TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠNG NGHỆ THỦ ĐỨC
KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TỐN
NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN MƠN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Giảng viên:Nguyễn Thị Hữu Hạnh
Sinh viên : Nguyễn Ngọc Phương Thảo
MSSV : 18211TC2089
Lớp : CD18TC1
Đề Tài :NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG
MỤC LỤC
Mục lục
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Về Nghiệp Vụ Tín Dụng Ngân Hàng Trung Ương
I.
Những vấn đề chung
1.Khái niệm về nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trương
2.Mục đích
3.Nguyên tắc cung ứng tín dụng
Chương 2: Thực Trạng Của Nghiệp Vụ Tín Dụng Trung Ương
Chương 3 : Giải Pháp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHNN-Ngân hàng Nhà nước
NHTW- Ngân hàng trung ương
NHTM- Ngân hàng thương mại
TCTD- Tổ chức tín dụng
CNH –HĐH :Cơng nghiệp hóa- Hiện đại hóa
NHTMCP – Ngân hàng thương mại cổ phần
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng trung ương ở bất kì quốc gia nào cũng đều đóng vai trị quan trọng,
là ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng. Đặc điểm nổi bật của ngân
hàng trung ương là nó khơng giao dịch, làm nghiệp vụ trực tiếp với các nhà kinh
doanh và cơng chúng, khách hàng của nó là tất cả các ngân hàng khác. Ngân
hàng trung ương giữ vai trò là ngân hàng của các ngân hàng: bảo quản quỹ dự
trữ tiền tệ tín dụng của Nhà nước, cơ quan phát hành tiền tệ trong nước, thanh
tốn và tín dụng quốc tế với các ngân hàng trung ương các nước khác, là cơ
quan cung cấp tiền cho ngân sách khi cần và làm một số nghiệp vụ của kho bạc
Nhà nước.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển
của thị trường tài chính là một vấn đề rất quan trọng. Nếu trong nền kinh tế hàng
hố, thị trường nói chung là tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh thì trong
nền kinh tế thị trường giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, tiền tệ – vốn
ngày càng trở nên quan trọng. Sự phát triển năng động với tốc độ cao của kinh tế
thị trường đã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to lớn về nguồn tài chính
để đầu tư và tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã
hội. Nói một cách khác thì sự phát triển của kinh tế thị trường làm xuất hiện các
chủ thể cần nguồn tài chính. Chủ thể cần nguồn tài chính trước tiên là các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Nhà nước, các hộ gia đình .v.v.. Kinh tế
càng phát triển thì quan hệ cung cầu nguồn tài chính lại càng tăng, các hoạt động
về phát hành và mua bán lại các giấy tờ có giá cũng phát triển, hình thành một
thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài chính gặp nhau dễ dàng và
thuận lợi hơn, đó là thị trường tài chính.
Là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ được chun mơn hố
đối với các nguồn tài chính được được trao quyền sử dụng ngắn hạn. Tuy nhiên
quyền sử dụng các nguồn tài chính được trao cho chủ thể khác sử dụng trong
thời hạn bao lâu được gọi là ngắn thì cịn phụ thuộc vào mỗi nước. Nhưng thông
thường trên thị trường tiền tệ người ta chuyển giao quyền sử dụng nguồn tài
chính có thời hạn từ một ngày đến một năm. Chính vì tính chất ngắn hạn đó nên
thị trường tiền tệ cung ứng các nguồn tài chính có khả năng thanh tốn cao và
những người tham dự ít bị rủi ro. Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có rất
nhiều chủ thể với những mục đích khác nhau: Chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư,
chủ thể kiểm soát hoạt động của thị trường. Trong đó Ngân hàng trung ương là
chủ thể quan trọng trên thị trường tiền tệ; Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ
cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu
cầu cho nền kinh tế, tương ứng với mục tiêu của chính sách tiền tệ. Ngân hàng
trung ương giám sát hoạt động của các ngân
hàng, điều hành vĩ mô thị trường tiền tệ thông qua các công cụ chủ yếu là nghiệp
vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, kiểm sốt hạn mức
tín dụng, quản lí lãi suất của các ngân hàng thương mại… làm cho chính sách
tiền tệ luôn được thực hiện theo đúng mục tiêu của nó.
Tại tất cả các nước, Ngân hàng trung ương được sử dụng như một công cụ quan
trọng trong điều chỉnh kinh tế của nhà nước vì ngân hàng trung ương nắm trong
tay các mối liên hệ kinh tế quan trọng nhất. Ở Việt Nam, cùng với quá trình
chuyển dịch từ nền kinh tế hàng hoá tập trung bao cấp sang phát triển nền kinh
tế thị trường, trong những năm qua thị trường Việt Nam đã được hình thành và
từng bước hồn thiện theo xu hướng năng động, tích cực phù hợp với xu hướng
phát triển của nền kinh tế thế giới. Mặc dù đến nay quy mô của thị trường này
cịn rất khiêm tốn nhưng nó đã đóng vai trị nhất định trong việc kết nối cung
cầu về vốn ngắn hạn cho các ngân hàng, doanh nghiệp .v.v.. Đặc biệt thị trường
tiền tệ Việt Nam đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong việc
bảo đảm khả năng thanh tốn, an tồn hệ thống cũng như mở rộng hệ thống cho
vay.
