Tải bản đầy đủ (.doc) (124 trang)

ThS CTH nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện u minh thượng, tỉnh kiên giang trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (521.78 KB, 124 trang )

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong q trình đổi mới, đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố
(CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế, Đảng ta luôn coi CNH, HĐH nông nghiệp
và xây dựng nông thôn là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu. Vì vậy, đội
ngũ cán bộ chủ chốt (ĐNCBCC) cấp xã giữ vai trò quan trong, là người trực
tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện các q trình CNH, HĐH nơng nghiệp và
xây dựng nông thôn mới. Nếu ĐNCBCC cấp xã không được xây dựng ngang
tầm thì khơng thể thực hiện u cầu nhiệm vụ mà Đảng ta đã đề ra. Xuất phát
từ vai trò của đội ngũ cán bộ “là gốc của mọi công việc”, “Công việc thành
công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”, Đảng ta qua các kỳ đại hội và các
hội nghị chuyên đề đều xác định xây dựng Đảng là then chốt, mà công tác xây
dựng Đảng thì cán bộ và cơng tác cán bộ là quan trọng nhất, là khâu “then
chốt trong vấn đề then chốt”, là “nguyên nhân của nguyên nhân”. [ 20,
tr.269] . Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công
tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng,
không ức hiếp nhân dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, giải
quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở là vấn đề “sống còn”
trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và thực thi quyền lực chính
trị của nhân dân ở cơ sở. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, ĐNCBCC cấp xã
luôn được các cấp uỷ Đảng quan tâm và có sự trưởng thành, đáp ứng với
nhiệm vụ chính trị, góp phần củng cố lịng tin của quần chúng nhân dân vào
sự nghiệp cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, việc xây dựng
ĐNCBCC cấp xã thật sự có chất lượng cịn nhiều bất cập, phần đơng chưa
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới.
Vấn đề lại cấp bách hơn đối với Huyện U Minh Thượng, là một trong
15 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Kiên Giang. U Minh Thượng là huyện



2
vùng sâu, vùng xa, căn cứ địa cách mạng của Trung ương cục, của tỉnh. U
Minh Thượng là huyện mới được thành lập 10 năm qua, điều kiện KT-XH còn
rất nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân trong huyện chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp, lại cách xa trung tâm của tỉnh. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng
bộ, chính quyền và nhân dân toàn huyện đang tập trung quyết liệt thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nơng thơn mới, phấn đấu hồn
thành 19 tiêu chí, trong đó có tiêu chí hệ thống chính trị (HTCT), u cầu
chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ sở (100% cán bộ xã đạt chuẩn).
Thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật
Nhà nước, các quy định, hướng dẫn của Trung ương và của Tỉnh uỷ về công
tác cán bộ, Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành nhiều văn bản về công tác
quản lý, nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp xã. Qua đó, cơng tác xây dựng
ĐNCBCC cấp xã đã có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng đội ngũ cán
bộ cấp xã được nâng lên; nhiều cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có phẩm chất
năng lực, được bố trí chức vụ lãnh đạo chủ chốt của cấp ủy, chính quyền, mặt
trận và các đoàn thể đã phát huy được hiệu quả, từng bước đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở.
Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung, ĐNCBCC cấp xã của
huyện còn nhiều bất cập, chưa ngang tầm với yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH
nông nghiệp và nơng thơn. ĐNCBCC cấp xã cịn hụt hẫng, số chưa đạt chuẩn
cịn cao; tình trạng bố trí cán bộ chưa đúng ngành nghề đào tạo, chưa đúng
với quy hoạch sử dụng cịn nhiều. Một bộ phận khơng nhỏ cán bộ chủ chốt
(CBCC) cấp xã hạn chế về một số mặt, có tư tưởng làm việc cầm chừng; chế
độ tiền lương, phụ cấp đối với CBCC cấp xã chưa thật hợp lý. Điều kiện cơ sở
vật chất, trang thiết bị làm việc ở nhiều xã còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ…
Xuất phát từ thực trạng chất lượng ĐNCBCC cấp xã của huyện hiện
nay, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết 15-NQ/HU,



3
ngày 15/6/2010 của BCH Đảng bộ huyện (Khoá II) đề ra, yêu cầu cấp thiết
phải có một đội ngũ cán bộ nói chung, ĐNCBCC cấp xã nói riêng vững
mạnh, có phẩm chất, năng lực, phương pháp, phong cách công tác tốt, nhạy
bén, năng động, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của tình hình mới. Từ
các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã ở huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện
nay” làm luận văn Thạc sĩ Chính trị học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề công tác cán bộ, CBCC các cấp luôn là vấn đề được Đảng
và xã hội quan tâm, nhất là sau khi có Nghị quyết Trung ương 3 (khoá
VIII) và nhiều Nghị quyết của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ; đồng
thời được các nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý quan tâm nghiên cứu.
Nhiều cơng trình khoa học đã nghiệm thu, nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc
sĩ và nhiều bài nghiên cứu vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau đã đăng tải
trên các tạp chí, và báo ở Trung ương, tiêu biểu như:
Nhóm các đề án, đề tài khoa học:
- Trần Xuân Sầm (2008), Chủ nhiệm: Đề tài khoa học cấp Nhà
nước“Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong HTCT
đổi mới”[59].
- Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2003), “Luận cứ khoa học
cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [62].
- Nguyễn Văn Sáu (2001) làm Chủ nhiệm: Đề tài khoa học cấp bộ,
“Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện ở phía Bắc nước ta trong tình hình hiện nay”. [61].
- Vũ Văn Hiền (2008), Đề tài “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước” [22].



