QUẢN LÝ LƯU VỰC
( WATERSHED MANAGEMENT )
____________o0o____________
TỔNG QUAN
Lưu vực là phần diện tích bề mặt đất trong tự nhiên mà mọi lượng nước mưa khi
rơi xuống sẽ tập trung lại và thốt vào một lối thốt thơng thường, chẳng hạn như vào
sông, vịnh hoặc các phần nước khác. Các lưu vực thoát nước bao gồm tất cả các nước bề
mặt từ dòng chảy mưa, tuyết, và các dòng suối gần đó chạy theo hướng dốc về phía lối
thốt chung, cũng như nước ngầm dưới bề mặt trái đất. Các lưu vực thoát nước kết nối
với các lưu vực thoát nước khác ở độ cao thấp theo mơ hình phân cấp, với các bể chứa
nhỏ hơn, và lần lượt đổ vào một khe thông thường khác.
Các thuật ngữ khác dùng để mô tả các lưu vực tiêu là lưu vực, lưu vực lưu vực,
khu vực thốt nước, lưu vực sơng và lưu vực sông. Ở Bắc Mỹ, thuật ngữ "đầu nguồn"
thường được sử dụng để chỉ một lưu vực thoát nước, mặc dù ở các nước nói tiếng Anh
khác, nó chỉ được sử dụng theo ý nghĩa ban đầu của nó, có nghĩa là sự phân chia
nước, một sườn núi ngăn cách các lưu vực thoát nước liền kề.
Trong các lưu vực thốt nước khép kín ("endorheic"), nước hội tụ đến một điểm
duy nhất bên trong lưu vực, được biết đến như một bồn rửa chén, có thể là một hồ nước
lâu dài, một hồ khô hoặc một điểm mà nước ngầm bị mất dưới lịng đất.
Lưu vực thốt nước hoạt động như một kênh bằng cách thu thập tất cả các nước
trong khu vực bao phủ bởi lưu vực và chuyển nó đến một điểm duy nhất. Mỗi lưu vực
thốt nước được tách riêng topograph từ các lưu vực lân cận bằng chu vi, phân chia nước
thải, tạo thành một loạt các đặc điểm địa lý cao hơn (như núi, đồi hoặc núi) tạo thành
hàng rào.
Các lưu vực thoát nước tương tự nhau nhưng không giống với các đơn vị thuỷ
văn, là những khu vực thoát nước được khoanh để làm tổ trong một hệ thống thoát nước
theo cấp bậc đa cấp. Các đơn vị thủy văn được xác định để cho phép nhiều cửa hút, lối
thoát, hoặc bồn rửa. Theo một nghĩa hợp lý, tất cả các lưu vực tiêu là các đơn vị thuỷ văn
nhưng không phải tất cả các đơn vị thuỷ văn đều là các lưu vực thoát nước.
Các lưu vực khác nhau được phân tách bởi đường phân thủy (đường chia nước),
thường là các dãy núi.
1
NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM VỀ VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ LƯU VỰC
1.1. Khái niệm về lưu vực và quản lý lưu vực
1.1.1. Khái niệm về lưu vực
Lưu vực là phần diện tích bề mặt đất trong tự nhiên mà mọi lượng nước mưa khi
rơi xuống sẽ tập trung lại và thoát qua một cửa ra duy nhất. Trên thực tế, lưu vực thường
được đề cập đến là lưu vực sơng, và tồn bộ lượng nước trên sơng sẽ thốt ra cửa sơng.
Nhìn tổng thể, lưu vực được mơ phỏng như sau:
Hình 1. Mơ phỏng một lưu vực
Trong tự nhiên, khi nước mưa rơi xuống chúng luôn vận chuyển theo quy luật của
trọng lực đó là chảy từ trên cao xuống thấp. Từ đỉnh núi hoặc sườn núi trên cao nước
chảy tràn bề mặt hoặc các khe mạch trong đất xuống sườn thấp và chân núi. Nước từ
những suối nhỏ trên cao chảy vào các suối lớn hơn phía dưới và cuối cùng đổ vào các con
sông. Theo nguyên lý này toàn bộ lượng nước chảy qua một điểm nào đó trên dịng chảy
đều được dồn đến từ một khu vực thu nước cố định trên mặt đất.
