Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

CHUYÊN ĐỀ VI SINH VẬT ĐẠI CƯƠNG: TỔNG THỂ VỀ CÚM GIA CẦM H5N1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 26 trang )

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cúm gia cầm là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm, do nhóm virus cúm A, thuộc họ
Orthomyxoviridae gây ra, có khả năng lan truyền từ động vật sang người. Nhóm virus cúm A có 16 phân
type HA (H1 - H16) và 9 phân type NA (N1 - N9) có khả năng tái tổ hợp để tạo nên hàng trăm phân type
khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh. H5N1 thể độc lực cao (HPAI) vẫn đang là mối đe dọa cho
chăn nuôi và sức khỏe cộng đồng.
I. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VIRUS H5N1
Từ cuối năm 2003 đến tháng 6/2008, đã có 385 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó, 243 trường
hợp đã tử vong, chiếm 63,11%, trong đó Việt Nam và Indonesia là hai quốc gia có số người nhiễm và tử
vong cao nhất. Không giống như dịch cúm A/H5N1 giai đoạn 1996 - 2002, có thể khống chế bằng cách tiệu
diệt và loại trừ loài gia cầm trong vùng dịch để cắt đứt truyền lây, cúm A/H5N1 thể độc lực cao giai đoạn
2003 đến nay, với sự xuất hiện nhiều genotype khác nhau, đặc biệt là genotype Z, lan truyền từ Nam Trung
Quốc đến các nơi khác trên thế giới. Đây vẫn là thách thức đối với cộng đồng và cần nghiên cứu ứng dụng
các phương pháp khác nhau để khống chế hiệu quả. Tính gây bệnh của A/H5N1 thể độc lực cao không chỉ
giới hạn ở chức năng điểm cắt protease của HA và hoạt tính của NA, mà là hiệu ứng của sản phẩm đa gen
và khả năng tái tổ hợp tạo virus mới với đặc tính gây bệnh và độc lực khác nhau là vấn đề cần tính đến.
Hàng ngàn cơng trình nghiên cứu về cúm A nói chung và cúm A/H5N1 nói riêng, đặc biệt trong 5 năm gần
đây, trong đó có phát triển cơng nghệ và (các loại) vaccine gây miễn dịch cho gia cầm và chuẩn bị cho đại
dịch có thể xảy ra ở người. Về phương diện dịch tễ, tiến hóa, tạo biến chủng, biến đổi kháng nguyên - miễn
dịch, tính mẫn cảm và đề kháng với dược liệu, khác với nhiều virus khác ở gia cầm, virus cúm A/H5N1 có
xu hướng đột biến nhanh để tạo nên nhiều biến chủng phân chia thành nhiều phân dịng khác nhau và có
tính thích ứng phổ rộng đối với loài mắc. Vaccine được phát triển từ nhiều chủng virus cúm A/H5N1 bằng
kỹ thuật hiện đại, trong đó có cơng nghệ di truyền ngược, đặc biệt vaccine từ chủng NIBRG-14 hứa hẹn
tiềm năng phòng chống. Trong bài tổng quan này, chúng tôi giới thiệu những đặc điểm cơ bản của vấn đề
virus học, sinh học phân tử và khái quát mối quan hệ kháng nguyên - miễn dịch - vaccine của cúm
A/H5N1. Tóm lược những nghiên cứu của các nhà khoa học và tổ chức Việt Nam tại bối cảnh Việt Nam và
trên nền virus cúm A/H5N1 của Việt Nam, trong đó có đóng góp của Viện Cơng nghệ sinh học về gen
học/protein học về gen kháng nguyên HA/NA và vaccine thế hệ mới cũng được giới thiêu.
II. TÌNH HÌNH BỆNH CÚM GIA CẦM
1.Khái quát bệnh cúm gia cầm
Cúm gia cầm (Avian Influenza, AI) là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm, do nhóm virus cúm


A, thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra. Đây là nhóm virus có biên độ chủ rộng, được phân chia thành nhiều
phân type khác nhau dựa trên kháng nguyên HA và NA có trên bề mặt capsid của hạt virus (de Wit,
Fouchier, 2008). Nhóm virus cúm A có 16 phân type HA (từ H1 đến H16) và 9 phân type NA (từ N1 đến
N9), và sự tái tổ hợp (reassortment) giữa các phân type HA và NA, về mặt lý thuyết, sẽ tạo ra nhiều phân
type khác nhau về độc tính và khả năng gây bệnh. Mặt khác, virus cúm A có đặc tính quan trọng là dễ dàng
đột biến trong gen/hệ gen (đặc biệt ở gen NA và HA), hoặc trao đổi các gen kháng nguyên với nhau, trong
quá trình xâm nhiễm và tồn tại lây truyền giữa các loài vật chủ. Họ Orthomyxoviridae đã được phát hiện
bao gồm 4 nhóm virus, đó là: nhóm virus cúm A (Influenza A); nhóm virus cúm B (Influenza B); nhóm
virus cúm C (Influenza C); và nhóm Thogotovirus. Các nhóm virus khác nhau bởi các kháng nguyên bề
mặt capsid, ở virus cúm A và B là Hemagglutinin (HA), ở virus cúm C là Hemagglutinin Esterase Fusion
(HEF), và ở Thogotovirus là Glycoprotein (GP) (Murphy, Webster, 1996; Ito et al., 1998).

1


bệnh
giới

cúm

2.Tình hình dịch
A/H5N1 trên thế

Cúm
A/H5N1 là một
virus có độc
lực cao, và gây
bệnh trên
người trong các
vụ dịch cúm

gà những năm
1996 2008, đặc biệt ác
liệt là do
virus cúm
A/H5N1 thể
độc lực cao
(HPAI,
highly pathogenic
avian
influenza) gây ra
kể từ năm
2003 cho đến nay
và phát sinh nhiều dưới dịng (sublineage) và nhóm/phân nhóm (clade) có độc lực rất cao (Horimoto,
Kawaoka, 2001; Nicholson et al., 2003; Perkins, Swayne, 2003; Ligon, 2005) (Hình 1). Chủng virus cúm
A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959. Có thể gọi cúm
A/H5N1 phân lập năm 1959 tại Scotland là virus cúm A/H5N1 cổ điển (danh pháp: A-Ck-Scotland-(59)
(H5N1) (số đăng ký: X07869). Từ đó cho đến nay, H5 và N1 đã có thay đổi lớn xét về cấu trúc thành phần
gen và kháng nguyên miễn dịch (Horimoto, Kawaoka, 2006). Sau gần 40 năm không phát hiện, cúm
A/H5N1 xuất hiện tại Quảng Đông (1996), và Hồng Kông (1997) với biến đổi sâu sắc, không những gây
chết gia cầm mà cịn thích ứng và gây chết người bệnh. Có thể coi dịng virus cúm A/H5N1 từ 1996 đến
nay là cúm A/H5N1 hiện đại mới xuất hiện (de Jong, Hien, 2006). Đặc biệt, từ 2003 đến nay, virus H5N1
gây ra dịch cúm trên gia cầm tại Hồng Kông, Trung Quốc và lây lan sang hàng chục quốc gia trên thế giới
ở châu Á, châu Âu và châu Phi. Cúm A/H5N1 giai đoạn 2003 đến nay, cơ bản về cấu trúc vẫn như trước đó,
nhưng xét về độc lực (tính gây bệnh), lồi vật chủ nhiễm bệnh, tính kháng nguyên - miễn dịch và mức độ
truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác với nhiều biến chủng H5N1 trước đây (Hulse-Post et al.,
2005; Subbarao, Luke, 2007; Zhao et al., 2008) (Hình 1).

2



Hình 1: Bản đồ các quốc gia xảy ra dịch cúm A/H5N1 (WHO, tính đến 15/09/2008). Phần bơi đậm là
vùngdịch cúm xảy ra trên gia cầm; phần bôi nhạt là vùng dịch cúm chỉ xảy ra trên chim hoang dã.
Bảng 1. Tổng số trường hợp nhiễm cúm gia cầm A/H5N1 ở người báo cáo cho WHO từ tháng 12/2003 đến
19/6/2008.
Quốc gia

2003

2004

Mắc

Chết

Mắc

Azerbaija
n

0

0

0

Banglade
sh

0


0

Cambodia

0

Trung
Quốc

2005

Chết

2006

2007

2008

Tổng số

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc


Chết

Mắc

Chết

Mắc

Chết

0

0

0

8

5

0

0

0

0

8


5

0

0

0

0

0

0

0

0

1

0

1

0

0

0


0

4

4

2

2

1

1

0

0

7

7

1

1

0

0


8

5

13

8

5

3

3

3

30

20

Djibouti

0

0

0

0


0

0

1

0

0

0

0

0

1

0

Ai Cập

0

0

0

0


0

0

18

10

25

9

7

3

50

22

Indonesia

0

0

0

0


20

13

55

45

42

37

18

15

135

110

Irak

0

0

0

0


0

0

3

2

0

0

0

0

3

2

Lào

0

0

0

0


0

0

0

0

2

2

0

0

2

2

Myanmar

0

0

0

0


0

0

0

0

1

0

0

0

1

0

Nigeria

0

0

0

0


0

0

0

0

1

1

0

0

1

1

Pakistan

0

0

0

0


0

0

0

0

3

1

0

0

3

1

Thái Lan

0

0

17

12


5

2

3

3

0

0

0

0

25

17

Thổ Nhĩ
Kỳ

0

0

0


0

0

0

12

4

0

0

0

0

12

4

Việt Nam

3

3

29


20

61

19

0

0

8

5

5

5

106

52

Tổng

4

4

46


32

98

43

115

79

88

59

34

26

385

243

Ghi chú: Số ca mắc bệnh bao gồm cả các ca tử vong. WHO chỉ ghi nhận những ca được xác nhận bằng xét
nghiệm và được báo cáo chính thức. Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới - WHO (tính đến tháng 6/2008).
Từ cuối 2005, cúm A/H5N1, chủ yếu là các chủng virus thuộc phân dòng Thanh Hải (nguồn gốc
vùng Bắc Trung Quốc) bắt đầu lan sang một số nước vùng Trung Á, trong đó có Nga, rồi tràn ngập Đơng
Âu và xâm nhập vào các nước vùng Tiểu Á, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Bắc- Trung Phi, đặc biệt Ai
Cập và Nigeria là các nước chịu thiệt hại nhiều nhất (Salzberg, 2007). Nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan,
trong hơn mười năm qua, trên thế giới đã có hàng trăm triệu gia cầm đã bị tiêu hủy, gây thiệt hại nặng nề
cho ngành chăn nuôi và kinh tế. Đặc biệt, số người nhiễm và tử vong do virus cúm A/H5N1, mỗi năm một