4
- Nguyễn Danh Mộc (2004), Đề tài khoa học cấp Ban "Nâng cao phẩm
chất, năng lực của người cán bộ đứng đầu tổ chức Đảng và chính quyền cấp
cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX".[49].
- Nguyễn Dũng Sinh (Chủ biên) - Lâm Quốc Tuấn (2013), "Đảng ủy
cơ sở lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội" (Tài liệu Đảng cho Đảng ủy viên cơ
sở). [60].
- Trịnh Thanh Tâm (2013), "Xây dựng đội ngũ nữ CBCC của HTCT
cấp xã (qua khảo sát thực tiễn ở đồng bằng sơng Hồng). [65].
Nhóm đề tài này đề cập đến nội dung, phương pháp, cách thức xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và cấp cơ sở.
Nhóm các luận án, luận văn:
- Phạm Công Khâm (2000), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”, [38].
- Nguyễn Thành Dũng (2012), "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay", [20].
- Đỗ Thị Diệp (2012), "Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các xã ở
tỉnh Sơn La hiện nay", [21].
- Ngơ Thị Bích Thảo (2014), "Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay", [66].
Nhóm các luận án, luận văn này đề cấp đến chất lượng và việc nâng
cao chất lượng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và cấp xã.
Nhóm các bài viết, báo, tạp chí:
- Phạm Chí Thành (2010), Về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước, [67].
- Cao Thị Minh Nguyệt (2014). Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp xã - Thực tế của thị xã Thái Hịa, Nghệ An.[54].
- Trần Đình Hồng (2014), "Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội



5
ngũ cán bộ quản lý Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh";[23].
Trong các nhóm cơng trình nghiên cứu nêu trên các tác giả đã làm sáng
tỏ các vấn đề và nhiều khía cạnh khác nhau về cán bộ và cơng tác cán bộ, một
số cơng trình nghiên cứu đã tập trung đề cập đến xây dựng và nâng cao chất
lượng ĐNCBCC cấp xã, phường, thị trấn; đề xuất giải pháp nhằm xây dựng
đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn nói chung. Các cơng trình đó, các tác
giả mới chỉ nghiên cứu đổi mới xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung hoặc ở
các lĩnh vực, các ngành và các địa phương khác..., chưa có cơng trình nào
nghiên cứu về nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp xã, ở huyện U Minh
Thượng, tỉnh Kiên Giang. Tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các
cơng trình khoa học nói trên, luận văn đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ
những vấn đề liên quan đến việc: “Nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp
xã ở huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện
nay”, nhằm góp phần vào cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã đáp ứng với yêu cầu của nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng chất lượng
ĐNCBCC cấp xã ở huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Luận văn đề
xuất một số phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp
xã ở huyện U Minh Thượng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
kinh tế - xã hội và thực thi quyền lực chính trị ở địa phương.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở khoa học, cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt



6
cấp xã ở huyện U Minh Thượng thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã gồm các chức danh: Bí thư, Phó bí thư, Chủ tịch và phó chủ tịch
UBND, chủ tịch và phó chủ tịch HĐND, chủ tịch MTTQ, chủ tịch Hội Cựu
chiến binh, chủ tịch Hội Nông dân, chủ tịch Hội Hội liên hiệp phụ nữ, Bí thư
Đồn thanh niên, trưởng công an, xã đội trưởng.
- Về không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ chốt tại 6/6 xã trên địa bàn huyện U Minh Thượng.
- Về thời gian: khảo sát thực trạng từ năm 2010-2016.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước về cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
Luận văn kế thừa, vận dụng có chọn lọc những kết quả của các tác giả
đi trước có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ và nâng cao chất

lượng ĐNCBCC cấp xã.


7
- Đề tài sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành như:
thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hố, lơgíc và lịch sử, kết hợp
với phương pháp điều tra xã hội học, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết
thực tiễn, vv..
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hoá những luận cứ khoa học về cơng tác
cán bộ và CBCC cấp xã dưới góc độ Chính trị học, giúp Đảng bộ huyện U
Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang có cơ sở khoa học và thực tiễn để thực hiện
việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu bổ ích cho các cấp
uỷ đảng, chính quyền địa phương vận dụng trong nghiên cứu, quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức một cách bền vững và lâu dài, đáp ứng yêu
cầu phát triển KT-XH ở huyện U Minh Thượng trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng
dạy các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ cơ sở nói chung và
cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Kiên Giang nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương 8 tiết.