Hình 2. Lưu vực nhìn theo mặt cắt ngang
Đặc điểm số lượng, chất lượng nước cũng như tính hiệu ích của nó phụ thuộc vào
diện tích khu vực thu nước, đặc điểm của tài nguyên cùng cách thức quản lý tài nguyên
trên khu vực đó như: Điều kiện địa hình, đất đai, tình trạng lớp phủ thực vật, diện tích, vị
2
trí và đặc điểm cơng nghệ canh tác, số lượng, quy mơ và vị trí các hồ đập, kênh mương,
…
Đặc điểm của quá trình thủy văn và mối tương tác giữa các bộ phận tài nguyên
trong khu vực diễn ra tương đối độc lập với khu vực bên cạnh. Người ta gọi mỗi khu vực
như vậy là một vùng thu nước hay mộtlưu vực (watershed). Nó được sử dụng như những
đối tượng để nghiên cứu quá trình thủy văn, mối quan hệ của các bộ phận tài nguyên
thiên nhiên và hiệu quả của hoạt động QLLV.
Theo khái niệm chung, lưu vực là một đơn vị diện tích mặt đất mà trong đó những
q trình tích lũy và vận chuyển của nước diễn ra tương đối độc lập với các diện tích
xung quanh.
Trong thực tế, lưu vực thường được hiểu là diện tích mà tồn bộ nước mưa rơi
xuống được tập trung về một điểm trước khi chảy ra. Lưu vực này phân cách với các lưu
vực khác xung quanh bằng những đỉnh núi, đồi, gị liên tiếp bao quanh nó.
Khái niệm lưu vực chỉ mang tính tương đối vì quy mơ của một lưu vực có thể biến
động trong phạm vi lớn từ 1 vài ha đến hàng triệu ha. Thực tế, mỗi lưu vực lớn có thể
chứa nhiều lưu vực con và ngược lại, lưu vực nhỏ này có thể là một bộ phận của những
lưu vực kia lớn hơn. Ngồi ra, sự độc lập của các q trình thủy văn trong mỗi lưu vực
chỉ là tương đối, vì thực chất các quá trình thủy văn của mỗi lưu vực ở mức độ nhiều hay
ít, trực tiếp hoặc gián tiếp vẫn ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của quá trình thủy văn ở các
lưu vực khác. Chẳng hạn, nước bốc hơi từ một lưu vực này có thể di chuyển tới và ngưng
kết ở một lưu vực khác, hoặc khơng khí khơ nóng của lưu vực này có thể di chuyển đến
và làm tăng bốc hơi nước của lưu vực khác, … trong thực tế thì tất cả các lưu vực đều
nằm trong hệ thống tuần hoàn nước của trái đất.
1.1.2. Khái niệm về quản lý lưu vực
Theo tài liệu hướng dẫn quản lý lưu vực của Tổ chức Nơng Lương Thế giới thì
“Quản lý lưu vực là q trình thiết lập và thực hiện một chuỗi các hành động liên quan
đến việc đẩy mạnh việc sử dụng hệ thống tự nhiên trong một lưu vực (watershed) để đạt
được những mục tiêu cụ thể.”.
Trong quản lý tài nguyên chỉ tập trung vào quản lý từng tài nguyên riêng lẻ như
thủy sản, rừng và đời sống hoang dã; hay quản lý riêng lẻ từng thành phần của môi
trường như nước, khơng khí, đất đai dẫn tới việc quản lý các hệ sinh thái bị phân cách và
mang tính chủ quan từ người sử dụng, quản lý lưu vực được xem là cách tiếp cận hợp lý
hơn để khai thác và bảo vệ tài nguyên.