cao hơn, theo thống kê số người bị nhiễm cúm gia cầm H5N1 báo cáo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), từ
năm 2003 đến tháng 6/2008, đã có tới 385 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó, 243 trường hợp đã tử
vong chiếm tới 63,11%. Việt Nam và Indonesia là các 2 quốc gia có số người nhiễm và tử vong cao nhất do
virus cúm A/H5N1 trên thế giới (Bảng 1). Trong số 16 nước có người chết do cúm gia cầm, Inonesia và

3


Việt Nam được WHO xác định là quốc gia “điểm nóng” có thể cúm A/H5N1 có được các điều kiện thuận
lợi để tiến hóa thích nghi lây nhiễm và trở thành virus của người.
3.Tình hình dịch bệnh cúm A/H5N1 ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm A/H5N1 bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở các tỉnh phía Bắc, sau
đó đã nhanh chóng lan tới hầu hết các tỉnh/thành trong cả nước chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là lần đầu
tiên dịch cúm gia cầm A/H5N1 xảy ra tại Việt Nam, có tới hàng chục triệu gia cầm bị tiêu hủy, gây thiệt hại
nặng nền tới nền kinh tế quốc dân. Tính đến nay (tháng 10/2008), dịch cúm gia cầm liên tục tái bùng phát
hàng năm tại nhiều địa phương trong cả nước, có thể phân chia thành các đợt dịch lớn như sau:
- Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 và 30/03/2004, dịch cúm xảy ra ở các tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền
Giang. Dịch bệnh lây lan rất nhanh, chỉ trong vòng hai tháng đã xuất hiện ở 57/64 thành trong cả nước.
Tổng số gà và thủy cầm mắc bệnh, chết và thiêu hủy hơn 43,9 triệu con, chiếm 17% tổng đàn gia cầm.
Trong đó, gà chiếm 30,4 triệu con, thuỷ cầm 13,5 triệu con. Ngồi ra, có ít nhất 14,8 triệu chim cút và các
loại khác bị chết hoặc thiêu huỷ. Đặc biệt, có 3 người được xác định nhiễm virus cúm A/H5N1 và cả 3 đã
tử vong trong đợt dịch này.
- Đợt dịch thứ 2 từ tháng 4 đến tháng 11/2004: dịch bệnh tái phát tại 17 tỉnh, thời gian cao điểm nhất là
trong tháng 7, sau đó giảm dần đến tháng 11/2004 chỉ còn một điểm phát dịch. Tổng số gia cầm tiêu hủy
được thống kê trong vụ dịch này là 84.078 con. Trong đó, có gần 56.000 gà; 8.132 vịt; và 19.950 con chim
cút. Và đã có tới 27 người mắc bệnh virus cúm A/H5N1, trong đó có 9 ca tử vong - Đợt 3 từ tháng 12/2004
cho đến tháng 15/12/2005: dịch cúm gà xảy ra trên 36 tỉnh thành trong cả nước. Số gia cầm bị tiêu hủy
được Cục Thú y thống kê là 1,846 triệu con (gồm 470.000 gà, 825.000 thủy cầm và 551.000 chim cút). Vào
những tháng cuối năm 2005, dịch cúm gà xảy ra trong tháng 10/2005 lan nhanh trong gần 40 tỉnh thành và
giảm dần trong tháng 12/2005 - Sau một năm (2006), do áp dụng chương trình tiêm chủng rộng rãi cho các

đàn gia cầm trong cả nước, cùng với các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt, dịch cúm A/H5N1 không
xảy ra ở Việt Nam. Mặc dù vậy, đến 06/12/2006 dịch cúm gia cầm A/H5N1 đã tái bùng phát ở Cà Mau, sau
đó lan sang các tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ- Trong năm 2007, dịch bệnh tái phát tại
Hải Dương vào ngày 17/02/2007 và được khống chế sau 1 tháng. Tuy nhiên, đến ngày 01/05/2007 dịch
bệnh tiếp tục tái phát tại Nghệ An, sau đó lan sang nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Theo Báo cáo của
Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đến ngày 10/06/2007 dịch đã xảy ra trên 16 tỉnh,
thành phố (Nghệ An, Quảng Ninh, Cần Thơ, Sơn La, Nam Định, Đồng Tháp, Hải Phịng, Bắc Giang, Ninh
Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Quảng Nam, Hưng Yên, Thái Bình và Phú Thọ), và chỉ được khống
chế hoàn toàn vào 8/2007.
- Gần đây, dịch bệnh lại tiếp tục tái bùng phát ở một số tỉnh phía Bắc vào tháng 3/2008. Cho đến tháng
6/2008, dịch cúm gia cầm A/H5N1 về cơ bản đã được khống chế trên toàn quốc.
III. CẤU TẠO VIRUS CÚM A/H5N1

Virut cúm gia cầm có tên khoa học là avian influenza (H5N1) là phân nhóm của lồi
virus cúm A thuộc chi Influenzavirus A trong họ Orthomyxoviridae.
Tên gọi phân nhóm H5N1 là liên quan đến loại protein kháng nguyên trên vỏ virus: protein hemagglutinin
nhóm 5 (H5) và neuraminidase nhóm 1 (N1). Chữ H (hemaglutinin – chất ngưng kết hồng cầu) và N
(Neuraminidase – enzim tan nhầy) là ký hiệu của 2 kháng nguyên gây nhiễm trên vỏ của hạt virus cúm A,
giúp virus gắn vào thành tế bào và sau đó đột nhập vào tế bào hơ hấp.

4


Hình ảnh virus cúm H5N1 dưới kính hiển vi điện tử
1. Khái quát chung virus cúm ( Influenza virus)
Virut cúm (Influenza virus) là thành viên họ Orthomyxoviridae, gồm 3 týp A, B và C. Trong đó:
-Nhóm virus cúm A: gây bệnh cho chim, động vật có vú và người
-Nhóm virus cúm B :chỉ gây bệnh cho người
-Nhóm virus cúm C: gây bệnh người.
Virut cúm A được chia thành nhiều phân týp dựa trên kháng nguyên bề mặt ngưng kết hồng cầu

Hemagglutinin (H) và neuraminidase (N).
Về hình thái học virut cúm A, B, C tương tự nhau. Các virion là những phân tử hình cầu, bề mặt khơng
đồng đều, đường kính 80 - 120 nm và có 1 lớp vỏ lipid trên bề mặt là nơi xuất hiện những glycoprotein H
và N.
Kháng thể của
kháng
nguyên H là
yếu tố
quyết định chủ
yếu sự
miễn dịch đối
với
virut
cúm,
trong
khi
những
kháng
thể của kháng
nguyên
N giới hạn sự
lây
truyền và góp
phần
làm
giảm
nhiễm virut. Bộ gen virut cúm A và B gồm 8 đoạn ARN đơn có 890 - 2341 nucleotid, mã hố các protein
cấu trúc và phi cấu trúc. Virut cúm rất dễ biến dị nhất là virut cúm A. Do biến dị nên virut cúm gồm nhiều
phân týp. Có 16 loại kháng nguyên H (H1 -> H16) và 9 kháng nguyên N (N1 -> N9), nghĩa là có tất cả 144
5



tập hợp các loại virut cúm A. Virus H5N1 thuộc dịng virus cúm loại A có gen HA là H5 và gen NA1 là N1.

