HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MỸ LINH
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2017
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ MỸ LINH
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ HUY ĐỨC
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Mỹ Linh
MỤC LỤC
0
MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN ..................................................8
1.1. Một số khái niệm cơ bản .......................................................................8
1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đáp ứng yêu cầu hiện nay
.....................................................................................................................11
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện ..........................................................................................................31
1.4. Tiêu chí đánh giá xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện .........34
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT THÀNH PHỐ VĨNH LONG HIỆN NAY ............39
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt thành phố Vĩnh Long ..........................................................................39
2.2. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố Vĩnh
Long hiện nay .............................................................................................44
2.3. Những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt thành phố Vĩnh Long ..........................................................................57
Chương 3: MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT THÀNH PHỐ VĨNH LONG
ĐẾN NĂM 2020 ............................................................................................63
3.1. Dự báo, mục tiêu, phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
thành phố Vĩnh Long ..................................................................................63
3.2. Những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố
Vĩnh Long ..................................................................................................65
KẾT LUẬN ...................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................81
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là cái gốc
của mọi công việc”, “huấn luyện cán bộ là cơng việc gốc của Đảng”[74,
tr.269], “có cán bộ tốt việc gì cũng xong”, “mn việc thành cơng hoặc thất
bại, đều do cán bộ tốt hay kém”[74, tr.240]. Quán triệt quan điểm của Người,
trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn
quan tâm, chăm lo công tác cán bộ, đã dày công xây dựng, đào tạo được đội
ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được
giao. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, công tác cán bộ là một
trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức là khâu then chốt trong sự nghiệp phát triển
đất nước. Tại Hội nghị Trung ương 3 (khoá VIII), Đảng ta đã khẳng định:
“Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với
vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác
xây dựng Đảng”.
Trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta hiện nay, với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguồn nhân lực bao
giờ cũng là yếu tố quyết định sự thành cơng. Nhất là trong điều kiện đẩy
mạnh cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với nền kinh tế tri thức, khoa học
công nghệ phát triển như vũ bão, nguồn nhân lực càng giữ vị trí quan trọng.
Tại Đại hội XI của Đảng, Đảng ta đã xác định: “phát triển, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong
những yếu tố quyết định đến sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”[34,
tr.41]. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cũng đã đề ra mục tiêu xây
dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2011 - 2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
2
chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực,
có tính chun nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân”[34, tr.143].
Và mới đây, tại Đại hội XII, Đảng ta cũng đã xác định: phải “đổi mới
mạnh mẽ công tác cán bộ”[46 tr.48], “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất
là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất ngang tầm nhiệm
vụ”[46, tr.49].
Thành tựu đạt được của đất nước ta qua hơn 30 năm thực hiện công
cuộc đổi mới có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Đó
là thế hệ những cán bộ đã được tôi luyện, trưởng thành qua thử thách, có ý chí
vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, là những người có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có tư duy đổi mới, đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường, góp
phần vào việc đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
của đất nước.
Tuy nhiên, đứng trước những thách thức của kinh tế thị trường, một bộ
phận không nhỏ cán bộ, công chức đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về
năng lực chun mơn và ý thức chính trị. Tại Hội nghị Trung ương 4 (Khóa
XII), Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có
người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện
quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...; một số cán bộ,
đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong cơng
việc được giao.... Tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ
phận cịn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn
cịn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà
nước...”[47, tr.22].
Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của
Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
3
Đối với thành phố Vĩnh Long- trung tâm chính trị, kinh tế, xăn hóa, xã
hội của tỉnh Vĩnh Long. Phải khẳng định rằng, những thành tựu quan trọng về
phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vĩnh Long đạt được trong những
năm qua phần lớn là do Đảng bộ, quân và dân thành phố Vĩnh Long đã quan
tâm xây dựng và phát huy khả năng trí tuệ, sức mạnh của nguồn nhân lực xã
hội, trong đó có sự góp phần khơng nhỏ của đội ngũ cán bộ cơng chức. Và
cũng nằm trong thực trạng chung của đất nước, của tỉnh Vĩnh Long nói chung
và thành phố Vĩnh Long nói riêng cũng khơng tránh khỏi những hạn chế về
cán bộ, công chức và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức.
