Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Giải pháp hạn chế rủi ro tại Ngân Hàng Chính sách Xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Long An

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (309.63 KB, 7 trang )

TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Số 24 – Tháng 7/2020

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM – CHI NHÁNH TỈNH LONG AN
Phạm Hồng Long
Học viên Cao học Trường ĐH KTCN Long An

TĨM TẮT
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân Hàng Chính sách Xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Long An nhằm nghiên cứu đề xuất một số giải
pháp giải quyết vấn đề trong hạn chế rủi ro khi cho vay người nghèo. Sử dụng phương pháp phân tích,
mơ tả, thống kê số liệu và vận dụng các lý luận sẵn có từ sách, giáo trình, các đề tài, báo cáo khoa học
đã được cơng nhận để đưa ra hướng giải quyết cho đề tài.
Từ khóa: Rủi ro tín dụng, Ngân hàng Chính sách Xã hội, cho vay người nghèo.
SUMMARY
Based on theoretical and practical research, a number of solutions to limit credit risks at the Vietnamese
Social Policy Bank - Long An Province Branch have been proposed in order to research and propose a number
of solutions to solve the problem in limiting risks when it lends money to the poor. Use methods of analysis,
description, statistical data, and apply the existing theories from books, textbooks, subjects, and scientific
reports to provide solutions to the topic.
Key words: Credit risk, the Vietnamese Social Policy Bank, lending to the poor.

1. Đặt vấn đề
Đối với bất kỳ quốc gia nào muốn đạt được những chỉ tiêu về phát triển kinh tế đều phải
hướng về hoạt động xã hội, đó là dành vốn ưu tiên cho người nghèo, tạo lập và trích một phần
vốn huy động được chuyển sang cho người nghèo vay với lãi suất thấp. Ngồi ra, Chính phủ
mỗi quốc gia thành lập một cơ chế riêng chuyên cho vay hộ nghèo và hoạt động tín dụng hướng
đến bảo tồn nguồn vốn, khơng phải đóng thuế và miễn các loại phí, không phải tham gia ký quỹ
hoặc dự trữ bắt buộc nhằm mục đích cuối cùng gia tăng nguồn vốn, tạo vốn với chi phí thấp


nhất đến với người nghèo. Vì người nghèo khơng có tài sản thế chấp nhưng để được vay vốn
họ có những tiêu chuẩn và ràng buộc chung đó là người vay phải hội đủ tiêu chuẩn nghèo theo
quy định của mỗi quốc gia; khi vay vốn phải thành lập tổ, nhóm theo tinh thần tự nguyện và
nhóm đứng ra bảo lãnh tín chấp và thật sự tin tưởng và giám sát lẫn nhau, có những quy định
riêng khi một người trả nợ thì người khác mới được vay nên vai trị giám sát của nó rất cao. Với
một mục tiêu xác định người vay là người nghèo nên vai trị của Ngân hàng Chính sách Xã hội
nói chung có hướng phát triển riêng biệt nhằm thực hiện theo những mục tiêu xã hội do Chính
phủ các nước đó đề ra.
2. Tình hình tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An
Có thể nói mơ hình tổ chức và phương thức quản lý vốn tín dụng chính sách tại Ngân hàng
Chính sách xã hội với việc ủy thác một số khâu trong quy trình cho vay qua các tổ chức chính
trị xã hội, cùng với tổ tiết kiệm và vay vốn do cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập, có sự
tham gia giám sát của Chính quyền cơ sở, chịu sự chỉ đạo và kiểm tra, giám sát của Ban đại
diện Ngân hàng Chính sách xã hội các cấp.
Đối tượng cho vay được quy định theo từng chương trình khác nhau. Thực hiện chỉ đạo
của Ngân hàng Chính sách Xã hội cấp trên, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An tiếp
tục thực hiện ủy thác từng phần cho các tổ chức chính trị xã hội để phục vụ tín dụng cho các
đối tượng như hộ nghèo, học sinh, sinh viên, hộ sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho
người lao động.