2. Cấu tạo của virus H5N1
VIRUS cúm A/H5N1 thuộc type A là 1 trong 4 nhóm của họ Orthomyxoviridae. Cấu trúc bao gồm:
ᄃᄃ
Hạt virus(virion) có
dạng hình cầu hoặc khối
đa diện có d=80-120nm,
m=250 triệu dalton. Phân
tích thành phần hóa học
một virion có chứa khoảng
0,8 - 1,1% RNA; 70 - 75%
là protein; 20 - 24% lipid
và 5 - 8% là carbohydrase.
Hạt virus có cấu tạo đơn giản
gồm vỏ (capsid), vỏ bọc ngoài (envelope), lõi RNA sợi đơn âm 10000- 15000 nu.
2.1. Cấu tạo vỏ virus cúm A/H5N1:
Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền ARN của virus, bản chất cấu tạo là màng
lipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm được đặc hiệu hóa gắn các protein màng của virus. Trên bề
mặt khoảng 500 gai mấu nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10-14nm , d=4-6nm, đó là
những
kháng nguyên của bề
mặt
vỏ
virus.
Bản

chất cấu tạo là

glycoprotein
gồm
HA, NA, M
(matrix antigen), và
các dấu ấn
khác của virus. Có sự
phân
bố
khơng đồng đều giữa
các phân tử
HA và NA (tỉ lệ
khoảng
4HA/1NA).
Các
protein HA
và NA quyết định tính
kháng nguyên của từng type virus. Đây là 2 protein kháng ngun có vai trị quan trọng trong quá trình xâm
nhiễm vật chủ của virus:
6


- HA có chức năng giúp virus bám dính vào tế bào cảm thụ và làm xâm nhập vật liệu di truyền của virus
vào bên trong tế bào.
- NA có chức năng thúc đẩy sự lắp ráp để giải phóng virus từ các tế bào cảm thụ.
2.1.1.Cấu trúc và chức năng của protein HA
Hai protein HA và NA là các protein chính bề mặt capsid (major capsid protein) đặc trưng cho bản chất
của từng chủng virus cúm A (Murphy, Webster, 1996; Keawcharoen et al., 2005).
2.1.1.1. Cấu trúc HA (Hemagglutinin)
Protein hemagglutinin là một glycoprotein thuộc protein màng type I (lectin), có khả năng gây ngưng
kết hồng cầu gà trong ống nghiệm (in vitro), kháng thể đặc hiệu với HA có thể phong tỏa sự ngưng kết đó,

được gọi là kháng thể ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI- Hemagglutinin Inhibitory antibody). Có khoảng
400 phân tử HA trên bề mặt capsid của một virus, có vai trị quan trọng trong q trình nhận diện virus và
khởi động quá trình xâm nhiễm của virus vào tế bào chủ (Bender et al., 2001; Wagner et al., 2002). Phân tử
HA có dạng hình trụ, dài khoảng 130 ăngstron (Å), cấu tạo gồm 3 đơn phân (trimer), mỗi đơn phân
(monomer) được tạo thành từ hai dưới đơn vị HA1(36 kDa) và HA2(27 kDa), liên kết với nhau bởi các cầu
nối disulfide (-S-S-). Các đơn phân sau khi tổng hợp đã được glycosyl hóa (glycosylation) và gắn vào mặt
ngoài capsid là dưới đơn vị HA2, phần đầu tự do hình chỏm cầu được tạo bởi dưới đơn vị HA1 chứa đựng
vị trí gắn với thụ thể thích hợp của HA trên bề mặt màng tế bào đích (Bosch et al., 1979; 1981; Wagner et
al., 2002).
2.1.1.2. Chức năng protein HA
Sự kết hợp của HA với thụ thể đặc hiệu (glycoprotein chứa sialic acid) trên bề mặt màng tế bào, khởi
đầu quá trình xâm nhiễm của virus trên vật chủ giúp cho virus xâm nhập, hòa màng và giải phóng RNA hệ
gen thực hiện q trình nhân lên ở trong tế bào cảm nhiễm. Quá trình kết hợp phụ thuộc vào sự phù hợp
cấu hình khơng gian của thụ thể chứa acid sialic của tế bào đích với vị trí gắn với thụ thể này trên phân tử
HA của virus cúm, quyết định sự xâm nhiễm dễ dàng của virus ở các loài vật chủ khác nhau (Webster,
1998; Wagner et al., 2002). Vị trí amino acid 226 (aa226) của dưới đơn vị HA1 được xác định là vị trí
quyết định phù hợp gắn HA với thụ thể đặc hiệu của nó, ở hầu hết các chủng virus cúm A lưu hành trong tự
nhiên vị trí này là Glycine, thích ứng với thụ thể Galα-2,3 sialic acid (chứa sialic acid liên kết với nhóm
hydroxyl (4-OH) của galactose ở góc quay α-2,3) của tế bào biểu mô đường hô hấp của chim và gia cầm
(vật chủ tự nhiên của virus cúm A). Ngồi ra, một số vị trí amino acid khác: Glutamine 222, Glycine 224,
hay cấu trúc SGVSS và NGQSGR cũng có sự liên quan chặt chẽ đến khả năng thích ứng với thụ thể chứa
sialic acid bề mặt màng tế bào chủ (Keawcharoen et al., 2005). Đặc biệt, một số chủng virus cường độc
A/H5Nx; A/H7Nx lưu hành hiện nay có thể xâm nhiễm trên người, khi chúng có tải lượng cao trong đường
hô hấp (do tiếp xúc trực tiếp với chất thải hay gia cầm nhiễm bệnh) (Webster, 1998; Bauer et al., 2006; Hui
et al., 2008).
Trình tự mã hóa chuỗi nối, và thành phần chuỗi nối trên protein HA cũng như các vị trí amino acid
liên quan đến khả năng gắn với thụ thể thích ứng, được coi là các chỉ thị phân tử trong nghiên cứu phân tích
gen kháng nguyên HA (Keawcharoen et al., 2005). Protein HA còn là kháng nguyên bề mặt quan trọng của
virus cúm A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch thể đặc hiệu với từng type HA, và tham gia
vào phản ứng trung hòa virus, được coi là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc

lực của virus, là đích của bảo vệ miễn dịch học nhằm ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus ở cơ thể nhiễm, cơ
sở điều chế các vaccine phòng cúm hiện nay (Bosch et al., 1982; Matrosovich et al., 1999; Keawcharoen et
al., 2005 ; Horimoto, Kawaoka, 2006).
2.1.2. Cấu trúc và chức năng của Protein NA (neuraminidase)
7


2.1.2.1. Cấu trúc protein NA
Protein neurominidase còn gọi là sialidase (mã số quốc tế là E.C 3.2.1.18), là một protein enzyme có
bản chất là glycoprotein được gắn trên bề mặt capsid của virus cúm A, mang tính kháng nguyên đặc trưng
theo từng phân type NA (Baigent, McCauley, 2001; Wagner et al., 2002). Có khoảng 100 phân tử NA xen
giữa các phân tử HA trên bề mặt capsid hạt virus. Phân tử NA có dạng nút lồi hình nấm, đầu tự do (chứa
vùng hoạt động) gồm 4 dưới đơn vị giống như hình cầu nằm trên cùng một mặt phẳng, và phần kị nước gắn
vào vỏ capsid (Castrucci, Kawaoka, 1993; Wagner et al., 2002).
2.1.2.2.Chức năng protein NA
Protein NA có vai trị là một enzyme cắt đứt liên kết giữa gốc sialic acid của màng tế bào nhiễm với
phân tử cacbonhydrate của protein HA, giải phóng hạt virus ra khỏi màng tế bào nhiễm, đẩy nhanh sự lây
nhiễm của virus trong cơ thể vật chủ, và ngăn cản sự tập hợp của các hạt virus mới trên màng tế bào. Mặt
khác, NA tham gia vào phân cắt liên kết này trong giai đoạn “hịa màng”, đẩy nhanh q trình cởi áo
“uncoating” giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương tế bào nhiễm, giúp cho quá trình nhân lên của
virus diễn ra nhanh hơn (Wagner et al., 2002). Ngoài ra, NA cịn phân cắt các liên kết glycoside, giải phóng
neuraminic acid làm tan lỗng màng nhầy bề mặt biểu mơ đường hơ hấp, tạo điều kiện cho virus nhanh
chóng tiếp cận tế bào biểu mơ và thốt khỏi các chất ức chế khơng đặc hiệu. Cùng với vai trị của kháng
ngun HA, cả 3 khâu tác động trên của NA đều tham gia làm gia tăng độc lực gây bệnh của virus cúm A ở
cơ thể vật chủ. Do đó, NA là đích tác động của các thuốc, hóa dược ức chế virus không đặc hiệu hiện nay,
đặc biệt là Oseltamivir (biệt dược là Tamiflu) phong tỏa enzyme này, ngăn cản sự giải phóng hạt virus mới
khỏi các tế bào đích, bảo vệ cơ thể (Castrucci, Kawaoka, 1993; Aoki et al., 2007).
Bên cạnh đó, NA cịn là một kháng ngun bề mặt của virus, tham gia kích thích hệ thống miễn dịch
của cơ thể chủ, sinh ra kháng thể đặc hiệu với kháng nguyên NA của các chủng virus đương nhiễm có tác
dụng phong tỏa protein NA (Doherty et al., 2006). Như vậy, kháng nguyên NA cùng với kháng nguyên HA

của virus là các đích chủ yếu của cơ chế bảo hộ miễn dịch của cơ thể với virus cúm A, và là cơ sở điều chế
các vaccine phòng cúm hiện nay cho người và gia cầm, nhằm ngăn chặn dịch cúm ở gia cầm và hạn chế lây
truyền sang người (Suarez, Schultz-Cherry, 2000; Wu et al., 2008b).
2.2.Hệ gen virus cúm A/ H5N1