Đạt được những kết quả đó, một phần lớn là do vai trò điều tiết tiền tệ của Ngân
hàng trung ương. Những đổi mới trong quá trình điều tiết, kiểm soát tiền tệ trong
, kiểm soát thị trường những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc xây
dựng hệ thống tài chính và phát triển thị trường tiền tệ.
Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện vai trị điều
tiết tiền tệ của ngân hàng trung ương cịn có những hạn chế. Những hạn chế này
ở một chừng mực nhất định sẽ có ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trị kiểm
sốt và điều tiết tiền tệ của Ngân hàng trung ương.
Việc nghiên cứu tìm hiểu vai trị của Ngân hàng trung ương trong việc kiểm
soát thị trường tiền tệ sẽ đi sâu vào những thực trạng, những mặt được và cần
khắc phục để tăng cường hơn nữa phạm vi, hiệu quả điều tiết tiền tệ của Ngân
hàng trung ương, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn và phù hợp thông lệ, nhằm
xây dựng một thị trường tiền tệ lành mạnh, hiệu quả và mở ra một vận hội lớn
cho sự phát triển kinh tế đất nước khi bước vào thế kỷ 21 với chương trình đẩy
mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, tiến tới hoà nhập với kinh tế khu vực và
thế giới. Và em đã chọn bài Ngiệp Vụ Tín Dụng Của Ngân Hàng Trương để làm
đề tài tiểu luận lần này. Bài tiểu luận gồm có 3 phần:
Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Về Nghiệp Vụ Tín Của Ngân Hàng Trung Ương
Chương 2 : Thực Trạng Về Nghiệp Vụ Ngân Hàng Trung Ương
Chương 3: Giải Pháp
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.Khái niệm về nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương
_Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương là việc ngân hàng trung ương
cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cho vay đối với các tổ chức tín
dụng hay kho bạc Nhà nước. Như vậy, hoạt động tín dụng của ngân hàng
trung ương thực chất là thực hiện một trong những kênh cung ứng tiền cho
nền kinh tế. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương được hiểu là hoạt
động cho vay của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên khách hàng đi vay của
ngân hàng trung ương là những khách hàng đặc biệt, đó là các tổ chức tín
dụng hay chính phủ. Nói cách khác ngân hàng trung ương thực hiện chức
năng ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của chính phủ.
_Khi các ngan hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng vay, hoạt động này
đạt hai mục đích là phát hành tiền của ngân hàng trung ương vào lưu thơng
thơng qua các tổ chức tín dụng và điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín
dụng thơng qua điều tiết lượng tiền tệ trong lưu thông.
_Khi ngân hàng trung ương tạm ứng cho các ngân sách Nhà nước theo quyết
định của Thủ tướng chính phủ lúc đó tiền của ngân hàng trung ương được
phát hành vào lưu thơng qua chi tiêu chính phủ tạo điều kiện cho chính phủ
có điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của mình. Như vậy, thơng qua hoạt động
tín dụng ngân hàng trung ương vừa là một kênh phát hành tiền đông thời là
công cụ để tăng cường khả năng điều tiết lượng cung tiền, nâng cao hoạt
động quản lý của ngân hàng trung ương.
2.Mục đích
_Hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương nhằm các mục đích sau:
+ Thứ nhất : hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương nhằm bổ sung
nguồn vốn khả dụng cho các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trong
q trình hoạt động nhằm tăng khả năng cho vay của các ngân hàng đối với
nền kinh tế hoặc giúp các tổ chức tín dụng đảm bảo khả năng thanh tốn
nhằm duy trì sự ổn định và an tồn cho cả hệ thống ngân hàng. Đây là mục
tiêu hàng đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương vì ngân
hàng trung ương và tổ chức tín dụng đều có tác động đến nền kinh tế. Phát
hành tiền vào lưu thông bằng tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại hoặc
tạm ứng cho ngân sách Nhà nước.
+ Thứ hai: hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương nhằm thúc đẩy kinh
tế phát triển bền vững. Hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương không
chỉ là bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại mà qua đó
cịn mở rộng tín dụng cho nền kinh tế nhờ sự ổn định tăng trưởng bền vững.
Đây chính là mục tiêu cao nhất cần đạt được, mọi hệ thống của ngân hàng
trung ương và ngân hàng thương mại đều ảnh hưởng đến mục tiêu thúc đẩy
tăng trưởng và ổn định vĩ mô nền kinh tế.
+ Thứ ba : hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương nhằm mục đích
điều chỉnh nhịp độ phát triển của nền kinh tế về cả quy mô và cơ cấu, từ đó
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Với việc bao quát toàn bộ nền kinh tế,
ngân hàng trung ương có thể nhìn nhận và đánh giá sự phát triển của các
ngành, các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ và các thành phần kinh tế qua đó điều
chỉnh những bất cập thơng qua hoạt động tín dụng, ngân hàng trung ương tác
động đến vốn khả dụng của từng loại hình ngân hàng tác động đến khả năng
cho vay của từng ngân hàng đối với nền kinh tế từ đó tác động đến sự phát
triển của từng ngành nói riêng và của toàn bộ kinh tế.
_ Ngoài ra, hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương cịn nhằm điều
chỉnh các điều kiện tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ. Ngân hàng trung ương tác động tới các ngân hàng thương mại nhằm điều
chỉnh cân đối trong q trình huy động, cho vay,…từ đó làm lành mạnh hóa
theo u cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và lâu dài.
