TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠNG NGHỆ THỦ ĐỨC
KHOA TÀI CHÍNH - KẾ TỐN
NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MƠN NGHIỆP VỤ TRUNG ƯƠNG
Đề tài:
NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
TP. Hồ Chí Minh, năm 2020.
1
M ỤC LỤC
Danh mục viết tắt………………………………………………………………………..3
Lời mở đầu………………………………………………………………………............4
PHẦN 1: Cơ sở lý luận về nghiệp vụ tín dụng ngân hàng................................................6
I.
II.
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
1. Cho vay tái cấp vốn.
2. Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác.
2.1.Chiết khấu và tái chiết khấu.
2.2 Đối tượng và điều kiện chiết khấu.
2.2.1 Đối tượng
2.2.2. Điều kiện
2.3 Hình thức chiết khấu.
II.4 Quy trình chiết khấu.
3. Cho vay thanh tốn.
3.1 Cho vay thanh tốn thường xun.
3.2 Cho vay khơi phục năng lực chi trả
PHẦN 2. THỰC TRẠNG…………………………………………………………11
PHẦN 3: GIẢI PHÁP……………………………………………………………..15
PHẦN 4: KẾT LUẬN…………………………………….…………...…………..17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng nhà nước.
NHTW: Ngân hàng Trung Ương.
NHTM: Ngân hàng Thương mại.
TCTD: Tổ chức tín dụng
GTCG: Giấy tờ có giá.
3
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động không thể thiếu cho nền kinh tế của một đất
nước và có sự ảnh hưởng to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống con người. Bản thân
hoạt động này luôn tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt đối với các Tổ chức tín dụng, Nhà nước
ln có những chính sách ưu đãi và đảm bảo cho các loại hình này được giảm thiểu rủi ro
và cân bằng vốn lưu động trong ngày, nâng cao khả năng thanh toán. Hiện pháp luật Ngân
hàng Việt Nam qui định không chỉ riêng Ngân hàng Nhà nước mà các tổ chức tín dụng
cũng được phép thực hiện các hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay. Hiện nay vai
trị của hoạt động này ngày càng được thể hiện rõ nét. Bản thân nghiệp vụ chiết khấu giấy
tờ có giá là một nghiệp vụ có qui trình đơn giản nhanh chóng và tốn ít chi phí giao dịch
cho các bên, đồng thời nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá là một hoạt động hạn chế rủi ro
cho các tổ chức pháp nhân thực hiện các hoạt động ngân hàng, hoạt động này khơng
những khơng làm đóng băng vốn của các ngân hàng mà cịn giúp các ngân hàng sử dụng
có hiệu quả và linh hoạt hơn nguồn vốn của mình. Hơn nữa sự cung ứng vồn trong hoạt
động chiết khấu sẽ tạo ra nguồn tiền gửi- một nguồn vốn mới cho khách hàng để cho vay,
đây chính là lí do mà các ngân hàng hoặc các tổ chức có hoạt động ngân hàng rất chú
trọng thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá hơn các kỹ thuật tín dụng khác. Đồng
thời đối với bên được chiết khấu cũng nhận được những lợi ích rõ ràng khi tham gia vào
hoạt động này. Quyền lợi mà bên nhận chiết khấu có thể nhận được từ hoạt động này đó
là họ có thể sư dụng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá như một hình thức lưu hoạt hóa
nguồn vốn kinh doanh của mình, chiết khấu sẽ giúp họ có thể biến những khoản nợ trên
giấy tờ thành tiền trước thời hạn thanh toán, giúp họ giải quyết kịp thời nhu cầu vốn, đồng
thời bên nhận chiết khấu không bị ràng buộc bởi mục đích sử dụng số tiền chiết khấu như
những hoạt động tín dụng khác. Như vậy hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá khơng
những mang lại cho cả các bên tham gia chiết khấu những lợi ích khơng thể phủ nhận
được. Cịn hoạt động cho vay là một phần của hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Hoạt
động này ra đời từ buổi đầu của Ngân hàng và đã trở thành một trong hai nhiệm vụ cơ bản
của Ngân hàng. Đây cũng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng bởi vì chỉ có
4
lãi cho vay mới bù đắp lại các chi phí phát sinh của Ngân hàng như chi phí trung gian, chi
phí quản lý, chi phí dự trữ... thực tế trong quá trình phát triển của Ngân hàng cho thấy lợi
nhuận từ các khoản cho vay chiếm phần lớn thu nhập của Ngân hàng, lượng tiền gửi tăng
lên đáng kể, các hình thức cho vay cũng phong phú.
