Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Quyết định đổi mới đất nước của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Sinh viên cần làm gì để đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước hiện nay?

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (351.03 KB, 15 trang )

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐỀ TÀI: Quyết định đổi mới đất nước của Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI là bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Sinh viên cần
làm gì để đóng góp cho cơng cuộc xây dựng đất nước hiện nay?

Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp
:
Mã sinh viên
:

TS. Bùi Thị Hồng Thúy
Ngơ Trí Hịa
PLT10A30. K23KTDTB
23A4070081

Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 2021


MỤC LỤC
Mở đầu…………………………………………………………………

1

Nội dung………………………………………………………………..


1

Phần 1: Phần lý luận…………………………………………………..

3

1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt trước đổi mới và sự cần thiết phải
đổi mới………………………………………………………………….

3

1.2. Đại hội lần thứ VI và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện……...

4

1.2.1. Thời gian và địa điểm…………………………………………

4

1.2.2. Nội dung của Đại hội…………………………………………

4

1.2.3. Quá trình thực hiện nghị quyết VI…………………………….

6

1.3. Ý nghĩa và kết quả của đường lối đổi mới của Đảng………………

9


1.3.1. Ý nghĩa……………………………………………………….

9

1.3.2. Kết quả……………………………………………………….

10

Phần 2: Phần liên hệ…………………………………………………... 11
2.1. Liên hệ thực tế……………………………………………………... 11
2.2. Liên hệ bản thân…………………………………………………… 11
Kết luận………………………………………………………………... 12
Tài liệu tham khảo…………………………………………………….. 13


MỞ ĐẦU
1 . Tính cấp thiết của đề tài
Sau năm 1975 , đất nước đứng trước những thuận lợi và khó khăn cả trong
và ngồi nước, tuy nhiên nước nhà được hịa bình , độc lập , thống nhất , cả
nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn là thuận lợi cơ bản , là động lực để cả
dân tộc thực hiện những nhiệm vụ lớn trong thời bình . Đảng và nhà nước đã
thông qua các kỳ họp đại hội để cải thiện những thiếu sót sai lầm của mình ,
nhưng đại hội tồn quốc lần thứ VI đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử cho
đất nước . Do đó , để hiểu rõ tại sao lại là bước ngoặt lịch sử cho đất nước thì
em xin chọn đề tài : “ Quyết định đổi mới đất nước của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI là bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam.”
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 . Mục đích :
Dựa trên cơ sở nghiên cứu đổi mới , hoàn thiện đất nước của thời kỳ hịa

bình q độ lên CNXH , rút ra ý nghĩa đối với việc xây dựng CNXH của cách
mạng Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ: để đạt được những mục tiêu trên , tiểu luận cần giải quyết các
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam trước đổi mới để thấy đợc sự cần
thiết phải đổi mới
- Nội dung đường lối đổi mới Đại hội VI
- Kết quả , ý nghĩa của việc thực hiện đường lối đổi mới
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu : Quyết định đổi mới đất nước của Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI là bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu :
1


- Không gian : Tiêu luận tập trung nghiên cứu quyết định đổi mới đất nước
của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
- Thời gian : Giai đoạn hiện nay
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận : quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về vấn đề đổi mới
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
- Phương pháp nghiên cứu : đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử , kết hợp các phương pháp cụ
thể : Logic - lịch sử , phân tích , tổng hợp , so sánh , ...
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận : tiểu luận góp phần làm sáng tỏ về quyết định đổi mới đất
nước của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI là bước ngoặt lịch sử của cách
mạng Việt Nam . Tư đó cung cấp cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện về chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn : Tiểu luận có thể làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và

giảng dạy chuyên đề : xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam , ... trong chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học và các chuyên
ngành liên quan khác