Một số nhà khoa học coi quản lý lưu vực như một tiến trình hướng dẫn, tổ chức sử
dụng đất và những tài nguyên khác để cung cấp tốt những yêu cầu và phục vụ con người
mà không ảnh hưởng tới tài nguyên đất và nước. Quản lý lưu vực cũng được định nghĩa
như một quá trình tối ưu hóa về sử dụng tài nguyên trong lưu vực như tối đa sự cung cấp
nước, hạn chế tối đa các vấn đề xói mịn và bồi tụ, lũ lụt và hạn hán.
3
Đến nay, quản lý lưu vực có thể được hiểu là việc xây dựng và tổ chức thực hiện
các hoạt động nhằm duy trì, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển
kinh tế xã hội lưu vực.
Quản lí lưu vực là quản lí, bảo vệ và phát triển nguồn nước tự nhiên của một lưu
vực sông (nước mặt, nước dưới đất).
Nội dung QLLV gồm đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố địa hình, địa chất, thổ
nhưỡng, thực vật và nước dưới đất hình thành trên lưu vực; đánh giá các ảnh hưởng hoạt
động kinh tế của con người đến nguồn nước của lưu vực, sử dụng đất, chống xói mịn,
trồng hoặc phá rừng, ... trên lưu vực; tính tốn và xác định các đặc tính cũng như trữ
lượng nguồn nước tự nhiên của lưu vực; nghiên cứu và đề xuất các biện pháp nhằm quản
lí, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước của lưu vực.
Mục đích của QLLV là phục hồi và cải thiện tính hữu ích của nguồn nước nhằm
phát huy những giá trị kinh tế và sinh thái ở mức tối đa. Để đạt được mục đích trên, con
người phải nghiên cứu quy luật hình thành, vận động và biến đổi của tài nguyên nước,
mối quan hệ của nước với các thành phần môi trường khác, những hoạt động kinh tế có
ảnh hưởng quyết định đến đời sống của con người và thiên nhiên, nghiên cứu được
những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và sinh thái của nước.
Quản lý lưu vực (QLLV) là khoa học nhằm duy trì, nâng cao tính hiệu ích của
nguồn nước, phát huy giá trị kinh tế và sinh thái ở mức tối đa. Về mặt hành động: “Quản
lý lưu vực là một quá trình thiết lập và thực hiện một chuỗi các hành động liên quan đến
việc đẩy mạnh sử dụng hệ thống tự nhiên trong một lưu vực (watershed) để đạt được
những mục tiêu cụ thể” (FAO, 1986).
1.1.3. Khái niệm quản lý tổng hợp lưu vực sơng
Hiện nay có nhiều định nghĩa về quản lý tổng hợp lưu vực sông của các cơ quan
nghiên cứu, tổ chức quốc tế, như là 1 số định nghĩa sau đây:
Tổ chức Cộng tác vì các nước tồn cầu (GWP) thì cho rằng: “ Quản lý tổng hợp
lưu vực sơng là một q trình mà trong đó con người phát triển và quản lý tài nguyên
nước, đất và các tài nguyên khác nhằm đạt được các hiệu quả tối ưu của các thành quả
kinh tế xã hội một cách công bằng mà không đánh đổi bằng sự bền vững của các hệ sinh
thái then chốt”.
Theo J.Buston thì “ quản lý tổng hợp lưu vực sơng bao hàm việc các nhà hoạch
định chính sách xem xét tất cả các khía cạnh về nguồn tài ngun có trên lưu vực, nhu
cầu sử dụng nguồn tài nguyên đó theo hệ sinh thái nhằm đảm bảo những sự lựa chọn
phương án phát triển kinh tế hiệu quả lâu dài thơng qua sự phát triển các mối quan hệ hài
hồ giữa các hộ sử dụng tài nguyên và giữa cộng đồng dân cư sống trên lưu vực”.
Tất cả các định nghĩa nhấn mạnh rằng quản lý tổng hợp lưu vực sông là sự phối
hợp trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài ngun có trên tồn bộ lưu vực 1
4
cách hợp lý, có hiệu quả và cơng bằng để đạt được lợi ích kinh tế xã hội mà khơng làm
tổn hại đến sự phát triển bền vững của hệ sinh thái.