3. Nguyên tắc cung ứng tín dụng
_Trong hoạt động này, ngân hàng trung ương tuy không trực tiếp cung ứng
vốn cho nền kinh tế nhưng thơng qua hình thức tái cấp vốn cho các tổ chức
tín dụng, ngân hàng trung ương thực sự đã giữ quyền quyết định và chi phối
tổng khối lượng tín dụng mà hệ thống ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế.
Với ý nghĩa đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương phải tuân thủ
những nguyên tắc sau:
Thứ nhất: hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương phải hướng
đến việc thực hiện mục tiêu của chính sách tài chính tiền tệ trong từng
thời kì. Vai trị của tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường là rất
to lớn và quan trọng, vai trị đó chỉ phát huy tác dụng khi chúng ta xây
dựng được một chính sách tài chính tiền tệ tích cực và đúng đắn.
Chính sách đó khẳng định việc Nhà nước sử dụng tài chính tiền tệ như
là cơng cụ chủ yếu để phát triển kinh tế và qua đó giám sát các hoạt
động kinh tế theo mục tiêu năng suất và hiệu quả. Hoạt động tín dụng
của ngân hàng trung ương phải hướng đến việc các mục tiêu của chính
sách tài chính tiền tệ, khẳng định tính nhất quán trong phương hướng
hoạt động tín dụng của ngân hàng trung ương đồng thời khẳng định
lợi ích hoạt động đó hướng đến lợi ích chung của toàn xã hội.
_ Trong từng giai đoạn mà chính sách tiền tệ có thể được hoạch định theo hai
hướng:
+ Chính sách tiền tệ mở rộng nhằm chống suy thoái và thất nghiệp. Ngân
hàng trung ương thực hiện mở rộng hoạt động tín dụng bằng cách giảm lãi
suất tái cấp vốn và tăng hạn mức tín dụng.
+ Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm chống lạm phát hoặc kìm hãm sự tăng
trưởng quá nóng của nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất và giảm hạn mức tín
dụng nhằm thu hẹp hoạt động tín dụng.
Thứ hai: chủ động điều chỉnh khối lượng tín dụng theo diễn biến của
thị trường. Với vai trò là người cho vay cuối cùng, ngân hàng trung
ương căn cứ vào nhu cầu vốn tín dụng trong nền kinh tế chủ động điều
chỉnh khối lượng tín dụng trong nền kinh tế chủ động điều chỉnh khối
lượng tín dụng cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn cũng như theo chính
sách tiền tệ trong từng thời kì. Nếu cung tiền lớn hơn cầu tiền thì giảm
khối lượng tín dụng bằng cách tăng lãi suất tái cấp vốn hoặc thu hẹp
hạn mức tín dụng kết hợp với các công cụ khác và ngược lại. Loại cho
vay, đối tượng cho vay, mức cho vay và lãi suất được kết hợp cùng với
các điều kiện chặt chẽ nhằm đạt được hiệu quả trong việc phân bổ vốn
đồng thời đảm bảo hiệu lực chi phối và kiểm soát tiền tệ của ngân
hàng trung ương. Ngân hàng trung ương sử đông thời nhiều cơng cụ
trong đó có hai cơng cụ chủ yếu là hạn mức tín dụng và lãi suất tái
chiết khấu. Hạn mức tín dụng là cơng cụ mang tính định lượng, cứng
nhắc, không linh hoạt, không phù hợp với cơ chế thị trường. Lãi suất
mang tính định tính, là công cụ linh động cao, hiệu quả phù hợp với
cơ chế thị trường, ngân hàng trung ương thông qua lãi suất tái chiết
khấu có thể mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng.
Thứ ba: tơn trọng hạn mức tín dụng, nguyên tắc này giúp ngân hàng
trung ương kiểm soát tốt khả năng mở rộng tín dụng tối đa của nền
kinh tế. Nếu vi phạm nguyên tắc này, lượng cung tiền cung ứng sẽ
tăng, nguy cơ lạm phát sẽ xảy ra.
Thứ tư: vai trò người cho vay cuối cùng. Sự đổ vỡ của một ngân hàng
gây ra hậu quả khôn lường cho nền kinh tế. Ngân hàng trung ương
vừa là người cung ứng dự trữ cho các ngân hàng thương mại vauwf
đảm bảo sự an toàn cho toàn hệ thống. Thực hiện tốt vai trò khi các
ngân hàng thương mại lâm vào tình trạng mất khả năng thanh tốn.
Trong trường hợp khi ngân hàng trung gian họ không đủ tiền mặt chi
trả cho người dân khi họ rút tiền ồ ạt, ngân hàng trung gian khơng cịn
chỗ vay mượn nào khác thì nó phải đến ngân hàng trung ương vay tiền
như cứu cánh cuối cùng. Ngân hàng trung ương cho ngân hàng trung
gian vay với phương thức gọi là cho vay chiết khấu. Nó có thể cho
ngân hàng trung gian vay khi có yêu cầu. Ngân hàng trung gian có thể
vay hết dự trữ bắt buộc vì khi cần thiết nó có thể vay ngân hàng trung
ương với lãi suất thấp để thanhh toán cho người dân. Ngân hàng trung
ương tăng lãi suất chiết khấu thì sẽ giảm lượng cung tiền của hệ thống
ngân hàng trung gian tức là giảm lượng cung tiền trong toàn bộ nền
kinh tế và ngược lại.