2


Nội Dung
Phần 1 : Phần lý luận
1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam trước đổi mới và sự cần thiết phải
đổi mới Việt Nam trước khi đổi mới năm 1975-1986
Sau khi trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng , cách mạng miền
Nam từng bước lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi to lớn . Với cuộc
tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975 , quan và dân ta đã đánh bại
hoàn toàn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ , giải phóng miền Nam ,
thống nhất đấy nước . Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới ,
“giai đoạn đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Thực hiện hai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là Kế hoạch 5 năm lần thứ
hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985).
Trong 5 năm (1976-1980), trên mặt trận kinh tế, nhân dân Việt Nam đã
đạt được những thành tựu quan trọng: Khắc phục từng bước những hậu quả
nặng nề của chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra và của cuộc chiến
tranh biên giới; khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp,
giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị
chiến tranh tàn phá.
Trong 5 năm tiếp theo (1981 – 1985) nhiều Nghị quyết và Quyết định
quan trọng của Đảng và Chính phủ được ban hành nhằm từng bước sửa đổi cơ
chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế tư nhân
Tuy nhiên trong giai đoạn này, do nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp , chính phủ kiểm sốt nền kinh tế . Khiến kết quả

sản xuất chưa tương xứng với sức lao động và vốn bỏ ra. Nền kinh tế quốc
dân mất cân đối trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng
của xã hội và thị trường . Vật giá, tài chính , tiền tệ khơng ổn định . đời sống

3


nhân dân khó khăn. Lịng tin của dân chúng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự
điều hành của nhà nước bị giảm sút.
Vì vậy, Đảng đã họp đại hội lần thứ VI để đổi mới đất nước, đây được coi
là bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam
1.2 Đại hội lần thứ VI và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện
1.2.1 Thời gian và địa điểm: Đại hội VI của Đảng điễn ra từ ngày 15
đến ngày 18/12/1986 tại Hà Nội
1.2.2 Nội dung của Đại hội:
Đại hội đã thơng qua các văn kiện chính trị quan trọng, bầu đồng chí
Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật,
đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm
của Đảng trong thời kỳ 1975 -1986. Nguyên nhân của những sai lầm đó bắt
nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác
cán bộ của Đảng.
Đại hội rút ra bốn bài học quý báu:
Một là, trong tồn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư
tưởng “lấy dân làm gốc”.
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan.
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong
điều kiện mới.
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền

lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội Đảng VI đã cụ thể hoá đường lối xây dựng CNXH trong thời
kỳ quá độ, coi thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử lâu dài phải trải qua nhiều
4


chặng đường và hiện ta đang ở chặng đường đầu tiên. Đại hội xác định nhiệm
vụ chung của chặng đường đầu tiên là: Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã
hội, xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc cơng nghiệp hố trong chặng
đường tiếp theo.
Đại hội đề ra 4 mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng
đường đầu tiên là: “1. Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ. 2. Bước đầu tạo ra
một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất. 3. Tạo ra chuyển biến tốt
về mặt xã hội. 4. Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.”
Đại hội đề ra nhiệm vụ cụ thể của 5 năm trước mắt (1986-1991): Phải
tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện 3 chương trình mục tiêu: “1.
Lương thực-thực phẩm; 2. Hàng tiêu dùng; 3. Hàng xuất khẩu.” Đại hội nhấn
mạnh rằng 3 chương trình - mục tiêu đó là sự cụ thể hố nội dung, chính sách
cơng nghiệp hố xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá
độ.
Để thực hiện được nhiệm vụ đó, Đại hội đã thơng qua đường lối đổi
mới tồn diện, trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế.
Để đổi mới về kinh tế, Đại hội nêu ra 5 phương hướng sau:
Một là, bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư. Trong 5
năm phải tập trung thực hiện 3 chương trình-mục tiêu về lương thực-thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Hai là, thực hiện chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành
phần kinh tế, coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ
quá độ.
Ba là, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Đại hội khẳng định dứt khoát xoá

bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế hoạch
hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, phát huy mạnh mẽ động lực của khoa học-kỹ thuật.
5