Hệ gen virus cúm A là RNA sợi
đơn âm (-)ssRNA, bao gồm 8 phân
đoạn gen riêng biệt có 8 ᄃ 90 - 2341
nucleotide mang tên từ 1-8 theo thứ
tự giảm dần của kích thước phân tử
(hay được gọi theo tên protein mà
chúng mã hóa tổng hợp), mã hóa cho 11 protein khác nhau của virus gồm: HA, NA, M (M1 và M2), NP,
NS (NS1 và NS2), PA, PB1, PB1-F2 và PB2 ,(Murphy, Webster, 1996; Luong, Palese, 1992; Rabadan et
al., 2006). Mỗi phân đoạn RNA của virus cúm A có cấu trúc xoắn bậc 2 α đối xứng dài 50 - 100 nm, đường
kính 9 - 10 nm, được bao bọc bởi nucleoprotein (NP) - bản chất là lipoprotein, tạo thành cấu trúc
ribonucleoprotein (RNP). Mỗi RNP kết hợp với 3 protein enzyme polymerase (PA, PB1 và PB2) chịu trách
nhiệm trong quá trình phiên mã và sao chép RNA của virus. Các phân đoạn của hệ gen virus cúm A nối với
nhau bằng các cầu nối peptide tạo nên vòm (loop) tại giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, tạo ra một sợi RNA
duy nhất có tổng độ dài từ 10.000- 15.000 bp (tuỳ theo từng chủng virus cúm A), chứa đựng khoảng 13,5
kilobase thơng tin di truyền và có cấu trúc xoắn α (α-helix) bên trong vỏ virus. Hai đầu 5’- và 3’- sợi RNA
8


hệ gen virus có gắn thêm chuỗi nucleotide có tính bảo tồn cao giữa các phân type là: 5’AGUAGAACAAGG… và 3’- UCG(U/C)UUUCGU CC (Luong, Palese, 1992; Murphy, Webster, 1996).
Các phân đoạn gen của virus cúm A/H5N1
Các phân đoạn 1, 2 và 3 là những phân đoạn mã hóa tổng hợp các enzyme trong phức hợp
polymerase (RNA transcriptase) của virus, có độ dài ổn định và có tính bảo tồn cao, bao gồm:
- Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein enzyme PB2, là tiểu đơn vị
thành phần trong phức hợp enzyme polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus.
Protein PB2 có khối lượng phân tử theo tính tốn khoảng 84.103Da (trên thực tế là 87.103Da) (Murphy,

Webster, 1996). Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được cho là có liên quan đến vị trí amino acid
627 ở protein PB2 (ở virus cúm gia cầm vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 40oC,
cịn ở virus thích nghi trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 37oC) (Subbarao, 1993;
Wasilenko et al., 2008).
- Phân đoạn 2 (gen PB1) cũng có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp enzyme PB1 - tiểu đơn vị
xúc tác của phức hợp enzym polymerase trong quá trình tổng hợp RNA virus, chịu trách nhiệm gắn mũ
RNA (Murphy, Webster, 1996). Gần đây, đã có phát hiện thêm một protein (PB1-F2) được mã hóa bởi một
khung đọc mở khác của PB1, có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis (hiện tượng tế bào chết theo chương
trình) (Uiprasertkul et al., 2007).
- Phân đoạn 3 (gen PA) có kích thước 2233 bp, là phân đoạn gen bảo tồn cao, mã hóa tổng hợp
protein enzyme PA có khối lượng phân tử theo tính tốn khoảng 83.103Da (trên thực tế là 96.103Da). PA là
một tiểu đơn vị của polymerase chịu trách nhiệm kéo dài sự phiên mã RNA trong quá trình tổng hợp RNA
của virus (Luong, Palese, 1992).
Các phân đoạn 4 và 6 mã hóa cho các protein (HA và NA) bề mặt capsid của virus, có tính kháng
nguyên đặc trưng theo từng chủng virus cúm A, bao gồm:
- Phân đoạn 4 (gen HA) có độ dài thay đổi tuỳ theo từng chủng virus cúm A (ở A/H1N1 là 1778 bp, ở
H9N1 là 1714 bp, ở H5N1 là khoảng 1704 - 1707 bp). Đây là gen chịu trách nhiệm mã hóa tổng hợp
protein HA - kháng nguyên bề mặt virus cúm, gồm hai tiểu phần là HA1 và HA2. Vùng nối giữa HA1 và
HA2 gồm một số amino acid mang tính kiềm được mã hóa bởi một chuỗi oligonucleotide, đó là điểm cắt
của enzym protease, và đây là vùng quyết định độc lực của virus (Bosch et al., 1979; Gambotto et al.,
2008). Protein HA có khối lượng phân tử khoảng 63.103Da (nếu khơng được glycosyl hóa) và 77.103Da
(nếu được glycosyl hóa, trong đó HA1 là 48.103Da và HA2 là 29.103Da) (Luong, Palese, 1992;
Keawcharoen et al., 2005).
- Phân đoạn 6 (gen NA) là một gen kháng nguyên của virus, có chiều dài thay đổi theo từng chủng
virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi khoảng từ 1350 - 1410 bp). (Nguyễn Thị Bích Nga,
2006). Đây là gen mã hóa tổng hợp protein NA, kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân
tử theo tính tốn khoảng 50.103Da (trên thực tế là 50 - 60.103Da). Các nghiên cứu phân tử gen NA của
virus cúm cho thấy phần đầu 5’- của gen này (hay phần tận cùng N của polypeptide NA) có tính biến đổi
cao và phức tạp giữa các chủng virus cúm A, sự thay đổi này liên quan đến q trình thích ứng và gây bệnh
của virus cúm trên nhiều đối tượng vật chủ khác nhau (Castrucci, Kawaoka, 1993; Baigent, McCauley,

2001; Wagner et al., 2002). Đặc trưng biến đổi của gen NA trong virus cúm A là hiện tượng đột biến trượtxóa một đoạn gen là 57 nucleotide, rồi sau đó là 60 nucleotide, làm cho độ dài vốn có trước đây của
NA(N1) là 1410 bp còn 1350 bp (Castrucci, Kawaoka, 1993; Lê Thanh Hòa, 2006; Keawcharoen et al.,
2005).

9


Các phân đoạn gen M, NP và NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng khác nhau của virus, có độ
dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A, bao gồm:
- Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1556 bp, mã hóa tổng hợp nucleoprotein (NP) - thành
phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ. NP là
một protein được glycosyl hóa, có đặc tính kháng nguyên biểu hiện theo nhóm virus, tồn tại trong các hạt
virus ở dạng kết hợp với mỗi phân đoạn RNA, có khối lượng phân tử theo tính tốn khoảng 56.103Da (trên
thực tế là 50 - 60.103Da) (Luong, Palese, 1992; Murphy, Webster, 1996;Salzberg, 2007).
- Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước khoảng 1027 bp, mã hóa cho protein đệm (matrix protein - M)
của virus (gồm hai tiểu phần là M1 và M2 được tạo ra bởi những khung đọc mở khác nhau của cùng một
phân đoạn RNA), cùng với HA và NA có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt capsid của virus cúm A, có
mối quan hệ tương tác bề mặt với hemagglutinin (Scholtissek et al., 2002). Protein M1 là một protein nền,
là thành phần chính của virus có chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình
“nảy chồi” của virus (Luong, Palese, 1992; Murphy, Webster, 1996; Basler, 2007). Protein M2 là chuỗi
polypeptide bé, có khối lượng phân tử theo tính tốn là 11.103Da (trên thực tế là 15.103Da), là protein
chuyển màng - kênh ion (ion channel) cần thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi
áo” virus trình diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ (Scholtissek et
al., 2002).
- Phân đoạn 8 (gen NS), là gen mã hóa protein khơng cấu trúc (non structural protein), có độ dài ổn
định nhất trong hệ gen của virus cúm A, kích thước khoảng 890 bp, mã hóa tổng hợp hai protein là NS1 và
NS2 (còn gọi là NEP, nuclear export protein), có vai trị bảo vệ hệ gen của virus nếu thiếu chúng virus sinh
ra sẽ bị thiểu năng (Murphy, Webster, 1996; Sekellick et al., 2000). Độc tính của virus có sự liên quan với
gen khơng cấu trúc (non-structural gen) này được tìm thấy ở biến chủng A/H5N1/97 (Webster, 1998), trong
tự nhiên, việc đột biến xóa đi một phần gen có liên quan đến giảm độc lực (Zhu et al., 2008). NS1 có khối

lượng phân tử theo tính tốn là 27.103Da (trên thực tế là 25.103Da), chịu trách nhiệm vận chuyển RNA
thông tin của virus từ nhân ra bào tương tế bào nhiễm, và tác động lên các RNA vận chuyển cũng như các
quá trình cắt và dịch mã của tế bào chủ. NEP hay NS2, là gen hình thành từ hai đoạn gen (30 bp và 336 bp)
mã hóa loại protein có khối lượng phân tử theo tính tốn khoảng 14.103Da (trên thực tế là 12x103Da),
đóng vai trị vận chuyển các RNP của virus ra khỏi nhân tế bào nhiễm để lắp ráp với capsid tạo nên hạt
virus mới (Sekellick et al., 2000; Zhu et al., 2008).
Chức năng của từng gen trong cấu trúc của virus:

Gen

Kích
thước (nt)

Polypeptide

Chức năng

Là tiểu đơn vị của polymerase (RNA transcriptase), nhận diện mũ
chụp M7- GpppXm Nm của RNA tế bào chủ
1

2341

PB2

10


Là tiểu đơn vị xúc tác của polymerase (RNA transcriptase)


2

2341

PB1

3

2233

PA

Là tiểu đơn vị của polymerase (RNA transcriptase), tham gia tổng
hợp RNA.

4

1778

HA

Gắn kết virút vào thụ thể của tế bào (làm đông máu)
(Hemagglutinin)

5

1565

NP


Nucleoprotein: là thành phần của phức phiên mã, vận chuyển
vRNA giữa nhân và tế bào chất.

6

1413

NA

Phóng thích virút (Neuraminidase)

7

1027

M1

Protein nền, là thành phần chính của virion.

M2

Protein nội màng, kênh ion.

NS1

Vận chuyển mRNA ra tế bào chất, dịch mã, là protein kháng
interferon.