37


Số 24 – Tháng 7/2020

TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Bảng 1: Tình hình dư nợ của Ngân hàng Chính sách Xã hội Long An giai đoạn 2012 – 2016 phân theo
chương trình tín dụng
Đơn vị: triệu đồng

Năm

Chương
trình
1. Cho
vay hộ
nghèo
2. Cho
vay
HSSV có
hồn
cảnh khó
khăn
3. Cho
vay giải
quyết
việc làm
4. Cho
vay
NS&VS
MT
5. Các
chương
trình TD
chính
sách khác
Tổng dư
nợ
Mức tăng
trưởng

dư nợ so
với năm
trước
(%)

2012

2013

2014

2015

2016

Chênh
lệch
2016/201
2 (±)

Tốc độ
tăng
BQ/nă
m (%)

Giá trị
(Trđ)

Tỷ lệ
(%)


Giá trị
(Trđ)

Tỷ lệ
(%)

Giá trị
(Trđ)

Tỷ
lệ
(%)

Giá trị
(Trđ)

Tỷ lệ
(%)

Giá trị
(Trđ)

Tỷ lệ
(%)

466.435

23,7


475.936

23,0

466.392

21,7

707.672

29,9

739.695

28,8

273.260

9,66

628.478

31,9

569.636

27,6

561.898


26,2

420.734

17,7

584.170

22,8

-44.308

-1,45

79.086

4,0

77.340

3,7

79.589

3,7

90.273

3,8


96.729

3,8

17.643

4,11

305.622

15,5

157.654

7,6

173.504

8,1

135.409

5,7

176.389

6,9

-129.233


-10,41

490.785

24,9

784.376

38,0

865.692

40,3

1.016.2
69

42,9

970.603

37,8

479.818

14,61

597.180

5,44


1.970.406

2.064.942

2.147.075

2.370.357

2.567.586

11,92

4,80

3,98

10,40

8,32

Nguồn: Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An

Trong cơ cấu dư nợ của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An thì dư nợ đối với hộ
nghèo và học sinh, sinh viên vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với tổng dư nợ của ngân hàng trong các
năm. Năm 2016 dư nợ đối với hộ nghèo chiếm 28,8% và đối với học sinh, sinh viên chiếm
22,8%. Đây cũng là hai đối tượng chính trong các chương trình tín dụng chính sách của Đảng
và Nhà nước, khi mà các chương trình chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho những
học sinh, sinh viên có hồn cảnh khó khăn được đến trường ngày càng được chú trọng và đẩy
mạnh.

Dư nợ phân theo thời gian vay có sự chênh lệch đáng kể giữa các loại, trong đó đa số các
khoản vay tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An là vay trung và dài hạn trên 97%, tốc
độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2012 - 2016 trên 5,44%. Loại vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng
rất thấp giai đoạn 2012 - 2016.
3. Đánh giá chung về công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Chính
sách Xã hội tỉnh Long An
Qua gần 15 năm thành lập và hoạt động, đặc biệt trong giai đoạn 5 năm trở lại đây (2012 2016), hoạt động tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh tỉnh Long
An đã có rất nhiều cố gắng bám sát chủ trương, mục tiêu phát triển kinh tế, các chương trình