Năm là, mở rộng và năng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
Để đổi mới về chính trị, Đại hội khẳng định cần phải thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Một là, phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu quả
quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo,
nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ
xã hội. Phải xây dựng nhà nước pháp quyền để nhà nước thực sự là nhà nước
của dân, do dân, vì dân. Nhà nước chỉ quản lý về mặt vĩ mơ cịn phải giao
quyền tự quyết về sản xuất, kinh doanh cho các đơn vị kinh tế.
Hai là, phải chăm lo đời sống của nhân dân, lợi ích kinh tế của người
lao động, phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện có nề nếp khẩu
hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tất cả vì nhân dân và do
nhân dân.
Ba là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đâu của Đảng với 6 yêu
cầu cụ thể như sau: Đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng của mỗi
đảng viên; đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý;
đổi mới phong cách làm việc, mở rộng dân chủ, khuyến khích sự năng động
trên cơ sở nguyên tắc, đường lối của Đảng; nâng cao chất lượng đảng viên;
nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở; tăng cường đoàn kết, nhất trí
trong Đảng. Đổi mới về đường lối ngoại giao: Thực hiện chính sách đa dạng
hố, đa phương hố quan hệ đối ngoại, thực hiện chính sách mở cửa quan hệ
quốc tế với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hồ bình, trong đó,
chú ý tăng cường sự hợp tác với Liên Xơ; bình thường hố quan hệ với Trung
Quốc...

1.2.3 Quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội VI
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Trung ương Đảng đã họp nhiều
lần, chỉ đạo đổi mới tồn diện, trong đó nổi bật là các Hội nghị Trung ương sau:

6


Hội nghị Trung ương 2 (4-1987) chủ trương về một số biện pháp cấp bách về
phân phối lưu thông.
Quyết định số 217 - HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (14 –11-1987) trao
quyền tự chủ cho các doanh nghiệp.
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4-1988) về khốn sản phẩm cuối cùng đến
nhóm hộ và hộ xã viên (gọi tắt là Khốn 10). Theo đó, người nơng dân được nhận
khốn và canh tác trên diện tích ổn định trong 15 năm; bảo đảm có thu nhập từ 40%
sản lượng khốn trở lên.
Lần đầu tiên Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội khóa VIII thơng qua, có
hiệu lực từ ngày 1-1-1988.
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài của nhiều
thành phần kinh tế. Nâng cao vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh, phát huy
khả năng tích cực của các thành phần kinh tế khác. Các thành phần kinh tế bình
đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ trước pháp luật.
Hội nghị Trung ương 6 (3-1989) chính thức dùng khái niệm hệ thống chính
trị, đề ra những chủ trương cụ thể và xác định sáu ngun tắc chỉ đạo cơng cuộc đổi
mới. Đó là:
Một là, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu ở nước ta, là sự lựa chọn
sáng suốt của Bác Hồ, là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới
không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mục tiêu đó được
thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích
hợp.
Hai là, chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ đạo toàn bộ

sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đổi mới vận dụng sáng tạo và phát triển chứ
không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Ba là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước,

7


phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực
của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Bốn là, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta.
Năm là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là động lực của
sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải
trên cơ sở dân chủ; dân chủ với nhân dân, nhưng phải chuyên chính với kẻ địch.
Sáu là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa,
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hội nghị Trung ương 8 (3-1990) phân tích tình hình các nước xã hội chủ
nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc, đề ra nhiệm vụ của Đảng ta. Trung ương
chỉ rõ cần nhận rõ nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng ở Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Trung ương cũng khẳng định, Đảng phải tích cực đổi
mới, nâng cao trình độ lãnh đạo và sức chiến đấu của mình; cần cảnh giác và kiên
quyết chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hồ bình” của chủ nghĩa đế quốc và các
thế lực thù địch.
Bắt đầu từ năm 1990, Đảng và Nhà nước có những chủ trương đổi mới về
quan hệ đối ngoại. Đó là việc ưu tiên giữ vững hịa bình và phát triển kinh tế; kiên
quyết thực hiện chính sách “thêm bạn, bớt thù”; mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp
tác với tất cả các nước trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, vì hồ bình và phát
triển ở khu vực và trên thế giới. Trước hết là bình thường hoá quan hệ Việt Nam Trung Quốc, Việt Nam-Hoa Kỳ; từng bước xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với
các nước Đông Nam Á, thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và các nước Châu

Âu. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là sớm tiến hành những bước đầu
tiên giải quyết bất đồng với các nước nhưng ln kiên trì giữ vững độc lập, chủ
quyền và tồn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Để thực hiện chủ trương đó, từ tháng 51988, Việt Nam tuyên bố rút 5 vạn quân và Bộ tư lệnh quân tình nguyện ở
Campuchia về nước và rút hết quân tình nguyện về nước vào tháng 9-1989, sớm
hơn một năm theo kế hoạch đã định.