Như chúng ta biết, nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới rất nặng nề,
gian khổ và phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng
chức hiện tại và kế cận có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức, năng
lực, uy tín để lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chỉ tiêu kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Vĩnh Long lần thứ XI
nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định một trong ba khâu đột phá của Đảng bộ thành
phố Vĩnh Long là “Đào tạo và sử dụng tốt nguồn nhân lực phù hợp với thành
phố Vĩnh Long với mục tiêu lâu dài”[17, tr.48]. Bản thân cơng tác ở Văn
phịng cấp ủy thành phố Vĩnh Long, nơi tham mưu cho Ban chấp hành Đảng
bộ thành phố ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương chính sách của
Đảng để lãnh đạo phát triển tồn diện mọi mặt của thành phố Vĩnh Long;
trong đó có công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Với tư cách là vừa
người nghiên cứu khoa học, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ
thành phố, bản thân cùng các cơ quan, ban ngành, đoàn thể thành phố Vĩnh
Long tham mưu, đề xuất với Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố những giải
pháp nhằm thực hiện thắng lợi khâu đột phá mà Đại hội đại biểu Đảng bộ
thành phố Vĩnh Long lần thứ XI nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã đề ra. Đây cũng
4
chính là những giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố
Vĩnh Long hiện nay.
Với những lý do trên và thực tế yêu cầu nhiệm vụ, tôi chọn đề tài “Xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long hiện
nay” làm luận văn tốt nghiệp khóa học Thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học,
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề cán bộ, công chức đã được nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Liên quan đến nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức có
một số cơng trình như sau:
- Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên), Cơ sở lý
luận thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, [76]
- Nguyễn Khắc Bộ, “Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của chính
quyền cơ sở”[10].
- Nguyễn Thế Vịnh, Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Nghị quyết
Trung ương 5 (khoá IX). [121]
- Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương , Xây dựng đội ngũ cán
bộ, cơng chức đáp ứng địi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, [75].
Những tài liệu trên đây đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về cán bộ,
công chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức như: khái niệm cán bộ, công
chức, một số nội dung về xây dựng cán bộ, công chức; nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, cơng chức… Tuy nhiên, chưa có học giả nào nghiên cứu về
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của thành phố Vĩnh Long. Vì vậy, đề tài
nghiên cứu của luận văn khơng trùng với các cơng trình khoa học đã được
công bố. Mặc dù vậy, các công trình khoa học trên đây là tài liệu tham khảo
có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này.
5
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước và tình
hình thực tế của thành phố Vĩnh Long, với mong muốn được nâng cao trình
độ, kỹ năng nghiên cứu khoa học, hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp chương
trình sau đại học, bổ sung thêm kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn cho q trình
cơng tác và đóng góp cơng sức của mình vào việc thực hiện thắng lợi khâu
đột phá của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Vĩnh Long nhiệm
kỳ 2015 - 2020, tác giả chọn nội dung “xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
thành phố Vĩnh Long hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở những vấn đề lý luận về cán bộ, cán bộ chủ chốt và thực
trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt của thành phố Vĩnh Long hiện nay, tác giả muốn
đề xuất một số giải pháp cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, nâng
cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 3 nhiệm vụ chính sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
huyện.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt thành phố Vĩnh Long.
- Đề xuất giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, nâng cao
năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố Vĩnh Long.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt thành phố Vĩnh Long.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
6
- Về nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ chủ chốt thành phố Vĩnh Long, bao gồm trưởng, phó các ban,
ngành, đồn thể thành phố Vĩnh Long.
- Về khơng gian, nghiên cứu trên phạm vi thành phố Vĩnh Long.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu tình hình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt thành phố Vĩnh Long từ năm 2010 đến năm 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán
bộ của Đảng; kết thừa những kết quả nghiên cứu về chất lượng và nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ mà các cơng trình nghiên cứu khoa học có liên
quan đã công bố.
5.2. Cơ sở thực tiễn
Luận văn sử dụng, kế thừa kết quả những sơ, tổng kết của Đảng bộ
thành phố Vĩnh Long về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực
tiễn, sử dụng đúng đắn, phù hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp,
lôgic và lịch sử, đặc biệt chú trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
Nguồn tư liệu, luận văn chủ yếu dựa vào các báo cáo sơ, tổng kết của
Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Vĩnh Long.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt và công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố Vĩnh Long hiện nay.