_ Trong vai trò cứu cánh cuối cùng, ngân hàng trung ương dùng lãi suất
chiết khấu để điều tiết lượng tiền cung ứng của hệ thông ngân hàng trung
gian và của nền kinh tế. Đây là một công cụ giúp chính phủ quản lý nền kinh
tế vĩ mơ. Tuy nhiên không phải lúc nào ngân hàng trung ương cũng sẵn lngf
và thường xuyên thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng vì ngân hàng
trung ương khơng trực tiếp tham gia các hoạt động kinh doanh tài chính mà
là thực hiện vai trị điều tiết kinh tế vĩ mơ của một quốc gia cho nên chỉ khi
sự bất ổn của các tổ chức tín dụng làm ảnh hưởng tới tài chính cung như
kinh tế quốc gia thì ngân hàng trung ương mới can thiệp. Thứ hai là vì khi
ngân hàng trung ương thực hiện vai trò cho vay đối với các tổ chức tín dụng
sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng vào nền kinh tế, có thể gây ra hiện tượng
kinh tế tiêu cực cũng như lạm phát, bất ổn lãi suất… cho nên ngân hàng
trung ương không thường xuyên cho vay đối với các tổ chức tín dụng. Thứ
ba là vì nếu ngân hàng trung ương thường xuyên thực hiện vai trị người lam
cho vay cuối cùng có thể làm rối các chính sách điều tiết vĩ mơ của mình.
Hơn nữa việc ngân hàng trung ương dễ dãi cho vay sẽ gây nên sức ì cho các
tổ chức tín dụng, tạo tâm lý ỷ lại từ đó các tổ chức tín dụng này khơng cố
gắng vượt qua khó khăn tài chính. Thứ tư là quan hệ tín dụng của các ngân
hàng thương mại chính là góp phần đóng góp vào quá trình tạo tiền cho nền
kinh tế, quan hệ này càng phát triển thì dịng vốn lưu thơng càng nhanh càng
tạo hiệu quả sử dụng vốn cao làm cho hệ thống tài chính trở nên năng động
mà vững chắc. Ngân hàng trung ương tham gia sẽ làm giảm đi hiệu quả này
và ảnh hưởng đến quan hệ liên ngân hàng. Các ngân hàng thương mại vay
vốn lẫn nhau giúp phát triển hệ thống công nghệ liên ngân hàng đặc biệt hệ
thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. Thứ năm là do nền kinh tế hiện nay
là nền kinh tế thị trường nếu ngân hàng trung ương can thiệp quá sâu làm
ảnh hưởng sự phát triển tự nhiên của nó.
Chương 2: Thực trạng về Ngân hàng Trung Ương
_Trong bối cảnh chung nền kinh tế, hoạt động Ngân hàng trong những năm gần
đây cũng luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề bức xúc đặt ra, trong đó đáng chú ý
là do tình hình kinh tế trì trệ nên việc mở rộng đầu tư tín dụng của các Ngân
hàng gặp nhiều khó khăn; hiệu quả kinh doanh của nhiều Ngân hàng giảm sút.
Tuy vậy với những cố gắng, lỗ lực trong những năm qua Ngân hàng nói chung,
Ngân hàng Trung Ương nói riêng đã đạt được những kết quả quan trọng, góp
phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.1. Điều hành cung ứng tiền
_Như chúng ta đã biết Ngân hàng Trung Ương là cơ quan độc quyền phát hành
tiền, nên toàn bộ lượng tiền mặt đang lưu hành hợp pháp đều do Ngân hàng
Trung Ương phát hành. Căn cứ để cung ứng tiền cho nền kinh tế là dựa vào nhu
cầu tiền phục vụ cho trao đổi hàng hoá và chi trả dịch vụ. Như vậy, tiền trong
lưu thơng khơng chỉ có tiền mà cịn có các loại tiền gửi. Song để có tiền mặt lưu
hành phải có một q trình phát hành tiền của Ngân hàng Trung Ương. ở Việt
Nam hiện nay, tỉ trọng thanh tốn bằng tiền mặt cịn khá cao. Thanh tốn khơng
dùng tiền mặt thường được áp dụng cho các chi trả giữa các doanh nghiệp lớn.
Đối với Ngân hàng tập hợp được một khối lượng vốn tiền gửi ổn định trong tồn
hệ thống vì giảm số dư tiền gửi của khách hàng này thì tăng số dư tiền gửi của
khách hàng khác. Điều naỳ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định thành
phần cung ứng, nắm được vống để đầu tư cho vay của hệ thống Ngân hàng, đẩy
nhanh tiến độ lưu thông của tiền tệ, đIều chỉnh tỷ lệ lạm phát.
2.2. Công cụ lãi
Trong những năm gần đây, trước tình hình thiểu phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế
có xu hướng chậm lại. Ngân hàng Trung Ương đã điều hành lãi suất theo cơ chế
lãi suất trần và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ
mô, cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ và theo xu hướng nới lỏng tiền tệ giảm
tiền tệ lãi suất cho vay đối với nền kinh tế nhằm thực hiện chỉ đạo của chính phủ
về các giải pháp kích cầu. Trong nửa đầu năm 1999 Ngân hàng Trung Ương đã 5
lần điều chỉnh giảm trần lãi suất cho vay VNĐ từ mức 1,25 % / tháng đối với
vay trung, dài hạn và 1,2 % / tháng đối với vay ngắn hạn xuống 0,85 % / tháng
với khu vực đô thị và 1 % / tháng đối với khu vực nông thôn. LãI suất huy động
ngoại tệ của các pháp nhân cũng được điều chỉnh giảm từ 3 - 3,5 % / năm xuống
còn 2,5 - 3 % / năm, nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất
phù hợp với việc giảm trần lãi suất VNĐ … Như vậy trong thời gian qua Ngân
hàng Trung Ương đã thành công rất lớn trong việc sử dụng công cụ lãi suất
nhằm góp phần ổn định lạm phát, kích thích hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp thông qua việc từng bước giảm laĩ suất cho vay qua các thời kỳ.