Cho vay là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại. Khi định nghĩa về hoạt động
cho vay, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nói tóm lại, có thể định nghĩa hoạt động
cho vay của Ngân hàng là hoạt động cung ứng tiền cho tất cả các khách hàng có nhu cầu
về tiền để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng. Hoạt động cho vay là
một trong những hoạt động lớn của Ngân hàng doanh thu từ hoạt động này thường chiếm
70% doanh thu, ở các nước phát triển, hay đến 90% doanh thu của Ngân hàng, ở các nước
đang phát triển. Hiện nay 80% doanh thu của các Ngân hàng thương mại là từ hoạt động
tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn. Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay,
mà các đơn vị kinh tế có thể vay của Ngân hàng để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, lợi nhuận thu được không những doanh nghiệp đủ tiền trả cho Ngân hàng mà cịn
có tiền gửi vào Ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.
Mặt khác khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ
của Ngân hàng cũng phát triển.
Việc nghiên cứu tìm hiểu nghiệp vụ tín dụng này của Ngân hàng trung ương sẽ đi sâu vào
những thực trạng, những mặt được và cần khắc phục để tăng cường hơn nữa phạm vi,
hiệu quả điều tiết của Ngân hàng trung ương, đáp ứng yêu cầu địi hỏi thực tiễn và phù
hợp thơng lệ, nhằm xây dựng một thị trường kinh tế lành mạnh, hiệu quả và mở ra một
vận hội lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước khi bước vào thế kỉ 21.
5
PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
2. NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG.
1. Cho vay tái cấp vốn.
2. Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác.
2.1.Chiết khấu và tái chiết khấu.
Chiết khấu là việc NHTW chiết khấu lần đầu các hối phiếu.
Tái chiết khấu là việc NHTW chiết khấu lại các chứng từ giá mà các NHTW đã
chiết khấu nhưng chưa đến hạn thanh toán bằng cách trả tiền ngay cho các NHTM
sau khi đã khấu trừ tiền lãi, tiền hoa hồng.
Chiết khấu là nghiệp vụ của NHTW nhằm tái cấp vốn cho các NHTM bằng hình thức
chiết khấu chứng từ có giá theo yêu cầu của các NHTM.
Giá mà NHTW mua lại chứng từ này bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị chứng từ đó phụ
thuộc vào: thời hạn, lãi suất, hoa hồng, chi phí khác.
Chiết khấu là hình thức cho vay gián tiếp đảm bảo bằng chứng từ có giá .
Được NHTW sử dụng phổ biến.
2.2 Đối tượng và điều kiện chiết khấu.
2.2.1 Đối tượng:
NHTW nhận chiết khấu các loại chứng từ có giá sau đây:
Tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTM được phát hành thông qua đấu thầu.
Hối phiếu, hối phiếu phải được khấu trừ lần đầu.
Các chứng từ có giá ngắn hạn khác.
2.2.2. Điều kiện:
Đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ.
Đảm bảo khả năng thanh toán khi đáo hạn..
6
Đảm bảo khả năng chuyển nhượng.
Thời gian hiệu lực còn lại không vượt quá thời hạn tối đa do NHTW quy định.
Thông thường NHTW quy định thời hạn đối đa là 3 tháng (90 ngày).
2.3 Hình thức chiết khấu.
Chiết khấu tồn bộ thời hạn cịn lại của giấy tờ có giá:
Là hình thức NHTW mua hẳn giấy tờ có giá của các ngân hàng theo giá chiết
khấu.
Đặc điểm:
Các ngân hàng khơng phải hồn lại vốn cho NHTW, NHTW thu hồi vốn bằng
cách yêu cầu người trả tiền thực hiện nghĩa vụ thanh tốn.
NHTW khơng cần kiểm sốt q trình sử dụng vốn của các ngân hàng.
Chiết khấu có kỳ hạn:
Là hình thức NHTW mua giấy tờ có giá của các ngân hàng nhưng kèm theo
yêu cầu các ngân hàng đó phải cam kết mua lại tồn bộ giấy tờ có giá đã bán sau
một thời gian nhất định.
Đặc điểm:
Hết thời hạn chiết khấu, các ngân hàng phải thanh toán mua lại giấy tờ có giá
cho NHTW và nhận lại giấy tờ có giá.
NHTW kiểm sốt q trình sử dụng vốn của ngân hàng.