8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP XÃ
1.1. ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ

1.1.1. Quan niệm về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Từ cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục
năm gần đây để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp người
mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho
sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ cán bộ được dùng nhiều trong
quân đội để phân biệt giữa chiến sĩ với cán bộ. Lúc này, từ cán bộ dùng để chỉ
những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên. Dần dần từ cán bộ
được dùng để chỉ những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt
với nhân dân.
Cũng có một thời gian dài, từ cán bộ gần như dùng thay thế cho từ
công chức, vì hình ảnh cơng chức trong xã hội cũ thường bị coi là xấu: “sáng
vác ô đi, tối vác về”. Cho đến nay, từ cán bộ đã được dùng với rất nhiều nghĩa
khác nhau:
- Trong tổ chức đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa:
một là, để chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở
đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đồn
viên, hội viên; hai là, những người làm cơng tác chuyên trách có hưởng lương
trong các tổ chức đảng và đoàn thể.
- Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trở lên (cán bộ tiểu đội,
cán bộ trung đoàn, v.v..) và là sĩ quan từ cấp uý trở lên.
- Trong hệ thống nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ


9
công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngành
hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hoá và xã hội. Đồng thời, cán bộ cũng được
hiểu là những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó

phịng, vụ, cục, v.v..).
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau về nghĩa của từ cán bộ trong các
trường hợp, các lĩnh vực cụ thể xét về cơ bản có thể quan niệm một cách
chung nhất: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trị và
cương vị nịng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động
của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp
phần định hướng sự phát triển của tổ chức.
Luật Cán bộ, cơng chức, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, tại
Khoản 1, Điều 4 đã quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước. [57, tr.6].
Như vậy, đây là căn cứ pháp lý quan trọng để hiểu đúng bản chất, ý
nghĩa của từ “cán bộ”.
Đối với cán bộ cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ,
công chức:
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công
dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó
Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. [57,
tr.18].


10
Trong đội ngũ cán bộ, có một nhóm được gọi là cán bộ chủ chốt. Tiếng
Anh gọi nhóm này là Leader (người cầm đầu). Đó là những người đứng đầu

quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền ra những
quyết định, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một
tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có
thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định. Đây là lực
lượng nòng cốt trong đội ngũ cán bộ, là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị. [72, tr.174].
Khi xác định CBCC cần đặt cán bộ trong một tổ chức nhất định, dựa
vào các chức trách cụ thể của mỗi cán bộ và đặt trong mối quan hệ với toàn
bộ hệ thống tổ chức. Nhiều cán bộ ở cương vị này, trong tổ chức này là CBCC
nhưng trong mối quan hệ khác, vị trí khác lại khơng phải là CBCC. Chẳng
hạn, Bí thư Đảng uỷ xã là CBCC của xã nhưng không là CBCC của huyện,
mặc dù cán bộ đó có thể là Huyện uỷ viên...
Có quan niệm cho rằng, ĐNCBCC cấp xã:
Đó là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống bộ
máy đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, mặt trận và các đồn
thể chính trị - xã hội ở xã, có tác dụng chính, chi phối việc chấp
hành chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước thơng qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ KT-XH trên địa bàn nông thôn mà họ phụ trách. [38,
tr.34].
Theo quan niệm trên, ĐNCBCC cấp xã hiện nay bao gồm: Bí thư Đảng
uỷ xã; Chủ tịch HĐND xã; Chủ tịch UBND xã; Trưởng công an xã; Chỉ huy
trưởng Ban chỉ huy quân sự xã; Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã; Bí thư Đồn
Thanh niên xã; Chủ tịch Hội nơng dân xã; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã;
Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã.
Theo Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của


11
Chính Phủ về cán bộ, cơng chức xã, phường, thị trấn, trong 10 chức danh chủ

chốt nêu trên có 8 chức danh thuộc cán bộ chuyên trách cấp xã, riêng 2 chức
danh Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng Quân sự thuộc công chức cấp xã. Hai
chức danh này tuy là thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng có vai trị
quan trọng, thường được cơ cấu là cấp ủy cơ sở, có nơi là Thường vụ đảng ủy
cơ sở, do vậy xét về mặt Đảng thì họ là người giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt.
Như vậy, dưới góc độ tiếp cận và nghiên cứu của luận văn, ĐNCBCC
cấp xã (xã, phường, thị trấn) bao gồm: Bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch và phó
Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và phó Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc,
Chủ tịch Hội nông dân, Chủ tịch Hội phụ nữ, Bí thư đồn TNCS Hồ Chí
Minh, Trưởng Cơng an, xã đội trưởng, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh là những
người lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp và chịu trách nhiệm ở cơ sở.
1.1.2. Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Trong bất cứ thời kỳ nào, giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, cán
bộ và cơng tác cán bộ cũng đều giữ vị trí đặc biệt quan trọng, cán bộ là một
trong những nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng. Mác - Ăngghen khẳng định: “Muốn thực hiện tốt những tư tưởng cần
có con người sử dụng một thực tiễn” [41, tr.181]. Lịch sử đã chứng minh mỗi
chính đảng của một giai cấp muốn giành và giữ chính quyền đều phải chăm lo
và xây dựng đội ngũ cán bộ, đây là đại biểu trung thành của giai cấp mình, có
khả năng thực hiện những u cầu, mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng mà Đảng
và giai cấp đó đề ra, do vậy phải chăm lo xây dựng cho được một đội ngũ cán
bộ có phẩm chất, năng lực đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời
kỳ cách mạng. Ngay từ những năm tháng đầu tiên giành chính quyền, Hồ Chí
Minh đã tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cán bộ của Chủ
nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Người đã đề cập đến vấn đề cán
bộ và tầm quan trọng của công tác cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng
cơng việc thành cơng hoặc thất bại là do cán bộ tốt hay kém. “Cán bộ là dây