Tuy vậy chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung Ương gặp phải một số vướng
mắc. Ngân hàng Trung Ương đang quy định trần lãi suất cho vay tối đa cho từng
khu vực thành thị, nông thôn nhưng tồn tại lãi suất mang tính chất bao cấp cho
các đối tượng chính sách. Trên cơ sở tiền lãi suất cho vay tối đa Ngân hàng
Trung Ương, các Ngân hàng thương mại tự quyết định lãi suất huy động vốn
khơng kỳ hạn hoặc vốn có kỳ hạn thay vì viếc Ngân hàng quy định luôn lãi suất
huy động vốn, lãi suất cho vay hoặc quy định trần cho vay tối đa và chênh lệch
giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35 % / tháng đã trở
nên gị bó, làm mất tính nhạy cảm của công cụ lãi suất. Mặt khác để lôi kéo
khách hàng 1 số Ngân hàng thương mại tìm cách giảm lãi suất cho vay. Hiệp hội
Ngân hàng chưa thể hiện vai trò trong liên kết các Ngân hàng nhằm tạo một mặt
bằng lãi suất huy động, lãi suất cho vay tương đối phù hợp cho mỗi Ngân hàng
thương mại.
2.3. Về dự trữ bắt buộc
NHNN đã 2 lần đIều chỉnh giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín
dụng từ mức 7% xuống cịn 5% ( các NHTM cổ phần nơng thơn, quỹ tín dụng
Trung Ương, quỹ tín dụng khu vực là 1% ). Riêng NHNN & PTNT do phải tập
trung vốn thực hiện một số chính sách phục vụ nơng nghiệp và phát triển nơng
thơn nên tỉ lệ dự trữ bắt buộc được giảm xuống mức 3 %.
2.4. Nghiệp vụ thị trường mở
Nhằm chuyển hướng điều hành tiền tệ từ các công cụ trực tiếp sang sử dụng các
công cụ gián tiếp.
2.5. Điều chỉnh tỷ giá
Nhìn chung, tỉ giá ln ổn định và cơ bản phù hợp với cung - cầu ngoại tệ trên
thị trường và mục tiêu quản lý của NHNN. Giao dịch mua - bán ngoại tệ giữa
Ngân hàng và các doanh nghiệp cũng như các giao dịch trên thị trường ngoại tệ
liên Ngân hàng sôi động hơn năm trước. Nhu cầu ngoại tệ cho sản xuất kinh
doanh cơ bản được đáp ứng đầy đủ. NHNN đã mua được một số lượng đáng kể
ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại tệ Nhà nước và bổ sung ngoại tệ cho quỹ kinh
doanh. Có thể nói, việc đổi mới cơ chế quản lý tỉ giá theo quyết định số 64 /1999
/QĐ - NHNN7 và số 65 / 1999 / QĐ - NHNN7 ngày 26 / 2 /1999 là một bước đi
đúng đắn và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế cũng như công tác điều hành
chính sách tiền tệ
2.6. Quản lý ngoại hối
Thực hiện chính sách ngoại hối chặt chẽ, NHNN đã tăng cường theo dõi, giám
sát các TCTD thực hiện các quy định của Thủ tướng Chính phủ về kết hối ngoại
tệ, thường xun có đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời trình Chính phủ sửa
đổi cơ chế cho phù hợp với thực tế. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban
hành quy định về việc khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền
về nước nhằm thu hút nguồn ngoại tệ phục vụ công cuộc phát triển kinh tế đất
nước ( Quyết định số 170 / 1999 / QĐ -TTg ngày 19 / 8 / 1999 ) v.v… Cùng với
việc đổi mới trong quản lý các giao dịch vãng lai, NHNN đã tăng cường các
biện pháp trong quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, quản lý đầu tư
nước ngoài, quản lý hoạt động kinh doanh vàng …
2.7. Huy động vốn
Từ đầu năm, NHNN đã chỉ đạo các NHTM tích cực mở rộng các hình thức huy
động vốn thích hợp, đặc biệt là vốn trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu
vốn cho sản xuất kinh doanh và đầu tư, nhất là các chương trình trọng điểm như
phát triển nơng nghiệp nơng thơn, bổ sung vốn tín dụng đầu tư kế hoạch Nhà
nước, cho vay ngoại tệ đối với các cơng trình trọng điểm…
2.8. Cơng tác chấn chỉnh, củng cố các TCTD
+ Đối với các NHTMCP NHNN đã chủ động phối hợp chặt chẽ với UBND các
tỉnh, thành phố có NHTMCP trên địa bàn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh để
triển khai đề án củng cố, sắp xếp lại các NHTMCP Nhìn chung, cơng tác củng
cố sắp xếp lại các TCTD đã đạt được một số kết quả tích cực, nhờ đó chặn đứng
được nguy cơ đổ vỡ hệ thống, giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu
cức đối với nền kinh tế cũng như thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân. + Đối với
NHTM quốc doanh NHNN đã hoàn thành việc cấp đủ vốn điều lệ ( theo quyết
định 859 / QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ) và thực hiện tái cấp vốn để cơ
cấu lại nợ cho các NHTM quốc doanh ( theo công văn số 27 / 7 / 1999 ).