1.1.4. Khái niệm về liên hồ chứa
Liên hồ chứa là một chuỗi từ hai hồ trở lên nằm trên cùng một con sông, một lưu
vực sông kể cả các dịng sơng liên tỉnh, liên quốc gia.
Nguồn nước liên tỉnh là nguồn nước phân bố trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương trở lên.
Nguồn nước liên quốc gia là nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang lãnh thổ
nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn nước nằm trên
đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng.
Lưu vực sông là vùng đất mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự
nhiên vào sơng và thoát ra một cửa chung hoặc thoát ra biển.
1.2. Cấu trúc và chức năng của lưu vực
1.2.1. Cấu trúc của lưu vực
Cấu trúc lưu vực là thuật ngữ dùng nói đến đặc điểm của các bộ phận hợp thành
lưu vực như: Diện tích, độ dốc, độ cao, hình dạng, loại đá, loại đất, tình trạng lớp phủ
thực vật, số lượng, diện tích và phân bố của hồ đập, … Cấu trúc lưu vực có ảnh hưởng
quyết định đến đặc điểm của q trình tích lũy, vận chuyển cũng như tính hiệu ích của
nước. Sơ đồ cấu trúc chung của một lưu vực nước được mơ tả trên hình 2.
Khái niệm một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả trong sơ đồ trên:
- Đường phân thủy mặt: Là đường nối liền các ngọn núi, đồi, gò liên tiếp bao
quanh lưu vực. Nước mưa rơi vào diện tích trong đường phân thủy mặt sẽ chảy vào sông
suối của lưu vực. Ngược lại, nước mưa rơi vào diện tích ngồi đường phân thủy mặt sẽ
chảy vào sông suối của các lưu vực khác xung quanh.
`
Hình 2: Sơ đồ cấu trúc lưu vực
- Đường phân thủy ngầm: Là đường phân chia nước ngầm dưới mặt đất. Nếu nước
ngấm xuống lớp đất sâu trong đường phân thủy ngầm sẽ chảy vào sông suối của lưu vực.
Ngược lại, nước ngấm xuống lớp đất sâu ngồi đường phân thủy ngầm sẽ chảy vào sơng
suối của các lưu vực khác. Thường thì đường phân thủy mặt trùng với đường phân thủy
ngầm. Chỉ trường hợp các lớp đất đá được phân bố thành những lớp nghiêng so với mặt
đất thì có thể nước ngầm ở ngồi đường phân thủy mặt vẫn có thể chảy vào sơng suối của
lưu vực.
5
Dịng chảy sơng suối được tạo nên bởi hai bộ nguồn chính: Dịng chảy trên mặt
đất và dịng chảy ngầm nhưng ở các lớp đất cao hơn đáy sơng.
- Dịng chảy ngầm: Là dòng chảy trong lớp cát, sỏi và đá dưới đáy sơng. Thường
khơng đo trực tiếp được dịng chảy ngầm mà phải xác định thông qua các bộ phận khác
của cân bằng nước.
- Vỏ thấm nước của lưu vực: là lớp đất trên cùng tương đối tơi, xốp nước có thể
thấm qua và di chuyển được.
- Mạch ngầm và khe dị là nơi những lớp đá khơng thấm nước bị đứt gẫy tạo thành
đường dẫn nước xuống các lớp đá dưới sâu.
- Sơng chính là sơng lớn nhất trong lưu vực, có độ chênh cao nhỏ và thường có
nước quanh năm. Sơng nhánh là các sơng nhỏ hơn, thường dốc hơn và có thể bị cạn theo
mùa.
- Lưu vực con là một bộ phận của lưu vực và có q trình tích lũy, vận chuyển
nước tương đối độc lập với những lưu vực con khác.
1.2.2. Chức năng của lưu vực
- Lưu vực là nơi tồn tại của con người và các giống loài động thực vật, đảm bảo
duy trì những điều kiện vật lý và khơng gian sống cho sự tồn tại của con người trong
thiên nhiên.