12

chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù
tốt, dù chạy tồn bộ máy cũng tê liệt” [43, tr.54] và vai trò của cán bộ được
thể hiện trong các mối quan hệ chủ yếu: cán bộ với đường lối chính sách, cán
bộ với cơng việc và cán bộ với quần chúng. Về mối quan hệ với đường lối
chính sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ là người đem chính sách của
Chính phủ, Đồn thể thi hành trong nhân dân”; do đó, “nếu cán bộ dở thì
chính sách hay cũng khơng thể thực hiện được” [43, tr.54]. Với cơng việc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “cán bộ là cái gốc của mọi cơng việc” [43,
tr.269]. Theo Người, cây phải có gốc, “gốc” ở đây hiểu là từ đó sinh ra, làm
cho cây mạnh khỏe, tốt tươi hay ngược lại thì cây héo. Vì vậy, trong mọi cơng
việc mà khơng có cán bộ thì khơng thể hồn thành.
Đối với quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình
hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để
đặt chính sách cho đúng [43, tr.269].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh cán bộ khơng những chỉ là người có vai trị
giác ngộ và hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng mà còn là “chiếc cầu nối” giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân, là “công bộc” của nhân dân. Vì vậy, nếu cán bộ
dở thì đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ khơng thể thực hiện được.
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề cán bộ, Đảng ta luôn chú trọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán
bộ ngang tầm với đòi hỏi của từng thời kỳ cách mạng, đó chính là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng ta xác định phải:
Có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng
đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi
đường lối, đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của
Đảng cầm quyền [12, tr.27].



13
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH và
hội nhập quốc tế, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ: “Cán bộ là nhân tố
quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của
đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [12, tr.
66]. Theo quan điểm của Đảng, trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một
cách đồng bộ, đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc
biệt chú trọng xây dựng đội ngũ CBCC các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp
cơ sở. Như vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ trong bất cứ thời điểm nào, ở đâu
cũng rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, quyết định đến sự nghiệp
của Đảng, góp phần quan trọng trong việc xây dựng, bảo vệ, phát triển KTXH của đất nước, của địa phương.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người thay mặt Đảng, chính quyền,
các địan thể và các tổ chức chính trị - xã hội, là những người lãnh đạo, quản
lý xã hội đến tận người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là
gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì
mọi cơng việc đều xong xi”. Như vậy, vai trị của cán bộ nói chung, cũng
như của ĐNCBCC cấp xã nói riêng là rất quan trọng, họ quyết định sự thành
công hay thất bại của mọi công việc của địa phương, cơ sở.
Đối với cấp chiến lược và cấp cơ sở, Đảng ta chỉ rõ:
Đây là đội ngũ những người trực tiếp tham gia hoạch định đường
lối và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó. Có một đội ngũ
cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đường lối chính trị
đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó là vấn đề cốt
tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền [12, tr 27].
Như vậy, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, vai trò của ĐNCBCC cũng rất
quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng. Trong đó, ĐNCBCC cấp chiến lược
và cấp xã luôn được Đảng quan tâm, chú ý, vì nó giữ vị trí khởi đầu và kết
thúc của một chu trình lãnh đạo của Đảng.



14
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người trực tiếp phát huy quyền làm
chủ của nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của công nhân, chăm lo
đời sống vật chất và đời sống tinh thần của họ ở cấp xã động viên quần chúng
làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. Ở cấp xã, cuộc sống ln địi hỏi phải
phát huy vai trị, sức mạnh, sự sáng tạo và tinh thần làm chủ của nhân dân.
Nơi đây, những nhân tố mới xuất hiện ngày càng nhiều trong sự nghiệp xây
dựng nơng thơn mới, đó là những mơ hình, những kinh nghiệm, sáng kiến, trí
tuệ của nơng dân trong sản xuất, trong xây dựng đời sống văn hóa, xã hội. Ở
đó, ĐNCBCC cấp xã là người khởi xướng, chủ trương, thúc đẩy phong trào
đồng thời tổ chức thực hiện nó.
Như vậy, Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã bất cứ lúc nào, ở đâu cũng rất
quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng và vai trò đó được thể hiện:
Thứ nhất, Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là cầu nối giữa Đảng với dân.
Thứ hai, Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là bộ não của địa phương.
Thứ ba, Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người định hướng sự phát
triển và thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh” ở địa phương, cơ sở.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước
đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới trên tất cả các mặt và bước đầu thu
được những thành tựu quan trọng: kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa, xã hội có
những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tình hình chính trịxã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ
ngoại giao không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế đuợc tiến
hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt. Có thể nói, đất nước tuy cịn nhiều
khó khăn, nhiều nguy cơ và thử thách, nhưng dân tộc Việt Nam trong lịch sử
chưa bao giờ có được cục diện tốt đẹp như ngày nay. Có được những chuyển
biến tích cực nói trên là nhờ sự nỗ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn quân và
tồn dân ta, trong đó, ĐNCBCC cấp xã đã góp phần hết sức quan trọng. Đội