+ Đối với các QTDND Trọng tâm của công tác quản lý chỉ đạo đối với các
QTDND trong năm là tiếp tuc triển khai chỉ thị số 05 / 1998 / CT - NH17 về
chấn chỉnh, củng cố hoạt động của QTDND Song song với công tác chuẩn bị để
tổng kết thí điểm mơ hình QTDND, NHNN đã khẩn trương chỉ đạo việc xây
dựng và từng bước hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật lên quan đến tổ
chức và hoạt động của quỹ tín dụng, nhằm đảm bảo cho lạo hình TCTD này hoạt
động đúng định hướng, hiệu quả và an toàn.
+ Hoạt động đối ngoại Trong những năm gần đây, hoạt động đối ngoại của
NHNN tiếp tục được tăng cường và đạt được những kết quả quan trọng, góp
phần đẩy nhanh q trình hội nhập với khu vực và quốc tế, tranh thủ khai thác
các nguồn lực bên ngồi phục vụ cơng cuộc đổi mới đất nước. Triển khai các
chương trình trong khn khổ quan hệ hợp tác với các tổ chức tài chính - tiền tệ
quốc tế Đàm phán với IMF, WB nhằm tháo gỡ những khó khăn, ách tắc trong
q trình triển khai chương trình ESAF/ ACII Chủ trì và phối hợp cùng các bộ
ngành liên quan hoàn thành việc đàm phán với WB về 4 dự án trong năm 1999
với tổng số vốn vay 318,26 triệu USD. số vốn do ADB cam kết cho Việt Nam
vay cũng đạt mức 240 triệu USD. Tăng cường quan hệ hợp tác Ngân hàng với
các nước trên thế giới Thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước
trong khu vực và trên thế giới: ký thoả ước hợp tác với Ngân hàng Cộng hoà dân
chủ Nhân dân Lào; xây dựng hiệp định thanh toán với Ngân hàng Vương quốc
Campuchia, đàm phán và ký hiệp định khung về Hợp tác tài chính với Ngân
hàng đầu tư Bắc Âu, đẩy mạnh quan hệ với Ngân hàng Trung Ương Cuba, phối
hợp với Bộ Tài chính đàm phán với quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại của Nhật
( OECF ) về các điều khoản của hiệp định vay vốn dự án hỗ trợ DNV & N, phối
hợp với các bộ, ngành hữu quan đàm phán và ký hiệp định bảo lãnh khung và
hiệp định khuyến khích dự án giữa NHNN và Ngân hàng xuất nhập khẩu của
Mỹ…
+ Thực hiện các dự án tín dụng quốc tế do NHNN quản lý Nhìn chung, các dự
án thực hiện được phần lớn mục tiêu đề ra trong năm 1999; tốc độ giải ngân của
các dự án nhanh hơn, số lượng vốn được giải ngân lớn hơn so với thời gian
trước. Nhiều khó khăn, bế tắc trong q trình triển khai các dự án đã kịp thời
được xử lý, đảm bảo cho các phần dự án thực hiện theo lộ trình, đáp ứng được
yêu cầu và thoả thuận song phương …
2.9. Cơng tác cải cách hành chính
Cơng tác cải cách hành chính của NHNN trong năm là tập trung vào việc đẩy
nhanh việc hoàn thiện các cơ chế , quy chế, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn
thi hành 2 luật Ngân hàng; kiện toàn tổ chức và hoạt động của các đơn vị, thực
hiện việc rà soát để có quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Ngồi ra, thực hiện
chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết
38 / NQ - CP của Chính phủ về cơng tác cải cách thủ tục hành chính và sơ kết
việc thực hiện cải cách hành chính của NHNN. Xuất phát từ thực trạng hoạt
động của Ngân hàng Trung Ương trong thời gian gần đây; tôi xin đưa ra một số
giải pháp cụ thể sau:
- Thực hiện có hiệu quả việc chuyển đổi điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN từ các cơng cụ trực tiếp sang điều hành bằng các công cụ gián tiếp nhằm
giữ ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện
và cơ sở để điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt.
- Tiếp tục thực hiện một cách mạnh mẽ, dứt đIểm việc củng cố, sắp xếp các
TCTD; triển khai các biện pháp để xử lý, giảI quyết một cách tổng thể nợ quá
hạn, nhất là các khoản nợ quá hạn có liên quan đến các vụ án, nợ quá hạn tồn
đọng từ những năm trước đây.
- Tiếp tục đổi mới phương thức huy động vốn, nhất là vốn trung và dài hạn.
Ngay từ đầu năm, NHNN cũng như các TCTD phải có biện pháp để đẩy mạnh
tăng trưởng tín dụng, trên cơ sở an tồn và hiệu quả; mở rộng và đa dạng hố
các hình thức đầu tư để tạo sự chu chuyển vốn thông suốt, khắc phục tình trạng
ứ đọng vốn của các TCTD.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thanh tra trên cơ sở hoàn thiện cơ
chế an toàn toàn hệ thống Ngân hàng, nâng cao năng lực nghiệp vụ thanh tra
Ngân hàng. - Mở rộng quan hệ hợp tác với các TCTD quốc tế, Ngân hàng Trung
Ương các nước để tranh thủ sự giúp đỡ về vốn và trợ giúp về kỹ thuật cho nền
kinh tế và cho hoạt động Ngân hàng; đồng thời tạo lập các điều kiện, bước đi
thích hợp trong quá trình hội nhập của hệ thống Ngân hàng Việt Nam với cộng
đồng tài chính quốc tế.