2.4 Quy trình chiết khấu.
NHTW chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hang tại Sở giao dịch của NHTW.
7
1) Ngân hàng xin chiết khấu gửi giấy đề nghị chiết khấu cho NHTW vào trước 15h các ngày
giao dịch.
2) NHTW xem xét và ra quyết định dựa trên giấy đề nghị chiết khấu và hạn mức chiết khấu mà
ngân hàng chưa sử dụng.
3) Thông báo chấp nhận chiết khấu bằng văn bản cho ngân hàng xin chiết khấu.
4) Ngân hàng xin chiết khấu gửi cam kết mua lại giấy tờ có giá cho NHTW trước khi giao giấy
tờ có giá và nhận tiền thanh tốn.
5) Thơng báo khơng chấp nhận chiết khấu bằng văn bản cho ngân hàng xin chiết khấu.
6) Ngân hàng xin chiết khấu giao nộp giấy tờ có giá cho NHTW và nhận tiền thanh tốn.
7) Yêu cầu người trả thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
8) Ngân hàng thanh tốn tiền mua lại giấy tờ có giá cho NHTW và nhận lại giấy tờ có giá theo
cam kết.
Chú ý: Trường hợp chiết khấu có kỳ hạn, sau 1 ngày kể từ ngày hết thời hạn chiết khấu, NHTW
thực hiện tích tiền từ tài khoản tiền gửi của ngân hàng được chiết khấu tại NHTW để thanh toán.
3. Cho vay thanh toán.
Cho vay thanh toán của NHTW Việt Nam nhằm giúp các NHTM, các tổ chức tài chính
khác khơi phục lại năng lực thanh tốn. Cho vay thanh tốn khơng phải là hình thức tiếp
vốn cho các NHTM nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng, mà chỉ nhằm khơi phục khả năng chi
trả. Cho vay thanh tốn được thực hiện với các hình thức sau:
3.1. Cho vay thanh toán thường xuyên.
Căn cứ vào pháp lý: Quyết định số 04/2007/QĐ- NHNN về việc thấu chi và cho vay qua
đêm áp dụng trong thanh toán điện tử liên NH.
Khái niệm:
8
Thấu chi trong thanh toán điện tử liên NH là việc các NH được chi vượt số dư có trên tài
khoản tiền gửi thanh tốn của mình mở tại Sở giao dịch – NHNN Việt Nam trong ngày
thanh toán.
Cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên NH là việc NHNN cho các NH vay có bảo
đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá trong khoảng thời gian tính từ cuối ngày làm việc hơm
trước đến 8 giờ 30 phút ngày làm việc liền kề tiếp theo.
Mục đích:
Các NH được thấu chi để bù đắp thiếu hụt vôn thanh toán tạm thời trong ngày trong thanh
toán điện tử liên NH.
Các NH được NHNN cho vay qua đêm để tất toán khoản thấu chi tại thời điểm cuối ngày
làm việc.
Quy trình thấu chi và cho vay qua đêm.
Quy trình thấu chi:
Khi NH thiếu vốn trong tài khoản tiền gửi thanh tốn mà khơng thể bổ sung vốn từ
nguồn vốn của chính NH hoặc thơng qua các giao dịch trên tiền tệ, thì hệ thống thanh tốn
điện tử liên NH tự động tang số tiền tối đa bằng mức quy định tại điều 6 Quyết định này
trong tài khoản tiền gửi thanh toán của NH để thực hiện lệnh thanh toán. Khi vốn trong tiền
gửi thanh toán của NH được bổ sung, thì hệ thống thanh tốn tự động trích trả khoản thấu
chi (bao gồm cả nợ gốc và lãi).
Quy trình cho vay qua đêm:
Đến cuối ngày làm việc, số dư tài khoản tiền gửi thanh tốn khơng đủ để tất tốn
khoản thấu chi, thì hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tự động chuyển khoản thấu
chi chưa được tất toán sang tài khoản cho vay qua đêm và ngân hàng phải chịu lãi vay qua
đêm.
9
Sang ngày làm việc liền kề tiếp theo, ngân hàng thực hiện trả nợ gốc và lãi khoản cho
vay qua đêm cho Sở Giao dịch - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trường hợp ngân hàng
chưa trả hết nợ qua đêm còn lại được chuyển thành khoản thấu chi của ngày làm việc đó.
Sở Giao dịch - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn cụ thể quy trình và thủ tục
thấu chi và cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng.
