THPT Thanh Khê
[5] Đỗ Đình Rãng (chủ biên), Đặng Đình Bạch, Lê Thị Đào, Nguyễn

Mạnh Hà, Nguyễn Thị Thanh Phong (2008), Hóa học hữu cơ 3, NXB
Giáo dục
[6] Nguyễn XuânThành,Nguyễn Bá Hiên,Hoàng Hải, Vũ Thị Hiên, Giáo trình
vi sinh cơng nghiệp. Nhà xuất bản giáo dục 1996, trang 79
[7] Tơ mộc – Bách khoa tồn thư mở Wikipedia
Dịch từ tài liệu nước ngoài

/>
[8]

Uses-amp-Safer-and/
[9]

/>

enzyme
[10]

/>
organic-waste/

24
Trần Quốc Khoa – Đinh Nguyễn Duy Tâm

GVHD: Hồ Thị Kim Liên



×