15
ngũ ấy tỏ rõ được bản lĩnh chính trị rõ ràng, độc lập, tự chủ, sáng tạo, đã tổ
chức quần chúng tại xã thực hiện đúng đường lối của Đảng, phát huy sức
mạnh của tồn dân, đưa cả nước thốt khỏi khủng hoảng kinh tế, vững bước
tiến lên CNXH. Đội ngũ ấy lại đang gánh vác nhiệm vụ nặng nề với trọng
trách và vinh dự lớn lao, lãnh đạo nhân dân cấp xã giành được những thắng
lợi mới trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, trong phát triển nông nghiệp và
xây dựng nơng thơn mới.
1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ

1.2.1. Quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra
bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Quan niệm chung
nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự
vật, sự việc. Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, đó là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, những đặc tính tạo
nên cái bản chất của một con người, một sự vật, sự việc;
Thứ hai, những phẩm chất, những đặc tính, những giá trị đó đáp ứng đến
đâu những yêu cầu đã được xác định về con người, sự vật, sự việc đó ở một
thời gian và không gian xác định. Tuy nhiên, những điều này có tính ổn định
tương đối, thay đổi do tác động của những điều kiện chủ quan và khách quan.
Vì thế, nói đến chất lượng của một con người là nói đến mức độ đạt
được của một người ở một thời gian và không gian được xác định cụ thể, đó
là các mức độ tốt hay xấu, cao hay thấp, ngang tầm hay dưới tầm, vượt tầm,
đạt hay không đạt yêu cầu đặt ra. Tổng hợp những phẩm chất, những giá trị,
những thuộc tính đặc trưng, bản chất của một con người và các mặt hoạt động
của con người đó, chính là chất lượng con người đó.
Khi phân tích, đánh giá chất lượng của bất kỳ sự vật, hiện tượng, quá
trình nào đang diễn ra trong tự nhiên, xã hội hay trong tư duy phải phân tích,



16
đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành sự vật hiện
tượng và quá trình ấy trong thống nhất, biện chứng, trong sự ràng buộc và tác
động lẫn nhau giữa chúng; khơng được tuyệt đối hố một yếu tố, bộ phận nào
hoặc tách rời giữa các yếu tố, các bộ phận. Q trình đó địi hỏi phải có
phương pháp xem xét, đánh giá cụ thể, khơng thể áp dụng phương pháp duy
nhất, đặc biệt là đối với con người và hoạt động của con người trong xã hội.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Chất
lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực cơng
tác, thể hiện ở kết quả hồn thành nhiệm vụ” [9. tr.132.]
Cụ thể hơn, có thể quan niệm: Chất lượng Đội ngũ cán bộ chủ chốt
hiện nay là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính
đặc trưng, bản chất của đội ngũ cán bộ về mặt con người và các mặt hoạt
động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của
đội ngũ cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế.
Theo đó, chất lượng Đội ngũ cán bộ chủ chốt có tính ổn định tương đối,
có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ
quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu
cầu, nhiệm vụ; chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá
trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người cán bộ. Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Trong thế giới, cái gì cũng biến hố. Tư tưởng con người cũng
biến hố. Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp
nhất, vì nó cũng phải biến hố… Một người cán bộ khi trước sai
lầm, khơng phải vì thế mà sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay
chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này khơng phạm sai lầm? Q
khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống
nhau [43, tr.278].



17
1.2.2. Nội dung đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
1.2.2.1. Về phẩm chất chính trị và nhận thức chính trị
Phẩm chất chính trị là nội dung quan trọng nhất, quyết định đến năng
lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ. Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần
thúc đẩy cán bộ vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao hay nói
cách khác là hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất. Phẩm chất chính trị
cũng chính là yêu cầu cơ bản nhất đối với người cán bộ nói chung và CBCC
cấp xã nói riêng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng tiến lên mãi, Đảng tiến lên
mãi, cho nên người cách mạng cũng phải tiến lên mãi” [47, tr.292]. Vì vậy,
mỗi cán bộ đảng viên của Đảng phải cố gắng học tập lý luận Mác - Lê-nin.
Bởi, “có học tập lý luận Mác - Lê-nin mới củng cố được đạo đức cách mạng,
giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được
tốt cơng tác Đảng giao phó cho mình” [47, tr.29]. Tuy nhiên, đó là:
Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối
với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh
thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn
[47, tr.292]
chứ không phải là học thuộc lòng một số sách vở về chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đặc biệt, học để trang sức, học không phải để vận dụng vào cơng việc cách
mạng thì đó cũng chính là một biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Người khẳng
định công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, làm cơ sở vững mạnh cho công
cuộc thống nhất nước nhà, là một nhiệm vụ cực kỳ vẻ vang, song cũng đầy
gian nan, trắc trở, vì vậy để bảo đảm cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng, tất cả đảng viên, đoàn viên, tất cả cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng
cần phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đó là phẩm

chất cao quý của người cách mạng, đó là đạo đức cách mạng [47, tr.293].