NS2


Vận chuyển RNP ra khỏi nhân

8

890

IV. CƠ CHẾ XÂM NHIỄM CỦA VIRUS CÚM A/H5N1 TRONG TẾ BÀO VẬT CHỦ
Virus cúm A/H5N1 kí sinh nội bào bắt buộc, q trình xâm nhiễm và nhân lên của virus xảy ra chủ yếu
ở các tế bào biểu mô đường hô hấp, đường tiêu hóa của cơ thể nhiễm (Murphy, Webster, 1996; Nicholson et
al., 2003), có những nét đặc trưng như sau:
- Quá trình xâm nhiễm của virus cúm A được mở đầu bằng sự kết hợp của HA và thụ thể thích ứng của nó
trên bề mặt các tế bào này, và cuối cùng là giải phóng hệ gen của virus vào trong bào tương của tế bào
nhiễm.
- Quá trình nhân lên của RNA virus cúm A chỉ xảy ra trong nhân của tế bào, đây là đặc điểm khác biệt so
với các virus khác (quá trình này xảy ra trong nguyên sinh chất), và cuối cùng là giải phóng các hạt virus ra
khỏi tế bào nhiễm nhờ vai trò của enzyme neuraminidase. Thời gian một chu trình xâm nhiễm và giải
phóng các hạt virus mới của virus cúm chỉ khoảng vài giờ (trung bình 6 h). Sự tạo thành các hạt virus mới
không phá tan tế bào nhiễm, nhưng các tế bào này bị rối loạn hệ thống tổng hợp các đại phân tử, và rơi vào
quá trình chết theo chương trình (apoptosis) làm tổn thương mơ của cơ thể vật chủ (Webster, 1998;
Uiprasertkul et al., 2007).
- Sau khi được giải phóng vào trong bào tương tế bào nhiễm, hệ gen của virus sử dụng bộ máy sinh học của
tế bào tổng hợp các protein của virus và các RNA vận chuyển phụ thuộc RNA (RNA-dependent RNA
transcription). Phức hợp protein – RNA của virus được vận chuyển vào trong nhân tế bào (Basler, 2007).
- Trong nhân tế bào các RNA hệ gen của virus tổng hợp nên các sợi dương từ khuôn là sợi âm của hệ gen
virus, từ các sợi dương này chúng tổng hợp nên RNA hệ gen của virus mới nhờ RNA-polymerase. Các sợi
này khơng được Adenine hóa (gắn thêm các Adenine - gắn mũ) ở đầu 5’- và 3’-, chúng kết hợp với
nucleoprotein (NP) tạo thành phức hợp ribonucleoprotein (RNP) hoàn chỉnh và được vận chuyển ra bào
tương tế bào. Đồng thời, các RNA thông tin của virus cũng sao chép nhờ hệ thống enzyme ở từng phân
đoạn gen của virus, và được enzyme PB2 gắn thêm 10 - 12 nucleotide Adenin ở đầu 5’-, sau đó được vận
11



chuyển ra bào tương và dịch mã tại lưới nội bào có hạt để tổng hợp nên các protein của virus.

Fener và cộng sự
mô tả như sau:


Virus xâm nhập vào tế bào chủ nhờ chức năng của pro HA thông qua hiện tượng ẩm bào(endosytosis)
qua cơ chế trung gian tiếp nhận thụ thể. Thụ thể liên kết tế bào của virus cúm có bản chất acid sialic cắm
sâu vào glycoprotein hay glycolipit của vỏ virus. Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ pH được điều hòa để
giảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá tình hợp nhất màng tế bào và virus, sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự
cắt rời protein HA nhờ enzym peptidase và enzyme protease của tế bào. Lúc này nucleocapsid của virus đi
vào nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào,chuẩn bị tổng hợp ARN, nguyên liệu hệ gen cho các virion
mới.
Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin. Các phân đoạn ARN hệ
gen được mã hóa 10-13 nucleotide đầu 5’ với nguyên liệu mã hóa từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tính enzyme
PB2 của virus, ARN thông tin của virus sao chép trong nhân được vận chuyển ra nguyên sinh chất, được
ribosome trợ giúp tổng hợp protein cấu trúc và protein nguyên liệu. Protein H,N,M2, ở lại trong nguyên
sinh chất, được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô và bộ máy golgi sau đó được cắm lên
màng tế bào nhiễm. Protein NS1,NP,M1 được vận chuyển vào nhân để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN
hệ gen mới được tổng hợp.
Song song q trình sao chép ARN thơng tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu, virus
tiến tổng hợp nguyên liệu di truyền là các sợi ARN mới. Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi
dương ARN toàn vẹn được tao ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên
sơi âm ARN mới làm nguyên liệu. Các sơi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới,
số khác làm khuôn tổng hơp ARN theo cơ chế như sợi ARN của virus đầu tiên. Các sợi ARN hệ gen được
12



tao ra là một sợi hoàn chỉnh độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribocleocapsid
ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được vận chuyển ra nguyên sinh chất rồi đưa đến vị trí màng tế bào
có sự biến đổi đặc hiệu với virus.
Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp nucleoriboprotein với các protein cấu trúc (HA,NA,M2) tạo nên các
hạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi:
Các phân tử NA và HA của virus sau khi tổng hợp được vận chuyển gắn lên mặt ngoài của màng tế
bào nhiễm nhờ bộ máy Golgi, gọi là hiện tượng “nảy chồi” của virus. NP sau khi tổng hợp được vận
chuyển trở lại nhân tế bào để kết hợp với RNA thành RNP của virus. Sau cùng các RNP của virus được hợp
nhất với vùng “nảy chồi”, tạo thành các “chồi” virus gắn chặt vào màng tế bào chủ bởi liên kết giữa HA với
thụ thể chứa sialic acid. Các NA phân cắt các liên kết này và giải phóng các hạt virus trưởng thành tiếp tục
xâm nhiễm các tế bào khác (Murphy, Webster, 1996; Nayak et al., 2004).
V. CON ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN CỦA BỆNH CÚM A/H5N1
Bệnh cúm gia cầm là bệnh cúm gây bởi một týp virus cúm sống trên lồi có lơng vũ, nhưng có thể lây
nhiễm sang nhiều lồi động vật có vú.
1. Các con đường lây truyền

1.1.Từ động vật sang người

Năm 1997, tiếp xúc với gia cầm sống trong vòng 1 tuần trước khi khởi phát bệnh có liên quan với
bệnh ở người,
trong khi ăn
hoặc chế biến
các sản phẩm
gia cầm hoặc
tiếp xúc với
người bị bệnh
cúm A (H5N1) không gây nguy cơ đáng kể . Tiếp xúc với gia cầm bệnh và làm thịt gia cầm có liên quan
với huyết thanh dương tính với cúm A (H5N1). Trong đợt dịch mới đây, phần lớn bệnh nhân có tiền sử tiếp
xúc trực tiếp với gia cầm, mặc dù không phải là những người làm nghề giết mổ gia cầm. Nhổ lông và chế
biến gia cầm bệnh, ôm gà chọi, ăn tiết canh vịt hoặc thịt gia cầm chưa nấu chín đều đã được nhắc tới. Tình

trạng lây bệnh sang thú thuộc lồi mèo đã thấy trong một số vườn bách thú ở Thái Lan do sử dụng gà bệnh
làm thức ăn cho hổ và báo và lây bệnh sang mèo nhà trong thí nghiệm. Trong điều kiện thí nghiệm cũng đã
thấy hiện tượng lây bệnh giữa các con thú thuộc họ mèo. Một số trường hợp nhiễm bệnh có thể khởi đầu
bởi virus ủ bệnh ở thanh quản hoặc đường tiêu hóa.

13


1.2. Từ người sang người
Lây truyền cúm A (H5N1) từ người sang người đã được chỉ ra trong một số vụ có nhiều bệnh nhân
trong cùng gia đình và trong một trường hợp lây bệnh rõ ràng từ con sang mẹ. Tiếp xúc gần gũi mà không
áp dụng các biện pháp phòng ngừa đã được nhắc tới, và cho đến nay chưa xác định được trường hợp nào
lây bệnh từ người sang người qua những giọt dịch tiết. Năm 1997, lây truyền từ người sang người không
xảy ra qua tiếp xúc xã giao, và xét nghiệm huyết thanh trên nhân viên y tế có phơi nhiễm cho thấy virus
chưa đủ khả năng lây truyền. Các điều tra huyết thanh học ở Việt Nam và Thái Lan chưa tìm thấy bằng
chứng của nhiễm virus khơng triệu chứng ở những người có tiếp xúc. Gần đây, việc giám sát tích cực
những người có tiếp xúc với bệnh nhân bằng xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược đã
dẫn tới việc phát hiện được những trường hợp nhẹ và nhiều ca nhiễm bệnh hơn ở người già, và sự gia tăng
số lượng cũng như khoảng thời gian của các nhóm bệnh nhân trong cùng gia đình ở miền bắc Việt Nam, kết
quả này cho thấy các chủng virus địa phương có lẽ đã thích nghi với người. Tuy nhiên, cần có những
nghiên cứu dịch tễ và virus học để xác nhận phát hiện này. Cho đến nay, nguy cơ lây truyền trong bệnh viện
sang nhân viên y tế là khá thấp, ngay cả khi không áp dụng những biện pháp cách ly thích đáng. Tuy nhiên,
ở Việt Nam đã có một y tá bị bệnh nặng sau khi tiếp xúc với bệnh nhân.