8


Nhằm thực hiện đổi mới tư duy của Đảng, Hội nghị Trung ương 6 (3-1989)
và Hội nghị Trung ương 8 (3-1990) tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách
trong công tác xây dựng Đảng. Nhấn mạnh là Đảng phải đổi mới tư duy, nhất là tư
duy kinh tế; tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đúc kết kinh
nghiệm nhằm phục vụ thiết thực việc đổi mới tư duy, cụ thể hoá kịp thời, đúng đắn
các nghị quyết của Đảng trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế-xã hội.
Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường cơng tác tổ chức,
xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Nâng cao chất
lượng đảng viên và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng,
giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là nhân tố quyết định thắng
lợi của cơng cuộc đổi mới và tồn bộ sự nghiệp cách mạng.

1.3 Ý nghĩa và kết quả của dường lối đổi mới của Đảng
1.3.1 Ý nghĩa
Đại hội Đảng VI có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu một bước ngoặt
trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đã nhìn thẳng
vào sự thật, nói rõ sự thật và thừa nhận sai lầm, khuyết điểm mà Đảng đã mắc
phải. Qua đó, thể hiện quyết tâm đổi mới với tinh thần cách mạng và khoa
học.
Đại hội đã đề ra một đường lối đổi mới đồng bộ và triệt để ở tất cảc các

lĩnh vực.
Không chỉ tăng trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối
của thập kỷ 90 đã xuất hiện xu hướng đa ngành, đa sản phẩm với sự tham gia
của các thành phần kinh tế quốc doanh, ngoài quốc doanh và cơng nghiệp có
vốn FDI, trong đó cơng nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Do kinh tế đạt mức tăng trưởng cao và liên tục nhiều năm liền nên đời
sống vật chất, văn hóa và tinh thần của dân cư được cải thiện rõ rệt.
1.3.2 Kết quả
9


Trong cơng nghiệp, xố bỏ chế độ tập trung, bao cấp, chuyển hoạt động
của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa nhằm tạo
ra động lực mạnh mẽ, giải phóng mọi năng lực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ
khoa học- kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng đi lên chủ nghĩa xã
hội với năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao. Nhà máy thủy điện
Hịa Bình phát điện tổ máy số 1. Liên doanh dầu khí Việt-Xơ khai thác những
thùng dầu thô đầu tiên.
Một trong những thành tựu kinh tế to lớn của thời kỳ đổi mới là phát
triển sản xuất nơng nghiệp, mà nội dung cơ bản là khốn gọn đến hộ nông
dân, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn, đánh dấu sự
mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta. Ngành
nông nghiệp đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành nước
xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Năm 2000, tổng sản lượng lương thực có
hạt đạt 34,5 triệu tấn, gấp 2,1 lần năm 1986; lương thực có hạt bình qn đầu
người đạt 444,8 kg, gấp 1,6 lần; xuất khẩu gạo đạt 3.477 nghìn tấn, gấp hơn
26 lần.
Sản xuất công nghiệp đi dần vào thế phát triển ổn định với tốc độ tăng
bình quân mỗi năm trong thời kỳ 1986-2000 đạt 11,09%. Những sản phẩm

công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và tiêu dùng của dân cư đều tăng cả
về số lượng và chất lượng. Sản lượng điện năm 2000 gấp 4,7 lần so với năm
1986; sản lượng xi măng gấp 8,7 lần; thép cán gấp 25,6 lần; thiếc gấp 3,6 lần.
Sản lượng dầu thô đã tăng từ 41 nghìn tấn năm 1986 lên gần 7,1 triệu tấn năm
1994 và 16,3 triệu tấn năm 2000. Các cơ sở sản xuất công nghiệp đã quan tâm
hơn đến chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến mẫu mã, áp dụng công
nghệ tiên tiến và thay đổi phương án sản xuất theo yêu cầu của thị trường.