38


TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Số 24 – Tháng 7/2020

mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, giải quyết việc làm của Đảng, Nhà nước; đã tham mưu tốt
trong việc xây dựng cơ chế chính sách, ban hành các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ sát với thực
tiễn cơ sở, nhằm thực hiện cho vay đúng đối tượng, tiền đến tay người nghèo, đạt được hiệu
quả trong công tác đầu tư.
Nhiều mơ hình chuyển đổi vật ni cây trồng, làm ăn hiệu quả đang được tiếp tục triển
khai nhân rộng tại các địa phương, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, tăng thêm thu nhập cải
thiện đời sống cho hộ nghèo nông thôn như: trồng thanh long chong đèn trái vụ ở các xã thuộc
huyện Châu Thành; nuôi tôm ở xã Tân Đông, Tân Lập và trồng rau ở xã Thuận Tây 2, Thuận
Thành huyện Cần Giuộc; trồng khoai từ xã Bình Hịa Bắc, trồng hoa thiên lý xã Mỹ Thạnh
Đơng huyện Đức Huệ; chăn ni bị sinh sản, bò vỗ béo ở xã Hòa Khánh Nam huyện Đức Hịa;
trồng khóm ở xã Tân Tây, xã Thuận Bình, trồng khoai mỡ ở xã Thạnh An, xã Thủy Đông huyện
Thạnh Hóa; sản xuất gia cơng đồ mộc ở xã Bình Trinh Đông, thị trấn huyện Tân Trụ,...
Hạn chế rủi ro tín dụng là một nghiệp vụ đầy khó khăn và phức tạp vì hộ vay khơng phải
thế chấp tài sản nhưng lại phải thực hiện theo những quy chế riêng chặt chẽ. Việc cho vay không

chỉ đơn thuần là điều tra xem xét mà địi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các
cấp, có sự bình nghị xét duyệt công khai từ tổ tiết kiệm vay vốn. Như vậy, công tác cho vay
muốn thực hiện được tốt thì ngay từ đầu phải thành lập được các tổ tại cơ sở, đặc biệt là việc
chọn, bầu tổ trưởng phải là người có năng lực, có trách nhiệm, tâm huyết với người nghèo và
có uy tín với nhân dân, đồng thời phải tạo được tinh thần trách nhiệm, tương trợ giúp đỡ lẫn
nhau trong tổ nhóm.
Tóm lại, thơng qua những vấn đề nêu trên có thể khẳng định tín dụng chính sách đối với
hộ nghèo là một trong những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lịng dân, là giải pháp quan
trọng trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, giải quyết việc làm, đảm
bảo an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới. Nhờ có sự chỉ đạo và quan tâm của Đảng, Chính
phủ, của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đồn thể như: Hội Phụ nữ, Hội Nơng
dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên,... từ tỉnh tới huyện, xã đã giúp cho việc hạn chế rủi
ro tín dụng được kết quả thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, qua 5 năm hoạt động Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An đã triển khai,
tổ chức thực hiện khối lượng công việc cực kỳ to lớn và khó khăn, hồn thành thắng lợi mục
tiêu của tỉnh về chương trình tín dụng hỗ trợ người nghèo, góp phần đáng kể vào thực hiện
chương trình mục tiêu của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo bền vững và xây dựng nơng thơn
mới.
Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An đã nhận thấy được tầm quan trọng của công
tác hạn chế rủi ro tín dụng vì thế đã thực hiện giao chỉ tiêu thu nợ cụ thể cho từng cán bộ tín
dụng làm căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ từng đợt thi đua ngắn ngày và cả
năm. Thực hiện yêu cầu cán bộ tín dụng tích cực làm việc với các đơn vị, kiểm tra tình hình sản
xuất kinh doanh của khách hàng. Ngân hàng đã chủ động tích cực phối hợp các tổ chức chính
trị xã hội ủy thác trong việc đơn đốc thu nợ quá hạn.
Thứ hai, Ngân hàng Chính sách Xã hội mở rộng mạng lưới hoạt động đến các xã, phường,
thị trấn trong tồn tỉnh bằng hình thức mở các điểm giao dịch cố định hàng tháng. Bằng hình
thức này hằng tháng Ngân hàng Chính sách Xã hội cấp huyện thành lập các tổ giao dịch lưu
động để thực hiện các công việc như: giải ngân, thu nợ, thu lãi, huy động tiết kiệm,… tại các
điểm giao dịch xã nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ trưởng tổ tiết kiệm và vay
vốn trong việc giao dịch với ngân hàng, giảm bớt đoạn đường đi, tiết kiệm thời gian và chi phí

cho khách hàng. Hiện tại mạng lưới giao dịch của ngân hàng trên toàn tỉnh Long An, ngoài trụ
sở chi nhánh ở Thành phố Tân An và 14 phịng giao dịch ở các huyện, thị xã cịn có 192 điểm
giao dịch cố định hàng tháng đặt tại 192 xã, phường, thị trấn.