18
Phẩm chất chính trị địi hỏi người cán bộ phải thấm nhuần chủ nghĩa
Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đấu tranh
chống lại các hiện tượng lệch lạc, những biểu hiện mơ hồ, sai trái đường lối,
chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và các hành vi
xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Người cán bộ chủ chốt cấp xã có phẩm chất chính trị tốt là người tích
cực tuyên truyền, vận động gia đình, bà con nhân dân thực hiện tốt đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Là người luôn
luôn trăn trở băn khoăn và tìm cách tháo gỡ những khó khăn ở cơ sở, từng
bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Người có phẩm
chất chính trị tốt là người một lòng phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân.
Phẩm chất chính trị của CBCC cấp xã được biểu hiện trước hết là sự tin
tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa
chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách. Đồng
thời, phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân
dân địa phương, cơ sở.
Phẩm chất chính trị của người CBCC cấp xã cịn biểu hiện thơng qua
thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần gương mẫu trong công tác, tinh thần trách
nhiệm đối với đời sống của đồng bào nhân dân tại địa phương. Người cán bộ
có phẩm chất chính trị tốt phải là người ln trăn trở trước những khó khăn ở
địa phương; phải có quyết tâm đưa địa phương, cơ sở nơi mình cơng tác ngày
càng phát triển về mọi mặt, thực hiện dân chủ, công bằng, văn minh.
1.2.2.2. Về phẩm chất đạo đức

Người cán bộ chủ chốt muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân
dân, trước hết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt. Xây dựng


19
các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ và hình thành ở họ các phẩm chất
đạo đức tương ứng với vị trí, vai trị, chức năng nhiệm vụ của ĐNCBCC cấp
xã là việc làm cần thiết, cấp bách nhất trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
hiện nay. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có sự chuyển biến nhanh
chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, trong đó phải kể đến trình
độ dân trí ngày một nâng cao thì sự địi hỏi của xã hội đối với đội ngũ cán bộ
cũng ngày một cao hơn. Thêm vào đó cơng tác quản lý xã hội ở cơ sở cũng đòi
hỏi người CBCC phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân dân.
Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức ở người cán bộ, cơng chức đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm. Nhất là sau khi cách mạng thành
công, ngoài việc lãnh đạo, quản lý đất nước, trước những khó khăn phải
chống thù trong, giặc ngồi, Bác vẫn chăm lo việc giáo dục đạo đức cho đội
ngũ cán bộ trong các cơ quan chính quyền nhà nước non trẻ. Bác yêu cầu:
“Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng” [43, tr.223]. Và muốn có
đạo đức cách mạng, theo Bác phải có được các phẩm chất trí, tín, nhân, dũng,
liêm. Khi điều kiện và tình hình cách mạng thay đổi, trong khi nói chuyện với
anh, chị em công chức ở Thủ đô, Bác đã nhắc nhở: "Chúng ta phải cố gắng
thực hiện cần, kiệm, liêm, chính". Bác nói: "Những người trong các cơng sở
đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính
thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân" [43, tr.104].
Từ kinh nghiệm thực tiễn được chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, cho thấy
rõ tầm quan trọng về phẩm chất đạo đức của cán bộ. Nếu cán bộ có trình độ,
được đào tạo bài bản, có năng lực cơng tác, nhưng khơng có phẩm chất đạo
đức, khơng có tinh thần u nước, tận tuỵ phục vụ nhân dân, không nghĩ đến
việc chung mà chỉ lo làm lợi, lo đến bản thân mình, chi tiêu tiền của cơng xa

hoa, lãng phí, khơng chính trực, nghiêm minh trong giải quyết cơng việc… thì
chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức bộ máy, làm mất uy
tín của Đảng, Nhà nước, sẽ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.


20
1.2.2.3. Về học vấn, trình độ chun mơn, lý luận chính trị, hành chính
Trình độ của cán bộ được hiểu là trình độ về bằng cấp chun mơn,
trình độ về lý luận chính trị đã được đào tạo để có kiến thức, trình độ về lý
luận, kiến thức về kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật, có khả năng tổ chức
triển khai, ứng dụng vào thực tiễn cơng tác.
Trước đây, do đất nước cịn nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát
triển, một bộ phận đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã chưa được đào tạo, cịn hạn
chế về trình độ học vấn, trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh
tế... đã dẫn tới hạn chế trong năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành công việc,
lúng túng trong việc tổ chức triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước, trong việc giải quyết những phát sinh khó khăn, phức tạp ở cơ sở,
do vậy làm ảnh hưởng đến sự phát triển KT-XH của địa phương.
Trước yêu cầu của sự phát triển của đất nước, ĐNCBCC cấp xã phải
được đào tạo về chun mơn, nghiệp vụ và lý luận chính trị, phải am hiểu
cơng việc, lĩnh vực do mình phụ trách, phải có kinh nghiệm hoạt động thực
tiễn. Đồng thời, phải có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh
nghiệm; phải có khả năng thu thập thơng tin, chọn lọc thông tin, khả năng
quyết định đúng đắn, kịp thời.
Người cán bộ chủ chốt là người đứng đầu, người đứng mũi chịu sào
trước mỗi thành bại của đơn vị, chịu trách nhiệm trước mọi quyết định đúng,
sai hậu quả tốt xấu. Do đó là người cán bộ lãnh đạo phải có trình độ, năng lực
nhất định, phải trình độ học vấn, lý luận chính trị, chun mơn nghiệp vụ,
kiến thức quản lý Nhà nước đạt chuẩn mới có khả năng nhìn xa trơng rộng, khả
năng tiên đốn và phân tích các tình huống để điều hành địa phương, đơn vị theo

