TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
---
---
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MƠN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: LÝ GIẢI TÍNH TẤT YẾU CỦA Q TRÌNH
TIẾN THẲNG LÊN CNXH BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ
BẢN CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT HIỆN NAY ĐỂ THÚC ĐẨY
QUÁ TRÌNH NÀY
GVHD: TS. Trần Nguyên Ký
Sinh viên: Nguyễn Huy
Lớp: Tài chính Khóa 31.1 – LHP: 21D1PHI41461000414
MSSV: 211111049
Email:
SĐT: 0968 922 744
TP Hồ Chí Minh, Tháng 10/2021
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
________________________________________________________________
Lời mở đầu
Trước khi C.Mác đưa ra học thuyết về hình thái kinh tế xã hội thì về chủ
nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội, cho rằng lịch sử phát
triển khơng có quy luật mà chỉ theo chiều hướng ngẫu nhiên, khơng đốn định,
hoặc lịch sử phát triển phụ thuộc vào ý muốn, ý thích chủ quan của con người.
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội sinh ra đã phản bác luận điểm trên và nói
rằng lịch sử-xã hội của con người là q trình lịch sử có quy luật cũng giống
như những quy luật tự nhiên. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là
một quá trình lịch sử - tự nhiên, diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không
phải theo ý muốn chủ quan. Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải
đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của xã hội.
1.
Lý luận về vấn đề kết hợp biện chứng giữa các mặt đối
lập. 1.1.Khái niệm và kết cấu của hình thái kinh tế - xã
hội.
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản
xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng
sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng nên những
quan hệ sản xuất ấy.
Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp,
trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua
lại lẫn nhau, thống nhất với nhau. Cấu trúc cơ bản của hình thái kinh tế
- xã
hội bao gồm các thành phần chính là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng. Bản thân lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có quan
hệ chặt chẽ với nhau để tạo nên đặc trưng kinh tế trong một hình thái kinh tế - xã
hội. Đến lượt nó, đặc trưng kinh tế trong hình thái kinh tế - xã hội cụ thể trở
thành nền tảng kinh tế cho sự hình thành, tồn tại và biến đổi của mảng đặc trưng
xã hội (kiến trúc thượng tầng) của hình thái này.
1
1.2. Tính lịch sử - tự nhiên của q trình phát triển hình thái kinh tế xã hội.
Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là
quá trình biến đổi, phát triển xã hội tuân theo các quy luật xã hội khách quan,
dưới sự tác động của nhân tố chủ quan, trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Một là, sự vận động, phát triển xã hội không tuân theo ý muốn, ý chí chủ
quan của con người mà theo các quy luật xã hội khách quan, mà trước hết là các
quy luật: Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng,...
Hai là, sự vận động phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là kết quả của
sự tác động biện chứng giữa nhân tố chủ quan con người và nhân tố khách quan
(điều kiện khách quan, quy luật khách quan của xã hội), trong đó nhân tố khách
quan là chủ đạo. Sự tác động của con người chỉ có ý nghĩa ảnh hưởng, chi phối.
Như vậy, “tính lịch sử - tự nhiên” trong sự phát triển xã hội được hiểu là q
trình lịch sử nhưng mang tính tự nhiên (tính khách quan), là sự tiếp tục lịch sử
của giới tự nhiên, khơng phụ thuộc ý muốn, ý chí con người.
Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội không chỉ bị
quy định bởi các quy luật xã hội khách quan mà còn chịu sự tác động bởi các
nhân tố khác như: điều kiện về tự nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hóa,
về điều kiện quốc tế,...
Vì vậy, lịch sự phát triển của mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng tạo nên
tính phong phú, đa dạng trong sự phát triển của cả nhân loại, biểu hiện ở các
phương thức phát triển cụ thể khác nhau giữa các dân tộc như phương thức phát
triển rút ngắn, phương thức phát triển tuần tự. Có những dân tộc lần lượt trải qua
các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, nhưng cũng có những dân tộc bỏ
qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó.
2.
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vào thực tiễn của
Việt Nam.
2.1. Tính tất yếu của q trình tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua
2
chế độ Tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát
triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua
việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản
chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được
dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Xác định con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là hoàn toàn
phù hợp với quy luật chung đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời
đại ngày nay, phù hợp với điều kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam. Đồng thời,
đó là một tất yếu khách quan, được thể hiện ở cả phương diện lý luận và phương
diện thực tiễn.