7
Đề xuất các giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm góp phần xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt thành phố Vĩnh Long có đủ phẩm chất, năng
lực đáp ứng yêu cầu hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học
cho việc thực hiện một trong 03 khâu đột phá của Đại hội đại biểu Đảng bộ
thành phố Vĩnh Long khóa XI, nhiệm kỳ 2015 - 2020.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những
luận cứ khoa học cho các cấp ủy đảng trực thuộc Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long
thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện.
Chương 2. Thực trạng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
thành phố Vĩnh Long hiện nay.
Chương 3. Mục tiêu, phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt thành phố Vĩnh Long thời gian tới.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Khái niệm cán bộ
“Cán bộ” trong tiếng Việt là thuật ngữ chỉ những người được bầu cử,
phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan
nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính); thuộc biên chế của một cơ
quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Thuật ngữ “cán
bộ” còn chỉ chung cho những người mang trọng trách, cơng vụ và có những
quyền hạn nhất định. Trong quân sự, “cán bộ” được dùng như từ đồng nghĩa
với sĩ quan. Thuật ngữ “cán bộ” cũng thường được những tù nhân trong trại
giam gọi những người quản lý trại giam, cai tù, cai ngục ở Việt Nam. “Cán
bộ” cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về những người có
quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ
nguồn...), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ thuộc
dịch vụ công cộng).
Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên năm
1998 viết: "Cán bộ: Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà
nước; người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, khơng giữ chức
vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước" [123, tr.249].
Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa hết sức khái quát và dễ hiểu về cán
bộ: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho
Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [73, tr.269].
Theo quy định của Luật Cán bộ, cơng chức năm 2008 thì cán bộ là
cơng dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
9
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước
Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [83, tr.4].
Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để
chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách
hồn thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân cơng, bao gồm
những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà
nước, đồn thể chính trị, xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng
vũ trang từ Trung ương đến địa phương và cơ sở.
Theo đó, cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản sau:
+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác
trong hệ thống chính trị... lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động.
+ Cán bộ giữ chức vụ, trọng trách nào đó trong một tổ chức của hệ
thống chính trị.
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi
hồn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách căn cứ vào nội dung, chất
lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Như vậy, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên
môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân
sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được hình thành từ tuyển dụng,
phân công công tác sau khi tốt nghiệp, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
1.1.2. Khái niệm cán bộ chủ chốt
Theo Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Thanh niên năm 2008 viết: Chủ
chốt là tính từ chỉ "quan trọng nhất, có tác dụng làm nịng cốt” [8, tr.206].
Từ cách tiếp cận đó và từ khái niệm cán bộ, có thể hiểu cán bộ chủ chốt
10
là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nịng cốt
trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được
giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ
máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp
trên và cấp mình về lĩnh vực cơng tác được giao.
Có thể thấy, cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:
+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trị quyết định
trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các
quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên
giao. Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch
lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; rút kinh
nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận. Cán bộ chủ chốt
còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng
thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng tổ chức vững mạnh.
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một nhóm, tập
thể... chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ
quan Đảng, chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đồn thể và là
những người chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động
của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận.
Theo Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Thanh niên năm 2008 viết: đội
ngũ là tập hợp gồm một số đơng người có tổ chức và hợp thành một lực lượng
chiến đấu; là tập hợp gồm một số đông người đảm nhiệm cùng một chức năng
và hợp thành một lực lượng [66, tr.336].
Như vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt là tập hợp những người có chức vụ,
nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức
thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; những người được giao đảm
đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực
hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp
11
mình về lĩnh vực cơng tác được giao.
1.1.3. Khái niệm công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt
Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là thực hiện các mặt của công tác
cán bộ, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đào tạo bồi dưỡng cán bộ,... đảm bảo
được đội ngũ cán bộ chủ chốt có đủ năng lực, phẩm chất, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ.
1.2. XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU HIỆN NAY
1.2.1. Mục tiêu của công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện
Theo Kết luận số 37-KL/TW, ngày 02/02/2009 của Ban Chấp hành
Trung ương “về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến
năm 2020”, mục tiêu cần đạt được là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh
chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự chuyển tiếp
liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của
thời kỳ mới.