đúng hướng, tuân thủ pháp luật và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Trình độ học vấn: Học vấn không phải là yếu tố duy nhất quyết định
chất lượng và hiệu quả hoạt động của CBCC cấp xã nhưng đây là tiêu chí
quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý


21
của đội ngũ này. Nó là tiền đề, là nền tảng cho việc nhận thức tiếp thu và đưa
đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Hạn
chế về trình độ học vấn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực
tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy định của pháp luật, cản
trở việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao. Vì vậy, trình độ học vấn là
tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng ĐNCBCC cấp xã.
Trình độ chun mơn nghiệp vụ được hiểu là những kiến thức chuyên
sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ: sơ cấp, trung
cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học. Đây là những kiến thức mà CBCC cấp xã
phải có ở một trình độ nhất định để giải quyết cơng việc theo chức năng,
nhiệm vụ được giao. Nếu thiếu kiến thức này thì cán bộ sẽ lúng túng và chắc
chắn sẽ khó hồn thành nhiệm vụ.
Trình độ lý luận chính trị: là cơ sở xác định quan điểm lập trường giai
cấp công nhân của cán bộ nói chung và cán bộ cấp xã nói riêng. Thực tế cho
thấy nếu cán bộ có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý
tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽ có sức
thuyết phục nhân dân trong quá trình tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Khi được
nhân dân kính trọng tin yêu, thì họ là những hạt nhân tích cực góp phần lớn
vào quá trình phát triển KT-XH trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Ngược lại, nếu cán bộ nào lập trường chính trị khơng vững vàng, lý
luận chính trị non yếu, hoặc hoạt động vì lợi ích cá nhân, thối hố biến chất
sẽ làm mất lịng tin ở nhân dân, thì bản thân cán bộ đó khi triển khai tổ chức,

thực hiện các công việc sẽ không đạt hiệu quả như mong đợi, thậm chí cịn
gây hại cho nước cho dân. Chính vì thế, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ cấp xã cần phải nâng cao trình độ lý luận cho họ.
Trình độ quản lý Nhà nước: Quản lý Nhà nước là hệ thống tri thức
khoa học về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước. Đó là những kiến


22
thức địi hỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra
trong quá trình quản lý điều hành. Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là
hoạt động nghệ thuật, tức là hoạt động quản lý vừa phải tuân theo các quy luật
khách quan dưới ánh sáng của các khoa học trên cơ sở pháp luật của Nhà
nước đồng thời vừa phải linh hoạt, uyển chuyển, hợp lý hợp tình người để đạt
được các mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất, mang lại lợi ích cao nhất
cho nước cho dân trong điều kiện nguồn lực có hạn. Như vậy, yêu cầu CBCC
cấp xã phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và phải vận dụng linh hoạt
các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể, đó là yêu cầu cơ bản và
rất bức thiết. Thực tiễn cho thấy, trong quá trình quản lý nếu chỉ dựa vào kinh
nghiệm thơi chưa đủ mà cịn phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng
quản lý nhà nước để qua đó nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp xã. Hiện nay,
hạn chế lớn nhất của ĐNCBCC cấp xã là trình độ quản lý nhà nước. Để nâng
cao năng lực quản lý Nhà nước thì cần phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng
kiến thức về quản lý Nhà nước cho CBCC cấp xã một cách bài bản, tích cực,
hiệu quả và kịp thời.
1.2.2.4. Về năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ
Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi trường và trách
nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ thể. Năng
lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương đối dễ
dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy
một cách có kết quả.

Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý phù hợp với
những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động
đó đạt được kết quả. Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự
nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và
hoạt động thực tiễn, cũng như tự rèn luyện của cá nhân.
Năng lực ở con người có nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ cao thì đó là


23
tài năng - thiên tài. Cần phân biệt sự kém hiểu biết với sự thiếu năng lực.
Trong những điều kiện bên ngoài như nhau, ở những con người khác nhau có
thể tiếp thu những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo khác nhau. Có người tiếp thu
nhanh, có người phải tốn nhiều thì giờ và sức lực; ở người này có thể ở mức
điêu luyện, ở người khác chỉ ở mức trung bình. Khi xem xét bản chất của
năng lực, cần chú ý ba dấu hiệu cơ bản:
Một là, năng lực là sự khác biệt nhau về phẩm chất tâm lý cá nhân làm
cho người này khác người kia.
Hai là, năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc
thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất cứ những sự khác biệt
chung chung nào.
Ba là, năng lực không phải được đo bằng những kiến thức, kỹ năng và
kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó. Năng lực chỉ làm cho việc
tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.
Có thể hiểu, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn
có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là những phẩm chất tâm lý,
sinh lý tạo cho con người có khả năng hồn thành một hoạt động nào đó với
chất lượng cao. Mỗi con người có khả năng trong một hoạt động nhất định
nào đấy có ích cho xã hội. Nghiên cứu năng lực con người là nghiên cứu sức
lực dự trữ của con người trong lao động hay là tiềm năng của con người đối
với lao động.