1.3. Từ môi trường sang người
Căn cứ vào khả năng sống của cúm A (H5N1) trong môi trường, về mặt lý thuyết có thể có nhiều mơ
hình lây truyền khác. Uống phải nước nhiễm bẩn trong khi bơi và sự tiếp xúc trực tiếp của niêm mạc mũi
và kết mạc với nước nhiễm bẩn là một mơ hình có thể xảy ra, cũng như tay nhiễm bẩn từ gia cầm bệnh.
Việc sử dụng rộng rãi phân gia cầm chưa qua xử lý để làm phân bón cũng là một yếu tố nguy cơ.


14



2.
Phương
thức lây
truyền :
Các
chủng
của virút
cúm gia
cầm có
thể lây
nhiễm
cho
nhiều
loại
động vật khác nhau, như chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi, hổ và người. Vi rút có thể lan nhanh từ trại chăn
ni này sang trại chăn nuôi khác bằng các cơ chế cơ học qua các phương tiện vận chuyển, quần áo, giầy,
dép... Vi rút có nhiều trong chất bài tiết như dịch mũi họng, phân gia cầm, bụi đất. Tiếp xúc trực tiếp với gia
cầm bệnh hoặc đồ dùng, vật dụng bị phơi nhiễm bởi phân gia cầm là đường lây truyền chính. Vi rút có thể
lây truyền qua khơng khí (qua các giọt nhỏ dịch tiết đường hô hấp của gia cầm bị bệnh hoặc hít phải khơng
khí có chứa bụi từ phân gia cầm) hay qua ăn uống (nước, thực phẩm nhiễm vi rút...) và tiếp xúc với dụng cụ
và đồ vật nhiễm vi rút. Người có thể lây bệnh do tiếp xúc trực tiếp với gia cầm bị bệnh qua chăn nuôi, vận
chuyển, giết mổ, chế biến, ăn gia cầm và các sản phẩm của gia cầm bệnh mà chưa được nấu chín hoặc chế
biến khơng hợp vệ sinh.

3. Cách thức lây truyền bệnh cúm gia cầm và cúm A/H5N1 ở người
Các virut cúm nói chung có khả năng đột biến nhanh chóng, biến động nhảy từ giống động vật này

sang giống động vật khác và có khả năng lây nhiễm sang người. Người bị lây nhiễm virut bắt nguồn từ gà
có khả năng lan truyền virut sang cho người khác nhưng phần nhiều ở thể bệnh nhẹ hơn là thể bệnh lây
nhiễm trực tiếp từ gà bệnh. Trong trường hợp virut đột biến và phối hợp với một virut cúm người, nó sẽ có
khả năng lây truyền từ người sang người giống như cách thức lây lan bệnh cúm thông thường.
300 người.
Tiến sĩ Cao Văn Viên: Bệnh cúm A H5N1 được phát hiện trên người năm 1997 ở Hồng Kông và đến
cuối năm 2003 đầu 2004, bệnh này được phát hiện ở Việt Nam. Bệnh do virus H5N1 gây bệnh ở gia cầm và
ngẫu nhiên lây sang người. Hiện vẫn chưa xác định hết được cơ chế lây sang người của loại virus này. Tuy

15


nhiên, hiện tại xác định được một số đường lây lan chính, như: tiếp xúc với gia cầm bị bệnh, ăn thịt gia cầm
bị bệnh chưa được đun chín hoặc tiếp xúc với mơi trường có gia cầm bị bệnh như tắm ở ao chăn thả có gia
cầm bị bệnh. Hiện tại bằng chứng về việc virus H5N1 lây từ người sang người là chưa được khẳng định.
VI. Triệu chứng của cúm A H5N1
1. Triệu chứng ở động vật
TRIỆU CHỨNG ĐẶC TRƯNG CỦA BỆNH CÚM GÀ

Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 21 ngày, có trường hợp kéo dài đến 28 ngày. Gia cầm bệnh sốt cao,
chảy nước mắt, đứng tụm một chỗ, lông xù, phù đầu và mắt, Mào vá tích sưng, xung huyết đỏ sẩm ,da tím
tái, chân xuất huyết, chảy nước dãi ở con vật khi sốt cao có biểu hiện khơng bình thường ở hệ thống tiêu
hóa, hơ hấp, sinh sản và thần kinh. Triệu chứng chung là giảm hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn,bỏ ăn, gầy
yếu. Trường hợp nặng có biểu hiện khó thở, rối loạn thần kinh, một số con có biểu hiện co giật hoặc ở tư
thế khơng bình thường,đi xiêu vẹo. Những triệu chứng trên có thể xảy ra cùng một lúc hoặc riêng rẽ (Tô
Long Thành, 2004; Lê Văn Năm, 2005)
2. Triệu chứng ở người
Nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời có thể cứu sống bệnh nhân, do vậy cần đặc biệt lưu ý khi ở vùng
có nhiều gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) chết.
Thời gian ủ bệnh với những bệnh nhân nhiễm cúm gia cầm thường kéo dài 2 - 5 ngày kể từ sau khi

tiếp xúc với nguồn lây, tuy nhiên có những bệnh nhân có thể có thời gian ủ bệnh kéo dài hơn tới 17 ngày.
Nguồn lây nhiễm thường gặp hiện nay là gia cầm nhiễm bệnh. Bệnh thường khởi phát đột ngột với các
triệu chứng
2.1. Triệu chứng toàn thân

16


- Sốt: sốt thành cơn hay sốt liên tục cả ngày. Nhiệt độ
có thể lên tới
40- 410c; có những trường hợp chỉ sốt nhẹ 3838,50c, những trường hợp này thường xảy ra ở những
bệnh nhân sức đề kháng giảm nhiều như: suy giảm
miễn dịch, người già, trẻ nhỏ, có các bệnh mạn tính
kèm theo.
- Da nóng, đỏ xuất hiện ở những bệnh nhân sốt cao,
khi có suy hơ hấp có tím mơi, đầu chi.
- Bệnh nhân thường có cảm giác đau đầu, đau mỏi
người, có thể thấy đau quanh hốc mắt
- Trường hợp nặng bệnh nhân có thể có rối loạn ý thức.
2.2. Triệu chứng cơ năng

- Ho: là triệu chứng xuất hiện sớm, ho thành cơn, hoặc ho thúng thắng; thường là ho khan, một số trường
hợp ho có đờm, . những trường hợp bệnh nhân có khạc đờm màu vàng hoặc đờm màu xanh thường do
nguyên nhân bội nhiễm thêm vi khuẩn.
- Đau ngực: đau vùng tổn thương, đau ít hoặc nhiều.
- Khó thở: những trường hợp viêm phổi nhẹ, bệnh nhân khơng có khó thở. tuy nhiên hầu hết các trường
hợp viêm phổi do vi rút cúm gia cầm đều có diễn biến nặng lên nhanh chóng. bệnh nhân có thở nhanh
nơng, có thể có co kéo cơ hô hấp.
Khám bệnh nhân thấy:
- Tần số thở tăng, có co kéo cơ hơ hấp hoặc khơng.

- Khám phổi có rung thanh tăng, rì rào phế nang giảm, gõ đục; nghe phổi thấy ran ẩm, ran nổ vùng tổn
thương.
Chụp X quang phổi

17


- Trên phim x quang phổi thẳng, tổn thương thường gặp ở các bệnh nhân viêm phổi do vi rút cúm gia cầm
thường thấy là các nốt mờ thâm nhiễm rải rác vùng phổi tổn thương, có thể thấy các dạng tổn thương khác
như đám mờ hình tam giác, tổn thương dạng lưới nốt hoặc hình ảnh kính mờ...
- Tổn thương trên x quang phổi tiến triển nhanh theo từng ngày, trường hợp nặng có thể xuất hiện mờ cả 2
trường phổi.
Xét nghiệm tế bào máu:
Số lượng bạch cầu bình thường hoặc giảm. trường hợp có bội nhiễm vi khuẩn có thể gặp bạch cầu
máu tăng.
VII.Chuẩn đốn và chữa bệnh cúm A/H5N1
1. Chuẩn đốn:
Chuẩn đốn:
+Trường hợp nghi ngờ: Có yếu tố dịch tễ, sốt và triệu chứng viêm long đường hơ hấp.
+Trường hợp xác định đã mắc bệnh:
 Có biểu hiện lâm sàng cúm.
 Xét nghiệm dương tính khẳng định nhiễm vi rút cúm A (H5N1).
+Người lành mang vi rút:
Không có biểu hiện lâm sàng nhưng xét nghiệm có cúm A (H5N1). Những trường hợp này cũng phải được
báo cáo.
- Xét nghiệm chẩn đoán căn nguyên:
+ Real time RT-PCR là xét nghiệm xác định vi rút cúm A (H5N1).

Bệnh phẩm là dịch
ngoáy họng, dịch tỵ hầu, dịch

phế quản (lấy càng sớm càng
tốt). Kể cả PCR đa gen
(multiplex-PCR), trực tiếp sử
dụng nguồn gen của virus
cúm A và cúm A/H5N1 từ
mẫu bệnh phẩm (tracheal or
cloacal swab), cũng được đưa vào ứng dụng, cho phép chẩn đoán xác định và phân biệt sự hiện diện của
các chủng virus cúm A gây bệnh, có độ chính xác và tin cậy cao chỉ với một lượng nhỏ mẫu bệnh phẩm
(OIE, 2005; Zou et al., 2007; Wu et al., 2008).
+ kỹ thuật trung hoà vi lượng: Đây là kỹ thuật được đánh giá là nhạy, đặc hiệu nhất trong các phương
pháp chẩn đoán huyết thanh học. Nó có khả năng xác định chính xác từng phân týp (H1N1, H5N1…) đồng
thời có khả năng phát hiện sớm khi nồng độ kháng thể vẫn ở mức thấp mà chưa phát hiện được bằng các kỹ
thuật khác.
+ Nuôi cấy vi rút: thực hiện ở những nơi có điều kiện.