39


TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Số 24 – Tháng 7/2020

Đến 31/12/2016 tồn tỉnh Long An có 3.281 tổ tiết kiệm và vay vốn với trên 129 ngàn hộ
vay vốn. Thông qua hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn đã góp phần cùng ngân hàng đưa
vốn vay trực tiếp đến tay người nghèo đúng đối tượng, thu nợ thu lãi đúng thời hạn, giúp đỡ
nhau trong sản xuất kinh doanh và đời sống, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng.
Mơ hình tổ tiết kiệm và vay vốn có vị trí rất quan trọng, được xem như cánh tay kéo dài
của Ngân hàng Chính sách Xã hội trong việc chuyển tải vốn trực tiếp đến tay hộ nghèo. Qua
các năm Ngân hàng Chính sách Xã hội quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo tổ tiết kiệm
và vay vốn, kết quả đào tạo đã được đánh giá cao, tạo nhận thức sâu rộng về chính sách tín
dụng người nghèo đối với các hộ dân, tăng thêm sự hiểu biết giữa ngân hàng với hộ nghèo,
nâng cao trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, phát hiện những vướng mắc trong chính sách
và cơ chế điều hành, hạn chế tiêu cực có thể xảy ra.
Thứ ba, tập trung đầu tư cho các hộ nghèo vùng sâu vùng xa, các xã khó khăn tạo điều kiện
để những người dân nghèo được thụ hưởng chính sách ưu đãi, có điều kiện phát triển sản xuất,
ổn định cuộc sống vươn lên hồ nhập cộng đồng, góp phần thực hiện chính sách đồn kết các
dân tộc của Đảng.
Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An đã thực hiện quy trình cho vay cấp tín dụng
theo đúng quy định của Ngân hàng Chính sách Xã hội, nhờ đó đã tạo được môi trường cho vay
ổn định, hạn chế được một số rủi ro tín dụng trong tầm kiểm sốt. Qua các lần kiểm tra nội bộ
và kiểm sốt thì Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An đều khơng có sai phạm trong q

trình cho vay, thực hiện đúng theo chính sách cho vay của Chính phủ.
Bên cạnh việc đôn đốc thu nợ quá hạn đối với các khách hàng trên địa bàn, hằng năm ngân
hàng còn thực hiện thống kê khách hàng vay vốn đang nợ quá hạn, phân tích nguyên nhân của
việc nợ quá hạn để tìm phương án xử lý.
Thứ tư, thực hiện việc đổi mới cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo
có điều kiện thụ hưởng lợi ích, để phát triển và mở rộng hoạt động của ngân hàng.
Là một ngân hàng mới thành lập và đi vào hoạt động thời gian chưa lâu, nhưng ngay thời gian
đầu hội đồng quản trị và ban điều hành tác nghiệp đã có nhiều cố gắng trong xây dựng chính
sách và cơ chế nghiệp vụ sao cho phù hợp với thực tiễn. Phương châm là dành sự thuận lợi nhất
cho người nghèo để họ có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi, mặt khác lại phải đảm bảo
quản lý chặt chẽ nguồn vốn tránh thất thoát và bảo đảm bù đắp các chi phí hoạt động khơng
được lỗ theo u cầu của Chính phủ. Hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long
An đã thực hiện được yêu cầu này, nguồn vốn, dư nợ tăng nhanh đáp ứng được nhu cầu vốn
của các hộ nghèo, các vùng miền trong cả nước, về tài chính ngồi việc cấp bù cho việc huy
động vốn với lãi suất thị trường để cho vay ưu đãi theo quyết định của Chính phủ và bù đắp số
nợ của người vay bị rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, bão lụt theo quy định,
các khoản chi phí hoạt động khác Ngân hàng Chính sách Xã hội đã thực hiện tự bù đắp được
theo u cầu của Chính phủ khơng bị lỗ.
Hàng năm, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An đều tổ chức tập huấn nghiệp vụ tín
dụng cho cán bộ nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ mỗi cá nhân góp phần giảm thiểu rủi ro tín
dụng.
Sở dĩ đạt được những kết quả trên do Ngân hàng Chính sách Xã hội đã không ngừng thực
hiện việc đổi mới chính sách, cơ chế nghiệp vụ cho phù hợp thực tế phát triển của từng thời kỳ.
4. Định hướng và giải pháp thực hiện tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An
4.1 Mục tiêu chung
Căn cứ vào chiến lược phát triển Ngân hàng Chính sách Xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 852/QĐ-TTg ngày 10/7/2012; căn cứ