1.2.2. Vai trò của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp huyện
Tại Hội nghị Trung ương 3 (Khóa VIII), Đảng ta đã xác định “Cán bộ
là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Cũng có nghĩa là, nếu cơng
tác xây dựng Đảng hiện nay được xác định là nhiệm vụ then chốt thì cơng tác
xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu trọng tâm của công tác xây dựng Đảng- then
chốt của then chốt. Như vậy, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là cái
cốt lõi, là cái trọng tâm của các vấn đề then chốt; nhất là xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện.
Bởi lẽ, cán bộ chủ chốt cấp huyện là những người đứng đầu quan trọng
trong hệ thống chính trị ở huyện, có ảnh hưởng quyết định đến việc chấp hành
12
chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, văn hoá xã hội trên địa bàn cấp huyện. Cán bộ chủ chốt cấp huyện là
người được giao các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về nhiệm
vụ được phân cơng; có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương chính sách và sự
lãnh đạo từ cấp trên theo ngành, lĩnh vực được phân cơng; là người giữ vị trí
quan trọng trong việc cụ thể hố đường lối, chính sách của Đảng, chính quyền
cấp trên vào điều kiện của huyện, của ngành; tham gia đề xuất mục tiêu,
phương hướng, đề ra nghị quyết, chương trình tổ chức để nhân dân thực hiện
những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, chính trị, ổn
định đời sống nhân dân trên địa bàn huyện; có thẩm quyền tham gia giải
quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phịng trong
phạm vi tồn huyện.
Do đó, cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ngày
càng có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có tính lý luận sâu sắc, vừa là yêu cầu
thực tiễn cấp bách, vừa có tính cơ bản lâu dài, vừa là địi hỏi bức xúc của tình
hình hiện tại.
1.2.3. Nội dung của công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp huyện
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện bao gồm nhiều
khâu, từ phát hiện nguồn, tuyển chọn, quy hoạch, đánh giá, nhận xét, đào tạo,
bồi dưỡng, bổ nhiệm, bố trí, luân chuyển và thực hiện chính sách đối với cán bộ.
Các khâu của cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là
một thể thống nhất, có quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ với nhau, tác động,
thúc đẩy lẫn nhau. Thực hiện tốt khâu này là cơ sở và là tiền đề để thực hiện tốt
các khâu khác và ngược lại, nếu có một khâu nào đó thực hiện chưa tốt, khơng
đúng quy trình sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các khâu khác và ảnh hưởng đến kết
13
quả chung của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Vì vậy, trong cơng tác xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, phải kết hợp chặt chẽ và thực hiện
đồng bộ tất cả các khâu, không được bỏ qua hoặc coi nhẹ một khâu nào.
1.2.3.1. Phát hiện nguồn, tuyển chọn cán bộ chủ chốt cấp huyện
Phát hiện nguồn, tuyển chọn cán bộ là một nội dung quan trọng, có tính
quyết định đến chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện.
Nguồn của cán bộ chủ chốt cấp huyện có thể là cán bộ chủ chốt cấp
phường, cán bộ, cơng chức các ban ngành, đồn thể cấp huyện. Ngoài ra, cần
chú trọng:
- Những cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cơng chức có thành tích xuất
sắc trong công cuộc đổi mới dưới 45 tuổi ở các đơn vị, địa phương và các
doanh nghiệp...
- Những công nhân, nơng dân, trí thức, cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ
trang ưu tú, cán bộ dân tộc thiếu số, cán bộ nữ, con em các gia đình có cơng
với cách mạng có triển vọng, có thành tích, sáng kiến trong lao động, công tác.
- Các sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà khoa học trẻ tuổi thuộc các
lĩnh vực.
Việc tuyển chọn cán bộ phải thật sự xuất phát từ nhu cầu cơng việc, vì
việc tìm người thay vì vì người để sắp xếp, bố trí việc.
Thực hiện chế độ dân chủ, công khai trong việc tuyển chọn cán bộ, bảo
đảm tuyển chọn đúng những người có đủ tiêu chuẩn theo từng chức danh.
Xây dựng và thực hiện các quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm một cách chặt chẽ.
Các cơ quan tổ chức có nhu cầu tuyển chọn cán bộ công bố công khai
nhu cầu, đối tượng, tiêu chuẩn cán bộ cần tuyển. Kết quả sát hạch, thi tuyển là
một căn cứ chủ yếu để đề ra quyết định tuyển dụng cán bộ.