Xử lý trường hợp ngân hàng không trả được cho vay qua đêm. Trường hợp ngân hàng
không trả được nợ vay qua đêm sau 2 ngày liên tiếp kể từ ngày khoản cho vay qua đêm
phát sinh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo yêu cầu Ngân hàng trả nợ. Nếu sau 2
ngày kể từ ngày thông báo mà ngân hàng vẫn không trả hết nợ vay qua đêm, thì Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam xử lý tài sản cầm cố để thu nợ vay qua đêm và xem xét, quyết
định xóa tên ngân hàng đó khỏi hệ thống thanh tốn điện tử liên ngân hàng.
3.2.
Cho vay khôi phục năng lực chi trả
Khi NHTM mất khả năng chi trả thật sự, tức là khi dự trữ sơ cấp tại các ngân hàng
thương mại được sử dụng hết thì các ngân hàng thương mại đó bắt buộc phải thực hiện
biện pháp để thiết lập cân bằng cung cấp thanh khoản. Các NHTM và tổ chức tín dụng
thường xun duy trì khả năng chi trả theo quy định của NHTW.
Khả năng chi trả = Tổng tài sản “Có” rủi ro có thể thanh tốn ngay/Tổng tài sản “Nợ”
phải thanh toán ngay.
Khi NHTM bị mất khả năng chi trả ở mức độ “có khả năng” thì ngân hàng đó cần có
biện pháp để duy trì khả năng chi trả trong thời gian tới, nhưng nếu khả năng chi trả thực
sự xuống quá giới hạn và đã mất khả năng chi trả thực sự (dự trữ sơ cấp đã sử dụng hết)
thì NHTM phải thực hiện các biện pháp để cân bằng khả năng cung cấp thanh khoản. Các
biện pháp bao gồm:
+ Bán dự trữ thứ cấp;
+ Vay NHTM (qua đêm) hoặc vay tái chiết khấu. Khi NHTM bị mất khả năng chi trả
như vậy, NHTW sẽ cho vay để khôi phục khả năng chi trả và ổn định hệ thống NHTM.
10
Ngoài ra, những trường hợp bị mất khả năng chi trả đột biến (tin đồn thất thiệt) làm cho
tình trạng thiếu hụt thanh tốn trầm trọng xảy ra thì NHTW cho vay. Đây gọi là cho vay
đặc biệt, khoản cho vay này còn áp dụng cho NHTM mất khả năng thanh toán thường
xuyên và trầm trọng.
PHẦN 2. THỰC TRẠNG.
Hiện nay, ở Việt Nam nguồn vốn huy động được sử dụng để cấp tín dụng bao gồm: tiền
gửi của cá nhân dưới hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn; tiền gửi có kỳ
hạn của tổ chức (trừ Kho bạc Nhà nước), bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín
dụng (TCTD) khác và chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tiền vay của tổ chức trong nước
(trừ Kho bạc, tiền vay của TCTD khác trong nước) và tiền vay của TCTD nước ngoài;
vốn huy động từ tổ chức, cá nhân dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá. Nhưng theo
Luật các TCTD năm 2010, Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các
TCTD, nguồn vốn huy động để sử dụng cấp tín dụng khơng bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn
của Kho bạc, tiền vay của Kho bạc và các TCTD trong nước. Quy định không được sử
dụng các nguồn vốn huy động của các đối tượng nói trên để cấp tín dụng là bất hợp lý vì
theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), nguồn vốn huy động của các đối tượng trên
chiếm từ 15% - 20% trong tổng số vốn huy động của các TCTD và đây là nguồn vốn có
tính ổn định cao. NHTM chỉ được cấp tín dụng trên nguồn vốn huy động bằng 80%, còn
lại 20% nguồn vốn huy động và 15% nguồn vốn huy động từ Kho bạc và TCTD trong
nước dùng để đảm bảo khả năng thanh tốn của ngân hàng là q cao và khơng hợp lý
theo ý kiến của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam gửi lên Thủ tướng Chính phủ
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2002, tổng số nợ xấu của các
NHTM và TCTD là hơn 20.000 tỷ đồng, chiếm 7,2% tổng dư nợ. Đến năm 2004, tổng nợ
xấu giảm xuống còn trên 13.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ dưới 4%, thấp hơn tỷ lệ an toàn cho
phép theo thông lệ quốc tế là 5%. Đến hết năm 2005, tổng tỷ lệ nợ xấu lại tăng lên con số
17.500 tỷ đồng, nhưng lại chỉ chiếm 3,18% tổng dư nợ, riêng khối NHTM nhà nước thì tỷ
lệ này trên 5%. Đến tháng 9/2006, thực trạng nợ quá hạn của các NHTM và TCTD là bao
nhiêu, chưa có con số cơng bố từ Ngân hàng Nhà nước, nhưng nhiều chuyên gia ngân
11
hàng cho rằng, con số tuyệt đối là hơn 20.000 tỷ đồng, tỷ lệ này không biến đổi nhiều, vẫn
dưới mức 5% do tổng dư nợ cho vay và đầu tư cũng tăng nhanh, nhưng không phải là
đáng quan tâm. Song, một số chuyên gia của một số tổ chức tiền tệ quốc tế và chuyên gia
NHTM trong nước cho rằng, tỷ lệ nợ xấu của NHTM thực tế luôn cao gấp khoảng hai lần
số liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố hiện nay đang ở mức 7- 8%, riêng các ngân
hàng.