Về lý luận, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa là một kiểu quá độ gián tiếp. Như ở trên ta đã thảo luận, lịch sử xã hội vừa
phát triển theo con đường tuần tự từ thấp đến cao, vừa phát triển theo con đường
nhảy vọt, bỏ qua một vài hình thái kinh tế xã hội nào đó. Khi theo dõi tình hình
nước Nga, C.Mác cho rằng sự tồn tại đồng thời của nền kinh tế phương Tây
đang thống trị trên thị trường thế giới, cho phép nước Nga có thể áp dụng những
thành tựu mà chế độ tư bản đã đạt được mà không phải trải qua chủ nghĩa tư
bản. Đồng thời, Ph.Ăng ghen đã đề cập đến một điều kiện tiên quyết cho khả
năng tiến lên chủ nghĩa xã hội của các nước lạc hậu như nước Nga lúc bấy giờ.
Điều kiện đó chính là sự thắng lợi của giai cấp vô sản ở các nước phương Tây, là
một thuận lợi có thể tránh được những đau khổ mà các nước phương Tây đã trải
qua.
Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đặc biệt là từ sau cách mạng tháng Mười
Nga, kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định
tính tất yếu quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản
chủ nghĩa ở các nước tiền tư bản chủ nghĩa hoặc thuộc địa và phụ thuộc. Với quan
điểm đó, Đảng ta đã vận dụng đúng đắn trong việc xác định
3
và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở
Việt Nam. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở
nước ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm. Trong Chính
cương vắn tắt, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: Chủ trương làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
Về mặt thực tiễn, trước khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước đã có nhiều
sĩ phu u nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cũng đã tìm đường cứu
nước. Tuy nhiên, chưa có ai tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, do con đường
mà họ lựa chọn không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử Việt
Nam. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa” của Lênin, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin thì con đường giải
phóng dân tộc mới đem lại kết quả – giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bất cơng.
Vì vậy, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, lựa chọn con đường phát triển bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là tất yếu và phù hợp. Chủ nghĩa tư bản tuy
đã có nhiều điều chỉnh về mặt lợi ích, giải quyết có hiệu quả về phát triển kinh
tế cũng như một số vấn đề xã hội. Tuy nhiên, bản chất của chế độ áp bức, bóc lột
thì khơng thay đổi, khoảng cách giàu nghèo, phân biệt màu da, chủng tộc chưa
được khắc phục; nhiều tệ nạn xã hội chưa được giải quyết; khủng bố, gây chiến
tranh vẫn là vấn đề nóng bỏng. Do vậy, chủ nghĩa tư bản không phải là một xã
hội mà tương lai của loài người muốn đạt tới.
Ngoài ra, điều kiện cần thiết cho phép chúng ta lựa chọn con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đó là: Sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã được thử thách, được khẳng định trong công cuộc cứu
quốc và kiến quốc, và trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu cho quá trình tiếp
tục đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta. Qua một
thời gian dài thách thức, Đảng ta đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế –
xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập
trung bình, đang đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Từ đó, khẳng định rằng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
4
nghĩa ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn.
2.2. Những vấn đề cần giải quyết hiện nay để thúc đẩy quá trình tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là
một cơng việc khó khăn phức tạp do đất nước ta còn yếu kém, nhiều tàn dư của
chế độ xã hội cũ và chiến tranh để lại, do đó cần phải có thời gian dài để cải tạo
xã hội, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho chủ nghĩa xã hội.
Để có thể đẩy nhanh thời kỳ quá độ, rút ngắn thời gian tiến lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cần phải phát triển nhanh, mạnh lực
lượng sản xuất, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,
không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội, cải thiện đời sống cá nhân.
Ngoài ra xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo. Kinh tế hợp tác xã
bao gồm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,... Kinh
tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hịa bình,
hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, đoàn kết với các phong trào đấu tranh vì
hịa bình, độc lập của dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh về chính trị, bồi dưỡng cơng tác
chính trị, tư tưởng các cán bộ. Đảm bảo công tác giữ an ninh trật tự xã hội, bảo
đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở nước
ta.
Kết luận
Tóm lại, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là con đường tất
yếu, phù hợp với quy luật xã hội khách quan và xu thế lịch sử cũng như điều
kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Tuy cịn nhiều khó khăn, thử thách nhưng là
con đường được Đảng ta lựa chọn trên cơ sở nhận thức và vận dụng chủ nghĩa
Mác-Lênin nói chung, học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội nói riêng, cũng
như xem xét hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam và thế giới.
5
6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Tài liệu “Tài liệu học tập Triết Học” - tiểu ban Triết Học trường Đại học
Kinh Tế TP Hồ Chí Minh.
-
Bài viết “Tính tất yếu bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam” - tác giả CN. Nông Thị Thanh Hưởng (Trường chính trị
tỉnh Bắc Kạn).
-
Tài liệu “Vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam” - tác giả Phạm Hoài Trung (trên diễn đàn Thế Giới Luật)
7