Lập hội đồng thi tuyển quốc gia, các hội đồng thi tuyển của ngành, địa
phương. Quy định nhiệm vụ, chức năng, quy chế làm việc của các hội đồng
14
thi tuyển, bảo đảm việc thi tuyển tiến hành một cách chặt chẽ, khách quan và
công bằng.
Tổ chức tốt thi tuyển là giải pháp đột phá trong quá trình đổi mới công
tác cán bộ, nhất là nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ cán bộ chủ chốt cấp
huyện; nhằm phát hiện, thu hút, trọng dụng người đủ đức, đủ tài; nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; tạo môi trường cạnh tranh lành
mạnh trong công tác tuyển chọn cán bộ, từng bước đổi mới quy trình bổ
nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý; tránh tình trạng cục bộ, khép kín trong cơng
tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt cấp huyện; từng bước khắc phục
tình trạng thao túng, tham nhũng trong cơng tác cán bộ; tăng tính cạnh tranh
trong cơng tác tuyển chọn cán bộ. Các ứng viên dự tuyển nằm trong quy
hoạch ở các chức danh cùng cấp hoặc tương đương, không giới hạn trong
phạm vi cơ quan, đơn vị mà mở rộng ra các ban, ngành, địa phương nếu đủ
điều kiện, tiêu chuẩn quy định. Quá trình chuẩn bị nhân sự ứng tuyển, công
tác tổ chức minh bạch, công khai, loại bỏ tính hình thức hay tình trạng “qn
xanh, qn đỏ” như một số kỳ thi trước đây.
1.2.3.2. Xác định tiêu chuẩn quy hoạch cán bộ chủ chốt cấp huyện
Quy hoạch cán bộ là một trong những khâu quan trọng trong công tác
cán bộ. Làm quy hoạch cán bộ là tạo điều kiện để kiện toàn tổ chức và đổi
mới cán bộ một cách thường xuyên. Có quy hoạch cán bộ mới bảo đảm được
tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ cán bộ khơng để bị thiếu, bị hẫng hụt.
Có quy hoạch cán bộ mới có thể xây dựng được kế hoạch cán bộ. Tại Hội
nghị Trung ương 3 (Khóa VIII), Đảng ta đã khẳng định: “Quy hoạch cán bộ là
một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi
vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu
dài” [22; tr.. Quy hoạch cán bộ được thực hiện đồng bộ từ chủ trương, biện
pháp tạo nguồn cán bộ đến việc dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán
bộ, trước hết là cán bộ chủ chốt cấp huyện.
15
Mục tiêu của quy hoạch cán bộ là lựa chọn được những cán bộ thực sự
có đức, có tài để đưa vào nguồn kế cận, dự bị; từng bước giao nhiệm vụ, thử
thách, rèn luyện, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thông qua trường lớp và qua
thực tiễn nhằm tạo nguồn bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ
phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới.
Mục đích của cơng tác quy hoạch cán bộ là:
- Tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong cơng tác cán bộ; khắc
phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm tính
kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán
bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định chính trị.
- Chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện vững vàng về chính trị,
trong sáng về đạo đức, thành thạo về chun mơn, nghiệp vụ, có trình độ và
năng lực, đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu.
Căn cứ để đưa cán bộ vào quy hoạch là tiêu chuẩn chung và các tiêu
chuẩn của từng loại cán bộ đã nêu trong Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban
Chấp hành Trung ương (khóa VIII) và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
cán bộ phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.
Trong điều kiện hiện nay, tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực để quy
hoạch cán bộ chủ chốt cấp huyện được đánh giá thông qua các yếu tố cơ bản sau:
- Năng lực thực tiễn, thể hiện ở kết quả và hiệu quả công việc, tinh thần
chủ động, sáng tạo, mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; khả
năng đoàn kết, tập hợp, quy tụ cán bộ; năng lực tổ chức, điều hành để thúc
đẩy sự phát triển của lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.
- Đạo đức, lối sống trong sạch, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,
chống chủ nghĩa cá nhân; thực hiện nghiêm túc việc Học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bản thân cán bộ và gia đình phải
16
gương mẫu chấp hành đúng pháp luật, không lợi dụng chức quyền để mưu
cầu lợi ích riêng.