Năm 2010, Ngân hàng Nhà nước thông tin, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng Việt
Nam tính đến cuối năm 2010 vào khoảng 2,5%. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng
cho biết, toàn bộ dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với Tập đồn Cơng nghiệp và Tàu
thủy Việt Nam (Vinshin) chỉ dưới 26 nghìn tỷ đồng và hiện đang cơ cấu lại 16 nghìn tỷ
đồng. Số này chưa đưa vào nợ xấu, và nếu tính vào cũng chỉ tăng 0,7%.
Tính đến tháng 6/2011, Ngân hàng Nhà nước thơng báo nợ xấu tồn hệ thống ngân hàng
hiện chiếm 2,72% tổng dư nợ, tăng 0,55% so với cuối năm 2010. Lãnh đạo Ngân hàng
Nhà nước cho rằng dù nợ xấu đang tăng từ mức 2,17% cuối năm 2010 lên 2,72% vào
10.6, nhưng mức tăng trên không nghiêm trọng. Riêng TP. Hồ Chí Minh, nợ xấu của các
TCTD trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đến hết tháng 4/2011 ở mức 4,2% tổng dư nợ, tăng từ
mức 3,9% của tháng 3/2011, trong đó các cơng ty cho th tài chính có nợ xấu lên đến
26,3%, nợ xấu của khối quốc doanh là 5,6% và cổ phần là 2,9%. Đây là thống kê của chi
nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố được Cục Thống kê công bố lại. Tổng dư nợ đến
cuối tháng 5-2011 của các ngân hàng ở thành phố là 748.900 tỉ đồng, tính ra nợ xấu tới
31.290 tỉ đồng, tương đương gần 1,52 tỉ đô la Mỹ. Với cả nước, con số tuyệt đối nợ xấu sẽ
lớn hơn nhiều.
Hậu quả rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM tác động đến cả nền kinh tế - xã hội
và các ngân hàng. Đối với ngân hàng, khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng khơng thu được
vốn đã cấp và lãi cho vay, ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến
hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khơng thu được nợ thì
vịng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh khơng có hiệu quả. Khi gặp phải
rủi ro tín dụng, ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh tốn, làm mất
lịng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Trong nội bộ ngân hàng,
12
do gặp phải rủi ro tín dụng nên khơng có lương trả cho nhân viên vì thế những người có
năng lực sẽ thun chuyển cơng tác, gây khó khăn cho ngân hàng.
Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Quy định về hoạt động cho vay
của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng) của Ngân hàng
Nhà nước, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời
gian nhất định theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả cả gốc và lãi. Cho vay phục vụ
nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh
tốn các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân
đó.
Hiện nay, cho vay cá nhân là một trong những hình thức rất phổ biến và đang trong giai
đoạn tăng trưởng đỉnh cao. Theo dự báo của McKinsey, đến cuối năm 2020, châu Á sẽ đạt
hơn 900 tỷ USD doanh thu ngân hàng bán lẻ, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14%/năm.
Thị trường ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam sẽ khơng nằm ngồi xu hướng chung của khu
vực và tiềm năng của cho vay cá nhân trong tương lai là rất lớn.
Trong giai đoạn 2014 - 2018, chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần kiểm sốt lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ
trợ tăng trưởng. Cung tiền tăng hợp lý, thanh khoản hệ thống dồi dào, tỷ giá và thị trường
ngoại hối ổn định, dự trự ngoại hối tăng nhanh tạo nền tảng chung thuận lợi cho hệ thống
ngân hàng thương mại (NHTM) tăng trưởng cho vay.