10


Phần 2: Phần liên hệ
2.1 Liên hệ thực tế
Những hạn chế cịn tồn tại
Đại hội Đảng VI cịn có hạn chế là chưa tìm ra những giải pháp tháo gỡ
tình trạng rối ren trong phân phối lưu thông.
2.2 Liên hệ bản thân
Sau khi nghiên cứu xong đề tài này, bản thân em có cái nhìn rõ hơn,
hiểu một cách đúng đắn nhất về con đường đổi mới của Đảng thông qua các
kỳ họp đại hội. Đảng và nhà nước đã trải qua những khó khăn gian khổ để xây
dựng một đất nước chủ nghĩa xã hội phát triển. Do vậy, đòi hỏi mỗi chúng ta
phải giữ vững niềm tin vào con đường mà Đảng ta đã chọn, giữ vững mục
tiêu độc lập và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay, tiếp tục q trình
đổi mới , cơng nghiệp hóa , hiện đại hóa đát nước và hội nhập quốc tế , tiến
lên xã hội chủ nghĩa , vì dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng , dân chủ ,
văn minh .
Bản thân em là một sinh viên, chủ nhân tương lai của đất nước , phải
luôn chăm chỉ , sáng tạo , học tập , lao động . Có mục đích học tập đúng đắn,
học tập để mai sau xây dụng đất nước. Tích cực rèn luyện đạo đức , tác phong
, lối sống trong sáng lành mạnh , tránh xã các tệ nạn xã hội . Đấu tranh chống

các biểu hiện lối sống lai căng, thực dụng , xã rời các giá trị văn hóa - đạo đức
truyền thống của dân tộc . Khơng ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách
mạng, tránh mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá . Thực
hiện tốt nhiệm vụ của mình để góp phần nhỏ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam giàu đẹp, văn minh , đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm
châu.

11


Kết Luận
Qua việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu trên, ta thấy con
đường đổi mới của Đảng và nhà nước ở Việt Nam là hoàn tồn đúng đắn, phù
hợp với quy luật khách quan. Đó là sự vân dụng đúng đắn, sáng tạo của chủ
nghĩa Mac – Lê nin, mà Đảng và Nhà nước đóng vai trị hết sức quan trọng.
Vì vậy , Đại hội VI đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt
Nam ta , đưa nền kinh tế nước ta trở nên giàu mạnh , không bị tụt hậu, đời
sống nhân dân trở nên ấm no, sung túc và có niềm tin trung thành vào sự lãnh
đạo của Đảng và nhà nước.
Một số kiến nghị
Sau khi đã tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài này, em xin đưa ra một số
kiến nghị sau về sự đổi mới và phát triển của Đảng và nhà nước ta :
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước phải thực hiện tốt quyền hạn và trách nhiệm
của mình đối với sự phát triển của đất nước, cần khắc phục những thiếu sót
hiện có, nhanh chóng ban hành, bổ sung hợp lý các văn bản pháp luật, các
chính sách kinh tế, xã hội, ...
Thứ hai, đối với những người dân cần phải nghiêm chỉnh hơn trong việc
thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước. Tích cực tham gia vào sự
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay...
Thứ ba, đối với học sinh, sinh viên cần tích cực học tập, nghiên cứu khoa

học, ứng dụng thực tế để góp phần xây dựng đất nước.

12


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Tiếng Việt:
1. Học viện ngân Hàng (2021) , Tài liệu học tâp bài tập môn Lịch Sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
Tài liệu trực tuyến
2. Cổng thơng tin điện tử chính phủ nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
việt Nam, về vấn đề Kinh tế- xã hội Việt Nam ( />n.d.)
3. Tổng cục thống kê về vấn đề những dấu ấn quan trọng của kinh tế - xã
hội trong 75 năm thành lập và phát triển (gso.gov.vn, n.d.)

13



×