40



TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Số 24 – Tháng 7/2020

vào tình hình thực tế của địa phương, đơn vị, chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long
An đề ra định hướng hoạt động tới năm 2020 với các nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Mục tiêu tổng quát: phát triển chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội theo hướng ổn định,
bền vững, đủ năng lực để thực hiện tốt tín dụng chính sách xã hội của Nhà nước gắn liền với
việc phát triển các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ có hiệu quả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối
tượng chính sách, 100% người nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu và đủ điều
kiện đều được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ do Ngân hàng Chính sách Xã hội cung cấp.
Dư nợ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 10%. Góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của
tỉnh từ 1 - 1,5%/năm, đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 1%. Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 0,5% trên
tổng dư nợ; Thực hiện tốt chủ trương đơn giản hóa thủ tục và tiêu chuẩn hóa quy trình nghiệp
vụ theo quy định của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam.
4.2 Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Long An
Trên cơ sở định hướng cho phát triển tín dụng ưu đãi và sử dụng vốn ưu đãi trong xố đói
giảm nghèo. Các định hướng này cần phải được quán triệt đầy đủ, linh hoạt vào điều kiện cụ
thể từng địa phương. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Long An cũng như
mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước. Căn
cứ vào kết quả phân tích ảnh hưởng nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến giảm tỷ lệ nghèo tỉnh Long
An như đã trình bày, để cơng tác giảm nghèo một cách bền vững, góp phần xây dựng nông thôn
mới, cần thực hiện một số giải pháp như sau:
Một là, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, đồn thể, chính quyền cơ sở là giải pháp phát
huy hiệu quả nguồn vốn.
Hai là, phối hợp các tổ chức chính trị xã hội nhận ủy thác củng cố và nâng cao chất lượng
tín dụng theo các giải pháp.
Ba là, cải tiến hồ sơ thủ tục cho vay vốn.
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội

tỉnh Long An.
Năm là, tăng cường cơng tác kiểm tra kiểm tốn nội bộ.
4.3 Kiến nghị
4.3.1 Đối với Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam:
Kịp thời tuyển dụng và bổ sung cán bộ nghiệp vụ cho chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã
hội tỉnh Long An đủ số lượng theo biên chế được giao.
Nên tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn nghiệp vụ cho các bộ lãnh đạo và cán bộ nghiệp
vụ tại các chi nhánh và các phòng giao dịch cấp huyện. Quan tâm xây dựng chính sách, chương
trình đào tạo nghiệp vụ đối với nhân viên mới, cập nhật kiến thức thường xun với nhân viên
cũ, có chính sách đãi ngộ và khen thưởng hợp lý.
Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
4.3.2 Kiến nghị với cấp ủy, Uỷ ban nhân dân các cấp:
Căn cứ vào Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội.
Phải quán triệt tinh thần cho lãnh đạo, cán bộ viên chức, các cấp các ngành và tồn xã hội,
xem tín dụng chính sách xã hội là giải pháp để thực hiện mục tiêu giảm nghèo một cách cơ bản
và bền vững.