Vietcombank: Trong giai đoạn 2014-2018, Vietcombank đã tăng tỷ trọng cho vay bán lẻ
vào các sản phẩm chuẩn, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh… có lãi suất đầu ra cao; Hạn
chế cho vay cầm cố giấy tờ có giá, cho vay lĩnh vực có mức NIM thấp; Đẩy mạnh tăng
trưởng tín dụng bán lẻ và tín dụng thơng qua phịng giao dịch, đồng thời tăng cường kiểm
sốt chất lượng tín dụng tại phòng giao dịch; Phát triển khách hàng cá nhân, đặc biệt là
phân khúc khách hàng ưu tiên.
13
Cùng với việc cấu trúc lại mơ hình tổ chức, triển khai nhiều dự án chuyển đổi để phát
triển bền vững theo chuẩn mực quốc tế, Vietcombank chuyển dịch hoạt động kinh doanh
tập trung vào trụ cột hoạt động bán lẻ; Triển khai chuyển đổi mơ hình hoạt động bán lẻ:
phân đoạn khách hàng và xây dựng chính sách cho từng phân đoạn khách hàng mục tiêu
từ sản phẩm, marketing, cách thức bán hàng...; Phát triển các kênh bán mới gồm kênh bán
trực tiếp, điện tử, kênh bán hàng qua đối tác thứ ba, nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt
động marketing; Cải tiến quy trình tín dụng dành cho khách hàng bán lẻ và tối đa việc số
hóa các sản phẩm dịch vụ bán lẻ; Rà soát danh mục, đơn giản hóa hồ sơ thủ tục các sản
phẩm tín dụng thể nhân, thẻ. Hướng đi đúng đắn đã dẫn đến kết quả khả quan: Tín dụng
cá nhân tăng 32,7% so với 2017, tỷ trọng tiếp tục tăng lên 36,9% vào cuối năm 2018
(2017: 31,7%).
BIDV: Giai đoạn 2014-2018 là quá trình BIDV chuyển dịch mạnh mẽ theo định hướng
phát triển phân khúc bán lẻ. Theo đó, BIDV khơng ngừng hồn thiện mơ hình tổ chức,
phong cách và chất lượng phục vụ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng. Đến nay,
hoạt động ngân hàng bán lẻ của BIDV phát triển vượt trội, dẫn đầu thị trường về quy mô,
gia tăng tỷ lệ đóng góp trong tổng thu nhập rịng của ngân hàng: Dư nợ bán lẻ tăng trưởng
bình quân giai đoạn 2014-2018 đạt 40%/năm, đến hết năm 2018 chiếm tỷ trọng 31%/tổng
dư nợ (cải thiện đáng kể so với mức 17% của năm 2014).
Vietinbank: Từ năm 2014, phân khúc bán lẻ của Vietinbank phát triển đột phá, thay đổi
toàn diện từ nhận thức, tư duy bán hàng, phục vụ khách hàng, cùng với việc đầu tư bài
bản về hệ thống cơ sở vật chất, đội ngũ nhân sự, liên tục cải tiến và đa dạng hóa sản
phẩm, dịch vụ, mở rộng kênh bán hàng nhằm thúc đẩy bán hàng và phục vụ khách hàng
cá nhân ngày càng tốt hơn. Dư nợ cá nhân tăng trung bình gần 35%/năm trong giai đoạn
2014 – 2018, đạt 247.000 tỷ đồng trong năm 2018; tỷ trọng dư nợ tăng từ 17% lên 29%.
Thu nhập từ bán lẻ tăng trưởng mạnh mẽ và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập toàn
hàng.
VIB: Từ cuối năm 2016, VIB đã đặt trọng tâm chiến lược mong muốn trở thành ngân
hàng bán lẻ quy mô và chất lượng hàng đầu vào năm 2010 với các tiếp cận “Mơ hình vận
14
hàng xuất sắc” trên tất cả các lĩnh vực: Product – xây dựng sản phẩm; Customer – dịch vụ
khách hàng; Sales platform – kênh bán hàng và công cụ bán hàng; Risk – kiểm soát rủi ro;
và System – tự động hóa hệ thống. Kết quả là chỉ trong vịng 2 năm 2017-2018, dư nợ bán
lẻ của VIB đã vượt lên trên dư nợ cho vay của nhiều ngân hàng tư nhân lớn khác vốn vẫn
còn tập trung phần lớn ở phân khúc khách hàng doanh nghiệp.