Năng lực thể hiện ở chỗ, con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian,
của cải, mà kết quả lại tốt. Việc phát hiện ra năng lực của con người thường
căn cứ vào những dấu hiệu sau: Sự hứng thú đối với cơng việc nào đó; sự dễ
dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực đó.
Năng lực có năng lực chung và năng lực chun mơn, giữa chúng có
mối quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau. Năng lực chung cho phép con
người có thể thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động


24
học tập, lao động... Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt một loại
cơng việc nào đó như âm nhạc, hội họa, văn học, toán học... Năng lực con
người thường gắn liền với sở thích của người ấy. Con người có sở thích, hứng
thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng lực của người đó về mặt
hoạt động đó. Năng lực khơng chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động trí
óc thuần túy mà thể hiện cả trong hoạt động thể lực. Năng lực phát triển trong
quá trình hoạt động. Người lười biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc
cũng như lao động chân tay thì năng lực khơng thể phát triển được.
Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, năng lực thường bao gồm
những tố chất cơ bản về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân,
về trình độ kiến thức pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội... Sự am hiểu và nắm
vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ
chuyên môn, kỹ thuật xử lý thông tin... để giải quyết các vấn đề đặt ra trong
giải quyết công việc một cách khơn khéo, minh bạch, dứt khốt, hợp lịng
dân và khơng trái pháp luật, nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị,
phát triển KT-XH ở địa phương, cơ sở.
Vậy, nói đến chất lượng cán bộ chủ chốt cấp xã là nói về phẩm chất đạo
đức, trình độ, năng lực hay tài năng của một cán bộ. Tài năng của mỗi cán bộ
khơng phải bỗng nhiên mà có, mà là do quá trình rèn luyện, đào tạo, trải qua
kinh nghiệm thực tiễn mà có được. Bất kỳ người cán bộ ở cấp nào, cương vị

nào cũng cần phải có tài năng và đức độ, nếu thiếu bất kỳ tiêu chuẩn nào cũng
sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước. Chủ
tịch Hồ Chí Minh thường nói: Người có đức mà khơng có tài thì làm việc gì
cũng khó, người có tài mà khơng có đức thì vơ dụng. Nhưng chữ “đức” ở đây
phải được hiểu cho đúng. Không thể coi những người gọi dạ, bảo vâng, đúng
cũng gật, sai cũng gật, khơng có chính kiến gì… là những người có đức.
Trong khi đó lại coi những người có chính kiến rõ ràng, dám đấu tranh phê
bình, dám chống lại những sai trái như quan liêu, tham nhũng lại bị coi là kiêu


25
căng tự mãn, là thiếu “đức”.
Nói về tiêu chuẩn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ln coi trọng cả đức
và tài, trong đó đức là gốc. Người chỉ rõ u cầu đối với cán bộ là: “Phải có
chính trị trước rồi có chun mơn; chính trị là đức, chun mơn là tài. Có tài
mà khơng có đức là hỏng... Đức phải có trước tài” [43, tr.26]. Để nhấn mạnh
tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ cách mạng, Bác viết:
Cũng như sơng thì có nguồn mới có nước, khơng có nguồn thì sơng
cạn. Cây phải có gốc, khơng có gốc thì cây héo. Người cách mạng
phải có đạo đức; khơng có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân [43, tr.252 và 253].
Yêu cầu đặt ra hiện nay là nâng cao chất lượng ĐNCBCC cấp xã đủ
phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển, thực hiện có kết quả đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, tận tụy phục vụ nhân dân,
gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng được lòng tin trong nhân dân, cần
kiệm, liêm chính, chí cơng, vơ tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực không
cơ hội, không tham nhũng quan liêu và kiên quyết đấu tranh chống tham
nhũng. Có trình độ chun mơn, chính trị, đủ năng lực và sức khỏe để làm
việc, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mà tổ chức và nhân dân giao phó,
nhất là đối với ĐNCBCC cấp xã.

Khả năng hoàn thành nhiệm vụ: Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã vừa phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước, vừa thuận theo ý Đảng,
lịng dân, trẻ hóa đội ngũ cán bộ công chức cấp xã là nhu cầu, là đòi hỏi khách
quan của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới. Đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã khơng được tri thức hóa và chun mơn hóa thì khơng thể
hồn thành nhiệm vụ. Cán bộ có tư cách, tác phong tốt, phải toàn tâm, toàn ý
phục vụ nhân dân, dám nói thật, dám bảo vệ cái đúng, đấu tranh chống những
tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ. Có mối quan hệ tốt với
các đồng nghiệp và quần chúng nhân dân.


×