- Hồn thiện dứt điểm công tác xây dựng các nghị định của Chính phủ, hướng
dẫn thi hành luật NHNN và luật các TCTD; đồng thời hoàn thiện hệ thống văn
bản hướng dẫn của Thống đốc NHNN để hai luật Ngân hàng phát huyđươc hiệu
quả trong thực hiện. Kết luận Nói tóm lại, để đẩy mạnh CNH - HĐH, phát triển
nền kinh tế mhiều thành phần chúng ta cần phải xây dựng và vận hành có hiệu
quả các cơng cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, đặc biệt phải củng cố,
nâng cao vai trò của Ngân hàng Trung Ương. Hiệu quả hoạt động của Ngân
hàng Trung Ương là yếu tố quyết định làm điều hoà lạm phát đưa nền kinh tế
phát triển ổn định, lâu bền. Mặc dù trong những năm gần đây Ngân hàng Trung
Ương hoạt động khá hiệu quả, góp phần khơng nhỏ cho sự phát triển của đất
nước nhưng khơng phải là khơng có lỗ hổng cần giải quyết. Chính vì lẽ đó
,nghiên cứu về đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng của ngành
ngân hàng. Từ đó đề ra những giải pháp cụ thể cho tương lai.
III.
Giải pháp
1. Nên gọi tái cấp vốn là công cụ cho vay hỗ trợ vốn của NHTW để đúng
với bản chất và mục tiêu của công cụ này.
2. Ngân hàng Nhà nước cần hiện đại hố hệ thống thơng tin, hệ thống vi
tính và cơng nghệ.
3. tổ chức đăng ký giao dịch và xử lý, giải quyết các yêu cầu của NHTM
qua hệ thống mạng vi tính.
4. Thống đốc NHNN nên uỷ quyền, phân cấp cho Vụ trưởng Vụ Tín dụng
chủ động giải quyết ở mức độ nào đó.
5. NHNN cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền về công cụ này đối với tất cả các
NHTM, nhất là các NHTM cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
mạnh dạn sử dụng công cụ vay tái cấp vốn.
6. NHNN cũng nên bãi bỏ hạn mức tín dụng, mà cần căn cứ vào nhu cầu
thực tế của NHTM và giấy tờ có giá của NHTM để quyết định cho vay.
7. Cuối cùng là, NHNN cũng cần đa dạng hơn nữa các giấy tờ có giá giao
dịch trên thị trường mở, giao dịch tái cấp vốn. Tăng cường đào tạo và đào
tạo lại cán bộ làm nghiệp vụ cho vay tái cấp vốn tại NHNN là hết sức cần
thiết và có tính cấp bách trong việc nâng cao hiệu quả và hồn thiện cơng
cụ này.
8 .Tạm ứng ngân sách nhà nước
_Xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó
khơng chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát
triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế tồn cầu đang có những
biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng
lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô
cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam.Nhưng NHTW không cho vay để bù đắp
thiếu hụt NSNN, mà chỉ được tạm ứng trong trường hợp NSNN bị thiếu hụt.
Nếu chấp nhận bội chi ngân sách địa phương thì cần quản lý và giám sát chặt
chẽ việc vay vốn. Các khoản vốn vay chỉ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và
phát triển các cơ sở kinh tế. Các khoản vay của ngân sách địa phương cần được
tổng hợp và báo cáo Quốc hội để tổng hợp số bội chi NSNN hằng năm. Vấn đề
vay vốn của các địa phương không được kiểm soát chặt chẽ chẳng những tạo ra
nguy cơ vay vốn tràn lan, đầu tư kém hiệu quả mà còn ảnh hưởng đến tính bền
vững của NSNN trong tương lai. Bội chi NSNN hằng năm khơng được kiểm
sốt chặt chẽ trước khi trình Quốc hội, mức bội chi thực tế khác với mức bội chi
báo cáo cáo Quốc hội. Điều đó tạo nên gánh nặng nợ cho NSNN, bởi NSNN là
một thể thống nhất và đa số các địa phương trông chờ chủ yếu vào ngân sách
trung ương.Chính vì vậy để bù đắp bội chi thì chính phủ phát hành trái phiếu
chính phủ NHTW sẽ mua lượng trái phiếu đó, và phát hành ra cho các NHTG để
mua lượng trái phiếu đó để cho nền kinh tế tăng trưởng hơn khơng gặp phải tình
trạng mất cân bằng về kinh tế hay nói cách khác nền kinh tế khơng bị sụp đổ.