- Ham học hỏi, cầu tiến bộ, có triển vọng vươn lên đảm nhận nhiệm vụ
cao hơn; nhất là những nhân tố mới, cán bộ trẻ; được đào tạo cơ bản; đã kinh
qua công tác thực tế ở địa phương, cơ sở; năng động, dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm, có nhiều triển vọng phát triển.
Ngồi các tiêu chuẩn chung nói trên, cán bộ đưa vào quy hoạch cán bộ
chủ chốt cấp huyện còn cần được đào tạo, bồi dưỡng và phải là những cán bộ
có triển vọng để khi được bố trí vào chức vụ quy hoạch phải bảo đảm các yêu
cầu cụ thể sau đây:
- Kinh qua thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở cấp dưới: cán bộ chủ chốt cấp
huyện nói chung phải kinh qua chức vụ chủ chốt cấp dưới (phường - xã);
hoặc tuy chưa kinh qua chức vụ chủ chốt cấp dưới nhưng có năng lực thực
tiễn và có triển vọng phát triển rõ rệt.
- Về độ tuổi: những đồng chí lần đầu tham gia cấp ủy, ban lãnh đạo các
tổ chức trong hệ thống chính trị nói chung phải đủ tuổi để có thể cơng tác từ
hai nhiệm kỳ trở lên hoặc ít nhất phải trọn một nhiệm kỳ; những đồng chí tiếp
tục đảm nhiệm chức vụ hiện giữ nói chung phải đủ tuổi cơng tác trọn một
nhiệm kỳ hoặc ít nhất được 2/3 nhiệm kỳ; những trường hợp này cần xem xét
con người và hoàn cảnh cụ thể để quyết định; khơng máy móc, cứng nhắc về
độ tuổi.
- Về trình độ đào tạo: cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện nói chung
phải tốt nghiệp đại học và có trình độ cao cấp lý luận chính trị; đối với cán bộ
dưới 45 tuổi thuộc diện quy hoạch chức danh chủ chốt thì phải tốt nghiệp đại
học hệ chính quy và cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung; đồng thời quan tâm
đến các đồng chí tuy không được đào tạo cơ bản theo quy định, nhưng có
năng lực nổi trội trong chỉ đạo thực tiễn, được cán bộ, đảng viên và nhân dân
17
tín nhiệm; những đồng chí là cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ cần xem xét
vận dụng một cách thích hợp.
1.2.3.3. Xác định tiêu chí đánh giá cán bộ chủ chốt cấp huyện
Đánh giá đúng cán bộ là tiền đề quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến
chất lượng các khâu khác của công tác cán bộ.
Đánh giá cán bộ là khâu quan trọng của công tác cán bộ, đó là việc làm
khó, rất nhạy cảm vì có ảnh hưởng đến tất cả các khâu khác của công tác cán
bộ, có ý nghĩa quyết định trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ,
chính sách đối với cán bộ cũng như giúp cán bộ phát huy ưu điểm, khắc phục
nhược điểm, tiến bộ khơng ngừng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị,
đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ.
Đánh giá cán bộ đúng sẽ tạo điều kiện cho cán bộ phát huy được sở
trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đánh giá cán bộ không đúng thì
khơng những bố trí, sử dụng cán bộ khơng đúng mà quan trọng hơn là làm
mai một dần động lực phát triển, có khi thui chột những tài năng, làm cho
chân lý bị lu mờ, vàng - thau lẫn lộn, xói mịn niềm tin của đảng viên, quần
chúng đối với cơ quan lãnh đạo, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ:
“Đánh giá cán bộ phải cơng khai, minh bạch, khách quan, tồn diện và cơng
tâm, lấy hiệu quả hồn thành nhiệm vụ cơng tác làm thước đo phẩm chất và
năng lực của cán bộ. Đánh giá cán bộ lãnh đạo phải căn cứ vào hiệu quả cơng
tác, khả năng đồn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh của tập thể, tạo ra sự tiến
bộ và kết quả cụ thể trong ngành, lĩnh vực, địa phương đơn vị mình phụ
trách” [25, tr.295].
Để đánh giá cán bộ đúng, trước hết phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ
(tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể). Phải căn cứ vào hiệu quả công tác
18
thực tế: Hiệu quả về kinh tế; hiệu quả về xây dựng Đảng, Chính quyền và
đồn thể; hiệu quả về đồn kết nội bộ. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của cấp
dưới, sự đồng thuận của quần chúng. Phải căn cứ vào môi trường và điều kiện
công tác, căn cứ vào trách nhiệm liên đới. Đánh giá cán bộ còn phải xem xét
tổng thể các mối quan hệ xã hội và gia đình...