Các số liệu thống kê cho thấy, Agribank hiện vẫn là ngân hàng có dư nợ cho vay cao
nhất hệ thống với dư nợ đạt trên 600.000 tỷ đồng, tiếp đến là BIDV với dư nợ đạt trên
300.000 tỷ đồng, vị trí thứ ba thuộc về Vietinbank và vị trí thứ 4 là sự đeo bám quyết liệt
của Vietcombank, cả hai ngân hàng này có dư nợ cá nhân đều đạt trên 200.000 tỷ đồng.
Đối với khối ngân hàng TMCP thì có VPBank, Sacombank, ACB và SCB dư nợ cá nhân
cũng khá ấn tượng trong năm 2018 đều đạt trên 100.000 tỷ đồng).
Trong vòng 5 năm qua (từ năm 2014 - 2018), các TCTD đã có định hướng rõ ràng hơn
trong việc tập trung đẩy mạnh mảng bán lẻ, đặc biệt là tập trung thị phần trong cho vay cá
nhân.
Việc tập trung phát triển cho vay vẫn là xu hướng chủ đạo của các TCTD trong giai đoạn
từ 2014 đến nay. Khối ngân hàng nhà nước có bước bật rõ rệt trong giai đoạn từ năm 2015
và giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định kể từ năm 2016 đến năm 2018. Khối NHTM cổ
phần cũng giữ được tốc độ tăng trưởng khá.
Tỷ trọng dư nợ cho vay của các TCTD có sự tăng trưởng qua từng năm, từ mức chiếm
35% trong tổng dư nợ cho vay trong năm 2014 đến năm 2018 đã đạt 46%, tăng hơn 11%
trong vòng 5 năm qua. Qua đó có thể thấy, thị trường bán lẻ cho vay cá nhân ngày càng
được các ngân hàng đặc biệt quan tâm.
PHẦN 3: GIẢI PHÁP.
Việt Nam sở hữu dân số trẻ với nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng. Theo Ngân hàng
Thế giới, có 3 triệu người Việt Nam đã tham gia tầng lớp trung lưu toàn cầu trong giai
15
đoạn 2016 – 2018, với hơn 900.000 người di chuyển từ nông thôn ra thành thị sinh sống
mỗi năm. Đây là những động lực kích thích chi tiêu cá nhân tại Việt Nam.
Người Việt Nam chi tiền chủ yếu cho các hàng hóa tiêu dùng như ơtơ, đồ gia dụng, điện
thoại thơng minh, cũng như: các hoạt động giải trí như du lịch. Vì vậy, các NHTM cần tập
trung hơn nữa nguồn lực vào mảng ngân hàng bán lẻ cũng như hoạt động cho vay cá nhân
để phù hợp với xu hướng chính của nền kinh tế. Cụ thể, trong thời gian tới, các NHTM
cần chú trọng một số nội dung sau:
Thứ nhất, cần có các giải pháp làm thay đổi nhu cầu và hành vi của khách hàng: Các
NHTM nên tập hơn nữa trong việc chuyển sang hiểu biết lấy khách hàng làm trung tâm,
tập trung hơn vào việc đồng cảm với khách hàng, hiểu nhu cầu của khách hàng để từ đó
làm cơ sở để cung cấp các giải pháp thiết thực. Theo khảo sát của EY thì sự tin tưởng,
thuận tiện và cá nhân hóa tạo nên nền tảng của mối quan hệ khách hàng ngày hôm nay với
mối quan hệ với ngân hàng của họ. Ở thị trường mới nổi, công nghệ ngân hàng di động
chi phí thấp đang giúp các ngân hàng thu hút lợi nhuận với khách hàng mới.
Thứ hai, phân tích dữ liệu và khoa học quyết định: Hiện nay, các NHTM nắm giữ rất
nhiều dữ liệu về khách hàng và có thể sử dụng nguồn tài nguyên dồi dào này để phân
khúc khách hàng nhằm mục tiêu chăm sóc và phát triển.
Thứ ba, tăng chuyển đổi kỹ thuật số: Các ngân hàng cần tận dụng các công nghệ kỹ
thuật số báo gồm trí tuệ nhân tạo, blockchain, chatbox, ứng dụng di động, để đưa khách
hàng vào trung tâm của chiến lược đổi mới và tạo ra trải nghiệm ngân hàng cá nhân hóa.