Đây là một phần để giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
9. Bảo lãnh cho các tổ chức tín dụng
_Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố quan trọng và luôn luôn xuất
hiện trong các thương vụ dưới nhiều dạng thức khác nhau (rủi ro thanh tốn, rủi
ro khơng thực hiện hợp đồng, rủi ro tín dụng…). Như vậy vấn đề đặt ra là làm
thế nào để hạn chế được những rủi ro và do đó bảo lãnh ngân hàng ra đời. Với
vai trị là cơng cụ bảo đảm, công cụ tài trợ và công cụ đơn đốc các bên tham gia
hồn thành hợp đồng, sự xuất hiện của các hợp đồng bảo lãnh ngân hàng đã góp
phần thúc đẩy thương mại phát triển. Hiện nay, việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng
bùng nổ mạnh mẽ và mang lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Có thể chắc
chắn rằng những thương vụ lớn và có yếu tố nước ngồi tham gia hiện nay
khơng thể nào khơng có một hợp đồng bảo lãnh đi kèm. Hơn nữa, bảo lãnh ngân
hàng còn được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng thương mại, xây dựng trong
nước có giá trị lớn. Sự tăng trưởng này một phần là do bảo lãnh ngân hàng có
thể được sử dụng để hỗ trợ cho cho tất cả các dịch vụ, bao gồm cả những dịch
vụ khơng mang tính tài chính như hợp đồng xây dựng, bảo hành sản phẩm và
những dịch vụ mang tính tài chính như cam kết cung cấp thấu chi, cam kết tham
gia liên doanh, tái bảo hiểm và những cam kết tài chính khác. tại Việt Nam, mặc
dù bảo lãnh ngân hàng mới được Ngân hàng Nhà nước chính thức đưa vào áp
dụng từ năm 1994 song đã phát huy được những vai trò quan trọng và mang lại
thu nhập đáng kể cho các ngân hàng. Như vậy bảo lãnh ngân hàng là dịch vụ
ngân hàng hiện đại, mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp và ngân hàng.
KẾT LUẬN
Qua phần trình bày trên, nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng trung ương khác
với nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng thương mại, nghiệp vụ tín dụng của
ngân hàng trung ương gián tiếp cung ứng vốn cho nền kinh tế thơng qua
hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu các giấy tờ có giá cho các ngân hàng
thương mại hoặc ngân hàng trung ương tạm ứng tạm thời cho chính phủ chi
tiêu bằng ngườn vốn phát hành. Hoạt động tín dụng của ngân hàng trung
ương khơng vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu chính sách tiền tệ, nhằm
chủ động điều chỉnh khối lượng tiền cung ứng và khối lượng tín dụng theo
yêu cầu của thị trường. Trong các nội dung cấp tín dụng của ngân hàng trung
ương Việt Nam, như cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại, bảo lãnh
tín dụng và tạm ứng cho ngân sách Nhà nước chi tiêu thì nghiệp vụ cấp tín
dụng cho các ngân hàng thương mại là hoạt động cơ bản.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế trong khu vực và thế giới đang có
biến động thì việc duy trì một sự phát triển bền vững và có hiệu quả là rất quan
trọng và là một điều mà tất cả các quốc gia đều mong muốn. Và để đạt được
điều đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách mà các quốc gia phải
làm đó là phải đổi mới hệ thống các chính sách vĩ mơ và hồn thiện các cơng cụ
của nó cho phù hợp với tình hình hiện nay, từ đó sử dụng phối hợp có hiệu quả
các cơng cụ quản lí vĩ mô, phát huy được những mặt mạnh của hệ thống cơng cụ
quản lí tạo ra bước phát triển cao hơn. Do vậy việc đổi mới các chính sách tiền
tệ giữ vai trị rất quan trọng. Và để có những thay đổi đó thì khơng thể khơng kể
đến vai trị của ngân hàng trung ương trong việc kiểm soát thị trường tiền tệ.
Phần bài viết ở trên đã cho chúng ta có được một cái nhìn khái qt về vai trò và
chức năng của Ngân hàng trung ương cũng như cơng cụ mà Ngân hàng trung
ương dùng để kiểm sốt thị trường tiền tệ. Ngân hàng trung ương điều tiết hoạt
động của thị trường tiền tệ thông qua các công cụ: Nghiệp vụ thị trường mở,
chính sách chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, kiểm sốt hạn mức tín dụng, quản lí
lãi suất của ngân hàng thương mại. Và chính nhờ có các cơng cụ đó mà Ngân
hàng trung ương đã trở thành một nhân tố góp phần quan trọng trong ổn định hệ
thống tài chính, ổn định kinh tế vĩ mơ, tạo vốn cho q trình tăng trưởng kinh tế
và tạo điều kiện để thị trường tiền tệ phát triển. Ở Việt Nam, bên cạnh những
thành công đã đạt được thì việc điều hành các cơng cụ chính sách tiền tệ của
Ngân hàng trung ương vẫn chưa kịp thời đáp ứng được những biến động của thị
trường. Nghiệp vụ thị trường mở vẫn chưa được sử dụng phổ biến hay dự trữ bắt
buộc theo quy định ở Việt Nam hiện nay: Số tiền được trích của dự trữ bắt buộc
thực tế của các tổ chức tín dụng dựa trên cơ sở số dư tiền gửi bình quân tại Ngân
hàng trung ương. Số tiền mặt tại quỹ hoặc giá trị của các giấy tờ có giá ngắn hạn
của ngân hàng thương mại khơng được tính vào số tiền dự trữ bắt buộc thực tế
nếu trên giác độ tạo ra tiền, các tổ chức tín dụng sẽ khơng tạo ra được bội số tiền
lớn hơn số tiền mặt tại quỹ hoặc giá trị của giấy tờ có giá nếu có .v.v.. Do vậy để
khắc phục những hạn chế này ngân hàng trung ương phải có những chính sách
linh hoạt hơn, có hiệu quả hơn trong việc điều hành thị trường tiền tệ.
Tài liệu liên quan
Nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng thương mại
Tìm hiểu về quy trình kiểm tốn nghiệp vụ tín dụng trong Ngân hàng Thương
mại tại Việt Nam