18


- Cơng thức máu: số lượng bạch cầu bình thường hoặc giảm nhẹ.
- X quang phổi: có thể có biểu hiện của viêm phổi khơng điển hình.
2. Điều trị
2.1. Ngun tắc chung:
- Bệnh nhân phải được cách ly và thông báo kịp thời cho cơ quan y tế dự phòng.
- Dùng thuốc kháng vi rút đơn độc hoặc kết hợp (oseltamivir, zanamivir) càng sớm càng tốt, kể cả các
trường hợp tiếp xúc trực tiếp với người bệnh và có sốt.
- Điều trị hỗ trợ trong những trường hợp nặng.
- Điều trị tại chỗ ở những cơ sở thích hợp và yêu cầu tuyến trên giúp đỡ đối với những trường hợp nặng.
2.2. Điều trị thuốc kháng vi rút:
- Thuốc kháng vi rút: Các chất
ức chế neuraminidase ᄃ là loại

thuốc tác động lên protein bảo
tồn của tất cả các loại virus
influenza ᄃ A.
Các thuốc loại này bao
gồm zanamivir ᄃ và oseltamivir
ᄃ.

+ Oseltamivir (Tamiflu):
loại thuốc được cấp chứng chỉ để dùng làm thuốc điều trị dự phòng ở Anh. Oseltamivir
ᄃ được hãng Roche ᄃ thương mại hóa dưới tên gọi Tamiflu ᄃ , và dòng thuốc này đã trở
thành loại thuốc chọn lựa của các chính phủ và tổ chức để chuẩn bị cho khả năng đại dịch
H5N1 xảy ra. Tháng 8/2005, Roche đã tặng 3 triệu viên Tamiflu cho Tổ chức Sức khỏe Thế
giới ᄃ, để tổ chức này đối phó với sự bùng phát dịch ngay tại các ổ dịch.

Về liều dùng:
* Người lớn và
trẻ em trên 13
tuổi: 75mg
x2
lần/ngày x 5 ngày.
* Trẻ em từ 1-13
tuổi: dùng dung dịch
uống tuỳ theo trọng
lượng cơ thể
 <15 kg: 30 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.
 16-23 kg: 45 mg x 2 lần/ngày ᄃ 5 ngày.
 24-40 kg: 60 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.

19



 40 kg: 75 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.
* Trẻ em dưới 12 tháng:


< 3 tháng: 12 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.



3-5 tháng: 20 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.



6-11 tháng: 25 mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.

+ Zanamivir: dạng hít định liều. Sử dụng trong các trường hợp: Khơng có oseltamivir, trường hợp chậm
đáp ứng hoặc kháng với oseltamivir.

Liều dùng:
*

Người
x
2

lớn và trẻ em trên 7 tuổi: 2 lần xịt
lần/ngày.

* Trẻ em:
lần/ngày.


Từ 5-7 tuổi: 2 lần xịt 5 mg x 1

+ Trường
zanamivir.

nặng có thể kết hợp oseltamivir và

5mg

hợp

+ Trường hợp
thời gian điều trị có thể kéo dài đến khi xét nghiệm hết vi rút.

đáp ứng chậm với thuốc kháng vi rút:

- Cần theo dõi chức năng gan, thận để điều chỉnh liều lượng cho phù hợp. Ngồi ra, cịn một nhóm thuốc
khác các chất ức chế hemagglutinin ᄃ, gồm amantadine ᄃ và rimantadine ᄃ.

Không như
zanamivir và
oseltamivir, các thuốc
này rẻ hơn và có sẵn
rộng rãi, TCSKTG cũng
đã bước đầu lập kế
hoạch sử dụng chúng
trong các nỗ lực chống chọi với đại dịch H5N1. Tuy nhiên, tiềm năng của các thuốc này suy giảm đáng kể
khi người ta phát hiện ra rằng chính phủ nước Cộng hịa Nhân dân Trung Hoa ᄃ đã khuyến khích và hỗ trợ
việc sử dụng amantadine cho gia cầm từ đầu những năm 1990, đi ngược lại các quy ước quốc tế về vật

nuôi; hậu quả nhãn tiền là chủng virus hiện lưu hành tại Đông Nam Á đã kháng thuốc và làm tăng đáng kể
mức độ nguy hiểm cho con người[6]ᄃ. Tuy vậy, chủng H5N1 lan truyền bởi các loài chim hoang dại ở
20


miền bắc Trung Quốc, Mông Cổ ᄃ, Kazakhstan ᄃ và Nga ᄃ trong hè năm 2005 ᄃ không kháng amantadine.
2.3. Điều trị hỗ trợ
2.3.1. Hạ sốt
Chỉ dùng paracetamol khi nhiệt độ trên 39oC (khơng dùng thuốc hạ sốt nhóm salicylate như aspirin).

2.3.2. Bảo đảm chế
độ dinh dưỡng và chăm
sóc
- Dinh dưỡng:
+ Người bệnh nhẹ: cho ăn
bằng đường miệng.
+ Người bệnh nặng: cho ăn sữa và bột dinh dưỡng qua ống thông dạ dày.
+ Nếu người bệnh không ăn được phải kết hợp ni dưỡng bằng đường tĩnh mạch.
- Chăm sóc hô hấp: giúp người bệnh ho, khạc; vỗ rung vùng ngực; hút đờm.
2.3.3. Sử dụng kháng sinh thích hợp khi có bội nhiễm vi khuẩn
2.3.4. Hỗ trợ hơ hấp khi có suy hơ hấp
- Nằm đầu cao 30-450.
- Cho người bệnh thở oxy với lưu lượng thích hợp.
- Những trường hợp không đáp ứng với thở oxy cần hỗ trợ hô hấp bằng máy thở không xâm nhập hoặc xâm
nhập.
2.3.5. Phát hiện và điều trị suy đa phủ tạng
2.4. Tiêu chuẩn ra viện
2.4.1. Nơi khơng có xét nghiệm Real time RT-PCR
- Sau khi hết sốt 3 ngày.
- Tình trạng lâm sàng ổn định.

2.4.2. Nơi có xét nghiệm Real time RT-PCR
- Sau khi hết sốt 3 ngày.
- Tình trạng lâm sàng ổn định.
- Xét nghiệm lại Real time RT-PCR vi rút cúm A (H5N1) vào ngày thứ tư âm tính. Trong trường hợp xét
nghiệm lại vào ngày thứ tư vẫn dương tính thì xét nghiệm lại vào ngày thứ sáu.
2.5. Điều trị cúm A (H5N1) trong trường hợp dịch lây lan trong cộng đồng, khơng chẩn đốn xác
định được bằng xét nghiệm
Các trường hợp nghi ngờ trong vùng dịch đã được xác định, có biểu hiện lâm sàng cần cách ly, mang
khẩu trang, vệ sinh hô hấp và rửa tay:
+ Cách ly và điều trị triệu chứng.
+ Các trường hợp diễn biến nặng, người già, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai, người có bệnh mạn tính:
cách ly, điều trị tại bệnh viện theo hướng dẫn trên.
VIII. Cách phòng chống cúm A/H5N1
21


1. Phịng bệnh trước khi có dịch
- Gia cầm phải được chủng ngừa đầy đủ các bệnh truyền nhiễm, kể cả vaccine ngừa bệnh cúm A/H5N1.
Trước khi chủng ngừa vài ngày nên cho gà uống thuốc BIO-VITAMIN C 10% và BIOELECTROLYTES để giảm stress, tăng sức đề kháng và tạo miễn dịch tốt cho gà sau tiêm chủng.
- Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, vào mùa lạnh phải giữ ấm chuồng trại. Gà, vịt cũng dễ bị nhiễm giun
sán làm chậm lớn, suy giảm miễn dịch, vì vậy phải dùng thuốc BIO-LEVAXANTEL để tẩy giun sán cho
gà, vịt với liều 1ml/5kg thể trọng. Sau khi dùng thuốc xổ vài ngày phải pha thuốc BIO-VITASOL, BIOAMINOSOL, BIO-VITA FORT cho gà uống để tăng sức đề kháng.
-Nên dọn vệ sinh sạch sẽ phân và các chất độn chuồng, máng ăn máng uống rồi sát trùng chuồng trại và
dụng cụ chăn nuôi thật kỷ lưỡng sau mỗi đợt xuất bán gà, sau đó để trống chuồng trại từ 10-15 ngày mới
ni tiếp đợt khác.
- Những loài như vịt, vịt xiêm, chim trời có thể mang virus gây bệnh cúm, nhưng chúng khơng biểu hiện
triệu chứng. Virus có trong nước dãi, nước mũi, phân, sẽ phát tán mầm bệnh từ nơi này đến nơi khác khi
chúng đi kiếm ăn trên cánh đồng hoặc vào trại chăn ni. Vì thế người chăn ni khơng nên thả vịt, ngan,
ngỗng ở những nơi có nhiều lồi chim hoang đến ăn. Không thả vịt chạy đồng trong mủa dịch để ngăn
ngừa sự nhiễm bệnh và phát tán mầm bệnh trong q trình chăn thả. Khơng ni chung gà,vịt, vịt xiêm để

tránh lây bệnh từ vịt qua gà.