- Lưu vực cung cấp các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin cần thiết cho
hoạt động sản xuất và đời sống của con người.
- Lưu vực là nơi chứa đựng và thanh lọc các loại chất thải ra trong quá trình sản
xuất và đời sống của con người.
- Lưu vực cũng là nơi lưu giữ những yếu tố xã hội cần thiết cho sự tồn tại của con
người như: Các yếu tố cấu trúc xã hội, kiến thức, phong tục tập qn, tơn giáo, tín
ngưỡng, ...
1.3. Các bộ phận tài nguyên chính trong lưu vực
Các bộ phận tài nguyên chính trong lưu vực gồm: Đất, nước và thực vật. Chúng có
quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Đặc điểm của mỗi bộ phận này được quy
định bởi những đặc điểm của các bộ phận khác.
Đất là nguồn tài nguyên quan trọng trong lưu vực có ảnh hưởng đến thực vật và
nguồn nước. Đất có độ phì cao sẽ đảm bảo được những điều kiện cần thiết cho phát triển
lớp phủ thực vật nhờ đó bảo vệ được nguồn nước. Trong điều kiện đất bị thối hóa, thực
vật kém phát triển thì khả năng thanh lọc làm sạch nước, khả năng giữ nước và điều hòa
dòng chảy cũng như các tĩnh hữu ích khác của nguồn nước sẽ giảm xuống.
Thực vật là một bộ phận quan trọng, có chức năng hình thành và cung cấp liên tục
những sản phẩm nuôi dưỡng sự sống trong lưu vực. Sự sinh trưởng, phát triển của thực
vật chịu ảnh hưởng của điều kiện đất đai và nguồn nước, song cũng ảnh hưởng mạnh mẽ
6
đến các đặc điểm của hai nguồn tài nguyên này. Khi lớp phủ thực vật phát triển tốt nó có
thể bảo vệ đất khỏi xói mịn, cung cấp mùn qua cành khô lá rụng, làm tơi xốp đất bằng hệ
rễ dày đặc, … Nhờ đó lớp phủ thực vật có tác dụng bảo vệ và cải tạo các tính chất vật lý
và hóa học đất, nâng cao độ phì đất. Mặt khác, lớp phủ thực vật đất cũng có vai trò làm
giảm dòng chảy mặt, tạo điều kiện để tăng độ ẩm và dịng chảy ngầm trong đất. Nhờ đó
nó có tác dụng làm sạch nước, cung cấp nước ổn định hơn cho đất và điều hịa dịng chảy
sơng suối.
Nước là bộ phận tài nguyên có ảnh hưởng lớn đến đất, thực vật cũng như toàn bộ
các đặc điểm khác của lưu vực. Thiếu nước sẽ làm giảm độ phì đất và những điều kiện
cần thiết khác cho phát triển của thực vật. Phần lớn các vùng đất hoang hóa, sa mạc, bán
sa mạc đều liên quan đến sự thiếu hụt và phân bố không đều của nước.
Đất, nước và thực vật luôn tác động qua lại lẫn nhau trong mối liên hệ biện chứng.
Chúng quy định những đặc điểm của nhau và quyết định phần lớn những tính chất của
sinh cảnh. Có thể hình dung tính thống nhất của các bộ phận tài nguyên thiên nhiên trong
lưu vực theo sơ đồ sau:
ĐẤT
NƯỚC
LƯU VỰC
THỰC VẬT
Hình 3: Sơ đồ về tính thống nhất giữa các bộ phận tài nguyên trong lưu vực
Trong lưu vực, sự biến đổi của một thành phần này luôn luôn kéo theo sự biến đổi
của các thành phần khác, những tác động làm cải thiện hoặc dẫn đến thối hóa thành
phần này ln dẫn đến những biến đổi theo chiều hướng cải thiện hoặc làm thối hóa
thành phần khác. Vì vậy, trong thực tế khơng thể bảo vệ được một thành phần đơn lẻ khi
không tiến hành bảo vệ đồng thời những thành phần khác. Ngược lại, khi đã bảo vệ được
một thành phần này cũng có nghĩa là đã bảo vệ được những thành phần khác cịn lại
trong hệ thống. Đây cũng chính là lý do chương trình quản lý lưu vực ln mang tính
tổng hợp – quản lý đồng thời các tài nguyên vì hiệu suất cao của toàn hệ thống.
2. MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ LƯU VỰC
2.1. Mục tiêu chung của quản lý lưu vực
7
2.1.1. Đảm bảo sử dụng bền vững tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo
được như rừng, động vật hoang dã, đất nông nghiệp.
Tài nguyên là tồn bộ năng lượng, ngun liệu và thơng tin mà con người khai
thác và sử dụng phục vụ cho đời sống.
Tài nguyên thiên nhiên là tài nguyên có trong thiên nhiên, được hình thành nên do
các quy luật của tự nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên tái tạo được là những tài nguyên thiên nhiên có thể phục
hồi và phát triển được dưới tác động của các yếu tố tự nhiên.
Bền vững là tồn tại lâu dài và ổn định
Sử dụng bền vững là sử dụng không làm cho tài nguyên bị suy thối đi. Nghĩa là
khơng làm cho tài ngun bị suy giảm về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng đến sự tồn
tại lâu dài của con người và thiên nhiên.
2.1.2. Đạt được cân bằng sinh thái.
Duy trì tuần hồn vật chất
Trong hệ sinh thái luôn tồn tại những chu chình tuần hồn vật chất. Hệ sinh thái sẽ
ổn định nếu tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái là những tuần hồn kín. Khi có những
q trình nào đó làm cho tuần hồn vật chất có tính chất của tuần hồn hở thì vật chất
trong hệ sinh thái sẽ mất dần, tính ổn định và trạng thái cân bằng của hệ sinh thái cũng
mất theo. Cần bảo vệ vật chất trong hệ sinh thái, bảo toàn vật chất và năng lượng. Những
biện pháp tích cực là chống xói mịn, hoàn trả lại vật chất cho đất sau khi khai thác nông
lâm sản.
2.1.3. Cải thiện số lượng và chất lượng nước
Chất lượng nước đầu nguồn được biểu hiện ở độ sạch, tính ổn định của nguồn
nước. Chất lượng nước được duy trì và cải thiện thơng qua làm tăng dịng chảy ngầm,
giảm sử dụng các chất hoá học bảo vệ thực vật, giảm các tập trung nguồn phân bón vào
dịng chảy
Sản lượng nước được hiểu là tổng lượng nước dồn xuống lưu vực. Ơ vùng nhiệt
đới, do mưa nhiều, nên sản lượng nước thường rất lớn. Tuy nhiên, sản lượng nước hữu
ích thường rất khác nhau. Nó phụ thuộc vào trình độ canh tác và quản lý đất đai, trình độ
khai thác nguồn nước vào thuỷ điện, giao thông, thuỷ lợi, nghề cá, du lịch sinh thái. Cần
có những giải pháp duy trì và làm tăng sản lượng nước hữu ích
2.1.4. Điều hồ dịng chảy sơng suối
Điều hồ dịng chảy sông suối là mục tiêu quan trọng của hoạt động quản lý nguồn
nước. Điều hồ được dịng chảy sơng suối sẽ làm giảm được thiệt hại do lũ lụt gây nên,
tăng nguồn nước tưới cho các vùng trồng cây nông lâm nghiệp, ổn định hoạt động của
thuỷ điện, nghề cá, giao thơng thuỷ v.v… Điều hồ dịng chảy thường được thực hiện
bằng tổng hợp nhiều biện pháp quản lý đầu nguồn như bảo vệ và phát triển rừng, phát
triển các mơ hình sử dụng đất tiến bộ, xây dựng những hồ, đập,
2.1.5. Kiểm sốt xói mịn và q trình thối hoá đất đai
8
Kiểm sốt xói mịn và q trình thối hố đất đai nhằm bảo vệ những tính chất của
đất để duy trì năng suất cây trồng, vật ni, giảm áp lực của dân số vào rừng tự nhiên.