41


TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Số 24 – Tháng 7/2020

Các cấp ủy đảng, chính quyền cần phải xác định nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt
động tín dụng chính sách xã hội là một nhiệm vụ quan trọng phải đưa vào các chương trình, chỉ
tiêu thi đua và kế hoạch hoạt động thường xuyên của các cấp ủy, địa phương, đơn vị.
Chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo và củng cố, nâng cao vai trò của Ban giảm nghèo
và các tổ chức chính trị xã hội nhận ủy thác, thành lập các tổ tiết kiệm và vay vốn giúp hộ nghèo

và các đối tượng chính sách khác tiếp cận tốt nhất nguồn vốn tín dụng chính sách.
Nhà nước ln có một chính sách tạo điều kiện cho ngành nơng nghiệp phát triển, có như
vậy mới tạo cơ sở cho vốn tín dụng bền vững.
4.3.3 Đối với các tổ chức chính trị xã hội nhận uỷ thác:
Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị xã hội các cấp đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về tín dụng chính sách xã hội đến
các tầng lớp nhân dân, nhất là người nghèo và các đối tượng chính sách khác; nâng cao hiệu
quả giám sát của của các cấp các ngành và nhân dân đối với công tác này nhằm đảm bảo công
khai, dân chủ và thực hiện có hiệu quả tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn; phối hợp chặt
chẽ với Ngân hàng Chính sách Xã hội và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các giải
pháp củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách xã hội.
5. Kết luận:
Xét trên cả phương diện lý luận và thực tiển, công tác hạn chế rủi ro tín dụng đóng vai trị
quan trọng; hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An là việc làm
cấp bách, cần thiết. Việc nghiên cứu các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính
sách Xã hội là việc làm có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính
sách Xã hội, nội dung nghiên cứu đã tập trung và hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra là:
Thứ nhất, về thực trạng tín dụng và rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh
Long An giai đoạn 2012 - 2016.
Thứ hai, về công tác hạn chế rủi ro tín dụng, Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An
đã thực hiện quy trình cho vay cấp tín dụng theo đúng quy định của Ngân hàng Chính sách Xã
hội.
Thứ ba, từ phân tích thực trạng đề tài đã đề ra được những giải pháp, những kiến nghị có
tính khả thi nhằm khơng ngừng hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội.
Thứ tư, khái quát và đánh giá các chính sách tín dụng của một số Ngân hàng nước ngồi
để từ đó rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn Việt Nam.
Với những hiểu biết của bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn, chắc chắn cịn nhiều
thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, những nội dung thể hiện trong bài viết chắc chắn còn phải bổ sung
nên tác giả rất mong muốn nhận được nhiều sự đóng góp quý báu của ban lãnh đạo chi nhánh

Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Long An, các thầy cơ giáo để tiếp tục hồn thiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Tài liệu tham khảo
[1]. Dương Quyết Thắng (2015), Tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách Xã hội với
mục tiêu giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 160.
[2]. Dương Quyết Thắng (2015), Hồn thiện mơ hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân
hàng Chính sách Xã hội Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp ngành.

42


TẠP CHÍ KINH TẾ - CƠNG NGHIỆP

Số 24 – Tháng 7/2020

[3]. Ngân hàng Thế giới (2012), Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam “Khởi đầu tốt, nhưng chưa
phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức
mới”.
[4]. Nguyễn Thị Hoa (2009), Hoàn thiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đến
2015, Luận án Tiến sỹ.
[5]. Nguyễn Hồ (2017), Hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh
Đồng Tháp, Luận văn Thạc sỹ.
[6]. Ngân hàng Chính sách xã hội (2012), Đánh giá ảnh hưởng của chương trình cho vay hộ
nghèo đến sản xuất và đời sống của người dân nông thôn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Ngành.
[7]. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, Về việc ban hành chuẩn
nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
[8]. Trần Lan Phương (2016), Hồn thiện cơng tác quản lý tín dụng chính sách của Ngân hàng
Chính sách xã hội, Luận án Tiến sỹ.

[9]. Trịnh Hồ Hạ Nghi, Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, Bill Tod (2003), Đánh giá nghèo có sự tham
gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày nhận: 02/01/2018
Ngày duyệt đăng: 07/07/2020

43



×