Thứ tư, phương tiện truyền thơng thay đổi: Ngân hàng cần sử dụng nhiều hơn các nền
tảng truyền thông xã hội như Facebook Messenger và Wechat để cung cấp dịch vụ ngân
hàng hiệu quả hơn cho khách hàng.
Thứ năm, thực hiện tốt quy trình thực hiện cho vay và kiểm sốt hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân. Theo đó, cán bộ tín dụng phải theo sát quy trình, nhất là khâu thẩm
định. Tuy nhiên, các cán bộ tín dụng cũng cần linh hoạt trong việc áp dụng quy trình này
16
vào từng trường hợp cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, đảm bảo an toàn, sinh
lời cho ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng. Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách
kiểm sốt hoạt động cho vay khách hàng cá nhân để đảm bảo việc chi trả đúng thời hạn
hoặc có biện pháp xử lý kịp thời.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng cần phải có sự hiểu biết
về thị trường, thị hiếu, nhu cầu và khả năng trả nợ của khách hàng hàng vì nó liên quan
trực tiếp đến chất lượng của từng khoản vay và rủi ro nợ xấu của từng ngân hàng. Vì vậy,
các ngân hàng nên có sự chun mơn hố trong cán bộ tín dụng, phân cơng mỗi cán bộ tín
dụng phụ trách một mảng cho vay nhất định được chia theo ngành.
Tóm lại, rủi ro trong hoạt động cho vay của một ngân hàng xảy ra ở một mức độ khác
nhau: nhiều nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận không thu hồi được lãi cho vay, nặng
nhất khi ngân hàng không thu hồi được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân
hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài khơng khắc phục được, ngân hàng sẽ bị
phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói
riêng. Chính vì vậy, các nhà quản lý ngân hàng nên cẩn trọng và tỉnh táo trước khi quyết
định cho vay.
PHẦN 4: KẾT LUẬN.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam, việc cắt giảm các chi phí đầu
vào như chi phí trả lãi, giảm mặt bằng lãi suất huy động vốn theo yêu cầu của NHNN,
tăng chi phí tiền lương một cách hợp lý, tinh giản bộ máy nhân sự, giảm các chi phí khác
như chi phí quản lý và chi phí quảng cáo là hết sức cần thiết. Thứ hai, các NHTM cần
tăng dần quy mô để đạt đến mức hiệu quả quy mô cao hơn tương ứng với các chỉ tiêu phát
triển khác của ngân hàng. Thứ ba, tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực, hiện đại hóa cơng
nghệ ngân hàng, đẩy mạnh ứng dụng cơng nghệ mới, cần có định hướng chuyển từ ứng
dụng công nghệ thông tin theo chiều rộng sang phát triển và ứng dụng theo chiều sâu, đặc
biệt là các thành tựu mới nhất của cách mạng 4.0, kỹ thuật số hiện nay. Thứ tư, nâng cao
chất lượng tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn, chú trọng khả năng trả nợ của khách hàng,
17
đa dạng hóa những hoạt động kinh doanh khác nhau nhằm tận dụng tối đa hiệu quả sử
dụng vốn và nâng cao tính thanh khoản, đây là những việc cần được tiến hành đồng bộ,
hiệu quả.
Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động cho vay của nó đã góp
phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó khơng những cung ứng vốn
cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà cịn có vai
trị quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất
định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai
trị tích cực trong việc thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo
con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động cho vay
trong các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài em đã trình bày một số lý luận cơ bản về hoạt động
cho vay và chiết khấu, cùng với một số vấn đề nổi cộm trong thực tế hoạt động cho vay
trong các NHTM ở Việt Nam, và có đưa ra một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục
hạn chế, nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay của ngân hàng ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn cơ đã hướng dẫn để em hồn thành tiểu luận này. Song do
trình độ và thời gian có hạn nên bài viết chắc chắn khơng tránh khỏi thiếu sót, em rất
mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của cơ và bạn bè để đề tài được hồn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tài liệu tham khảo:
18
Ngân hàng Nhà nước (2016), Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định
về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi đối với
khách hàng;
Quyết định số 04/2007/QĐ- NHNN về việc thấu chi và cho vay qua đêm áp dụng trong
thanh toán điện tử liên NH;
Nguyễn Thị Kim Dung (2018), Tiềm năng của thị trường cho vay tiêu dùng tại Việt Nam,
truy cập từ link: /> /> banking-adopting-aitechnology;
/> /> />
/>
19
20