Việc đánh giá cán bộ phải làm hàng năm, trước khi cán bộ kết thúc
nhiệm kỳ, bổ nhiệm, đề bạt hoặc chuyển công tác hay hết thời hạn tập sự.
Đánh giá cán bộ là trách nhiệm của tập thể ban thường vụ cấp ủy.
Công tác đánh giá cán bộ thường hướng tới một số mục đích chủ yếu sau:
- Phát hiện mặt mạnh và mặt yếu của cán bộ để có biện pháp khuyến
khích, thúc đẩy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu, hướng tới nâng cao hiệu quả
công tác cán bộ.
- Xác định căn cứ để thực hiện đúng các khâu khác của công tác cán bộ
như: đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân
chuyển,...
- Thông qua đánh giá cán bộ để các cấp lãnh đạo thấy được những chỗ
cịn thiếu sót trong chủ trương, đường lối, chính sách; trong cơng tác lãnh
đạo, quản lý tổ chức, để từ đó có biện pháp điều chỉnh, hồn thiện các cơng
việc ngày một tốt hơn.
- Đánh giá đúng cán bộ là một biện pháp hữu hiệu để khuyến khích cán
bộ hăng hái phấn đấu vươn lên, tạo cơ hội cho cán bộ thể hiện tài năng, từ đó
phát huy lịng nhiệt tình, tính tích cực, sáng tạo đóng góp cho sự phát triển
của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương.
Việc đánh giá cần dựa trên những tiêu chí khách quan nhằm hạn chế
được những đánh giá theo ý chí chủ quan, cảm tính, khơng phân biệt được
người có thành tích nổi trội với người yếu kém, đánh đồng người làm tốt với
người làm không tốt.
19
Theo Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 04/8/2017 của Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị đã định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp (trong đó có cán bộ chủ chốt cấp huyện), cụ thể như sau:
* Nhóm tiêu chí về chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức
kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc
- Về chính trị tư tưởng
+ Chấp hành chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là
nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.
+ Có quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên định lập trường;
khơng dao động trước mọi khó khăn, thách thức.
+ Đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên
lợi ích cá nhân.
+ Có ý thức nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các đợt sinh hoạt chính
trị và cập nhật kiến thức mới.
- Về đạo đức, lối sống
+ Không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi; khơng có biểu hiện suy
thối về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
+ Có lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị.
+ Có tinh thần đồn kết, xây dựng, thương u đồng chí, đồng nghiệp.
+ Không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình để trục lợi.
- Về tác phong, lề lối làm việc
+ Có trách nhiệm với cơng việc; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám
làm, linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ.
+ Phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc.
+ Hợp tác, hướng dẫn, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp.
20
- Về ý thức tổ chức kỷ luật
+ Chấp hành sự phân công của tổ chức, yên tâm công tác.
+ Thực hiện các quy định, quy chế, nội quy của địa phương, cơ quan,
đơn vị nơi công tác.
+ Thực hiện việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập theo quy định.
+ Báo cáo đầy đủ, trung thực với cấp trên; cung cấp thơng tin chính
xác, khách quan.
* Nhóm tiêu chí về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao
- Tiêu chí chung
+ Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Chỉ đạo thực
hiện cơng tác cải cách hành chính, phịng, chống tham nhũng, lãng phí tại địa
phương, cơ quan, đơn vị.
+ Quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương, cơ quan, đơn vị.
+ Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát; sơ kết, tổng
kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
+ Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, đảng viên,
người lao động.
+ Quan hệ, phối hợp giữa cấp ủy và tập thể lãnh đạo, sự đoàn kết,
thống nhất trong địa phương, cơ quan, đơn vị.
+ Xây dựng và thực hiện chương trình hành động hằng năm của cá
nhân để tập thể chi bộ góp ý và kiểm tra, giám sát thực hiện.
- Tiêu chí đặc thù theo từng nhóm chức danh cán bộ
+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan tham mưu của Đảng
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu, đề xuất, ban
hành, sơ kết, tổng kết các chủ trương, đường lối, chính sách, giải pháp của