2. Phịng bệnh khi trong vùng có dịch xảy ra
Virus cúm có thể xâm nhập vào cơ thể bằng hai con đường, đó là đường hơ hấp và tiêu hóa. Mầm bệnh có
trong khơng khí hoặc trong thức ăn nước uống. Virus gây bệnh cúm gia cầm tồn tại trong môi trường tự
nhiên khá lâu từ 2 tuần đến hơn một tháng, nhưng may mắn là chúng dễ bị tiêu diệt bằng các thuốc sát
trùng như BIO-GUARD, BIOXIDE, BIODINE, BIOSEPT...
Đặc biệt thuốc sát trùng BIO-GUARD khởi phát hiệu lực rất nhanh và tác động kéo dài nhờ sự phối
hợp của 3 thành phần Formaldehyde, Glutaraldehyde và Benzalkonium chloride. Công hiệu với tất cả các
mầm bệnh trên gia súc, gia cầm, kể cả virus cúm và virus gây bệnh tai xanh ở heo.
- Trong thời gian có dịch bệnh đe dọa thì cứ cách 2 ngày phun xịt một trong các thuốc sát trùng vừa nói trên
một lần để ngăn ngừa sự xâm nhập và phát tán mầm bệnh.
- Sử dụng thuốc BIODINE để sát trùng nước uống cho gà với liều: 5ml/4 lít nước uống để ngừa bệnh lây
qua đường nước uống.
- Tăng sức đề kháng cho gia cầm bằng cách pha BIO-VITAMIN C 10% vào nước cho gia cầm uống.
- Hạn chế người lạ vào trại.
- Ở những nơi tiếp giáp với vùng biên giới của các nước bạn, bà con tuyệt đối không nên mua bán, vận
22


chuyển lén lút gia cầm, trứng gia cầm, các giống gà đá vào nội địa khi mà những gia cầm và trứng gia cầm
này chưa có giấy kiểm dịch động vật của cơ quan thú y có thẩm quyền.
- Khi trong trại có gia cầm chết, tuyệt đối khơng được vận chuyển ra khỏi trại dù chưa biết gia cầm chết là
do bệnh gì và phải khai báo cho cơ quan thú y biết. Không được giết mổ để ăn hoặc đem bán, không được
vứt xác bừa bãi ra đồng hoặc dưới sông suối, mà phải bỏ gia cầm chết vào trong túi nylon và buộc miệng
túi thật kỷ, bỏ xuống hố sâu và rắc vôi bột lên trên trước khi lấp đất và nện
3. Phòng chống cúm A/H5N1 lây lan từ gia cầm sang gia
Cúm gia cầm có thể ngăn ngừa được. Để bảo vệ an toàn đàn gia cầm, chỉ cần thực hành những thói
quen tốt sau đây:
- Nuôi nhốt gia cầm trong chuồng.

- Nuôi thả trong khu vực khép kín (có rào bao quanh).
- Mỗi gia đình chỉ nên nuôi một loại gia cầm. Nếu đã nuôi nhiều loại thì nhốt riêng từng loại gia cầm.
- Chỉ mua gia cầm giống từ cơ sở có giấy chứng nhận đã kiểm dịch.
- Nhốt riêng gia cầm mới mua ít nhất hai tuần.
- Khi thấy gia cầm ốm, báo cho cán bộ thú y hoặc trưởng thôn, không chữa cho gia cầm ốm.
- Khi có chim hoang dã bị chết ở khu vực nuôi gia cầm, cần đeo khẩu trang và găng tay để cho vào túi
nilon, đồng thời báo cho cán bộ thú y hoặc trưởng thôn.
- Rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với gia cầm.
- Không buân, bán, vận chuyển gia cầm chưa được kiểm dịch không đúng quy định.
- Hàng ngày vệ sinh chồng trại và khu vực nuôi thả (quéts dọn phân, lơng, chất thải gia cầm...),sau đó đem
đốt hoặc chơn.
- Hàng tuần rửa sạch và khử trùng dụng cụ chăn nuôi, khử trùng chuồng trại bằng vôi bột...
- Nuôi dưỡng tốt gia cầm: Tăng khẩu phần dinh dưỡng cho đàn gia cầm, cho gia cầm uống nước sạch.
- Tiêm phòng cho gia cầm: Tiêm vác xin phòng cúm cho gia cầm nhằm làm giảm nguy cơ mắc bệnh cho
đàn gia cầm và cho người, nhưng được thực hiện đồng thời với các biện pháp phịng chống khác như đã nói
ở trên.

4. Phịng
sang người

chống

cúm A/H5N1 lây lan từ gia cầm

Hiện chưa có vác
đặc hiệu, do đó phịng
chủ động phịng bệnh
khẩn cấp sau:

xin phòng bệnh và thuốc điều trị

bệnh là biện pháp quan trọng. Để
chúng ta cần thực hiện 4 biện pháp

4.1.

Tăng

- Chỉ ăn thịt, trứng và

cường vệ sinh ăn uống
các sản phẩm khác của gia cầm
23


được nấu chín kỹ.
- Chỉ mua gia cầm và sản phẩm gia cầm rõ nguồn gốc và đã được kiểm dịch không bị bệnh.
- Không ăn tiết canh.
- Không làm thịt và ăn các loại gia cầm ốm, chết.
4.2. Tăng cường sức khỏe và khả năng phòng bệnh
- Rửa tay bằng nước sạch và xà phòng sau khi tiếp xúc với gia cầm, trước khi ăn.
- Rèn luyện thân thể, giữ ấm cơ thể, để nâng cao khả năng phòng bệnh.
- Nên thay, giặt quần áo, rửa giầy dép hàng ngày.

4.3.
Hạn
chế
tiếp
xúc
với
nguồn bệnh

- Hạn chế tiếp xúc gia cầm kể cả khi chúng cịn khỏe.
- Khơng cho gà đấu chọi, khơng xem chọi gà.
- Chỉ giết mổ gia cầm khỏe; đeo khẩu trang, găng tay khi giết mổ; rửa dao, thớt bằng nước sơi sau khi giết
mổ; nên có hai thớt để thái thịt sống và thái thịt chín.
- Khơng cho trẻ em tiếp xúc với gia cầm hoặc chơi cạnh chuồng gia cầm.
- Đeo khẩu trang, găng tay, mặc quần áo bảo hộ khi phải tiếp xúc với gia cầm.
4.4. Hãy đến ngay cơ sở Y tế
Sốt cao trên 380C, ho, đau ngực, khó thở kèm theo đau đầu, đau cơ mệt mỏi...Cần đến ngay các cơ sở
Y tế gần nhất để được khám và điều trị kịp thời. Không tự ý mua thuốc điều trị ở nhà.
IX. VẤN ĐỀ TỒN TẠI CỦA VIRUS CÚM A/ H5N1

Các giới chức y tế rất quan tâm đến cúm gia cầm bởi vì virút H5N1 có thể thu nhập
gien từ các loại cúm thông thường, rồi đột biến thành một virút nguy hiểm có khả năng
gây ra tử vong cho nạn nhân. Nếu virút H5N1 có khả năng thu nhập gien như thế, hệ
thống miễn dịch của cơ thể chúng ta khơng có khả năng nhận dạng chúng và do đó
khơng có khả năng phịng vệ.Nó biến dị nhanh và cho thấy nó chứa các gen của các vi
rút nhiễm từ các loài động vật khác nhau, có tính sinh bệnh cao và có khả năng gây
bệnh nặng ở người.

24


Khơng ai có thể dự đốn chính xác khi nào thì đại dịch xảy ra. Cũng chưa có loại vắcxin chuyên biệt cho cúm H5N1, dù Tổ chức Y tế Thế giới thông báo rằng các nỗ lực
phát triển loại vắc-xin này đang được tiến hành. Người ta trông cậy cả vào Tamiflu,
một thuốc diệt virus, có thể ngăn ngừa sự phát triển của virus trên cơ thể người Tuy
nhiên đó cũng khơng phải là phương pháp. Loại thuốc này dù hữu hiệu trong cả ngăn
ngừa và trị bệnh nhưng nó chưa phải là giải pháp thực sự hữu hiệu. Các chủng cúm
biến hóa nhanh chóng và khơn lường trong khi thông thường phải mất tối thiểu 4 tháng
để sản suất một loại vắc xin chống lại một chủng. Vắc xin ứng cử viên để ngăn ngừa
lây nhiễm H5N1 đã được phát triển, nhưng họ không sẵn sàng cho sử dụng rộng rãi.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nghiên cứu virus cúm A/H5N1 ở Việt Nam và Thái Lan ( PGS. TS Lê Thanh Hịa, Ths. NCS Đồn Thị
Thanh Hương)
TS. Nguyễn Thanh Hồi, khoa Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai
Vi Sinh Vật Đại Cương - PGS.TS Cao Ngọc Điệp,PGS.TS Nguyễn Hữu Hiệp
Murphy, Webster, 1996; Ito et al., 1998.
Hulse-Post et al., 2005; Subbarao, Luke, 2007; Zhao et al., 2008
Keawcharoen et al., 2005.
Bosch et al., 1979; 1981; Wagner et al., 2002
Suarez, Schultz-Cherry, 2000; Wu et al., 2008b.
Bosch et al., 1982; Matrosovich et al., 1999; Keawcharoen et al., 2005 ; Horimoto, Kawaoka, 2006
Subbarao, 1993; Wasilenko et al., 2008.
Uiprasertkul et al., 2007.
Castrucci, Kawaoka, 1993; Lê Thanh Hòa, 2006; Keawcharoen et al., 2005.
Sekellick et al., 2000; Zhu et al., 2008.
Baigent, McCauley, 2001; Wagner et al., 2002
/> /> /> /> />
25


×