2.2. Nguyên tắc của quản lý lưu vực
2.2.1. Nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
Người dân là thành phần của hệ sinh thái. Họ tồn tại trên cơ sở tồn tại của các
thành phần khác của hệ sinh thái, đồng thời các thành phần khác của hệ sinh thái cũng
tồn tại nhờ sự tác động tích cực của người dân. Mục tiêu của quản lý lưu vực là phục vụ
con người, đảm bảo chất lượng cuộc sống của họ được nâng cao, ổn định, ít chịu rủi do
nhất trên cơ sở sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đây là
nhân tố đảm bảo tính bền vững của các chương trình quản lý nguồn nước.
2.2.2. Tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động quản lý lưu vực
Người dân vừa là người thực hiện những hoạt động quản lý nguồn nước, vừa là
đối tượng hưởng thụ kết quả của hoạt động quản lý nguồn nước. Họ là người am hiểu
hơn ai hết về những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương. Việc tham gia của
người dân sẽ là nhân tố đảm bảo thành cơng của các chương trình quản lý nguồn nước.
2.2.3. Quản lý lưu vực bằng những phương thức mới và công nghệ mới.
2.2.4. Quản lý lưu vực theo phương pháp quản lý hệ thống.
Quan điểm hệ thống là quan điểm nhìn nhận sự vật và hiện tượng như những bộ
phận không thể tách rời của những hệ thống, chúng luôn quan hệ mật thiết với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau, và cùng nhau vận động, biến đổi không ngừng. Phương pháp
quản lý hệ thống là phương pháp điều khiển hệ thống. Để phát triển hệ thống người ta
chỉ cần tác động vào những thành phần và những mối quan hệ trong yếu nhất của hệ
thống. Nhờ tính hệ thống tác động đó được lan truyền đến các bộ phận và mối quan hệ
khác thúc đẩy toàn bộ hệ thống vận động theo chiều hướng mong muốn. Những tác động
như vậy, được gọi là những tác động điều khiển hệ thống.
Mỗi lưu vực được xem là một hệ thống kinh tế - sinh thái. Nó bao gồm các bộ
phần thành phần là các hệ thống tự nhiên, hệ thống kinh tế và hệ thống xã hội. Các yếu
tố trong những hệ thống này luôn quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
quy định đặc điểm của nhau, là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của nhau. Vì vậy, quản
lý lưu vực phải được thực hiện theo phương pháp quản lý hệ thống. Nhiệm vụ của quản
lý lưu vực là tìm ra những chốt điều khiển về kinh tế , xã hội và khoa học cơng nghệ để
tác động nhằm duy trì hoặc biến đổi lưu vực theo chiều hướng mong muốn.
2.2.5. Áp dụng đồng thời nhiều giải pháp kinh tế - kỹ thuật và xã hội là yếu tố cần
thiết cho thành công của quản lý nguồn nước.
Hoạt động quản lý lưu vực là hoạt động vừa mang tính kỹ thuật vừa mang tính
kinh tế và xã hội. Nó địi hỏi những nhận thức và kiến thức nhất định để thực hiện những
biện pháp kỹ thuật, nó mang lại lợi ích kinh tế nhưng cũng yêu cầu những cơ sở vật chất
và đầu tư nhất định, nó thường mang lại lợi ích chung cho toàn cộng đồng, nhưng cũng
cần sự liên kết của nhiều thàn viên cộng đồng mới thực hiện được. Vì vậy, hoạt động
9
quản lý lưu vực cần được thực hiện bằng những biện pháp tổng hợp kinh tế – kỹ thuật và
chính sách xã hội.
2.3. Các biện pháp kỹ thuật
2.3.1. Các biện pháp bảo vệ đất
- Bảo vệ các vùng đất hoang
Đất hoang thường được hiểu là đất đã mất rừng, không cịn khả năng phát triển
cây nơng nghiệp, tương đối xa nơi ở của người dân, khơng có chủ rõ ràng v.v... Nó được
hình thành chủ yếu do q trình nương rẫy lâu dài. Đất hoang thường nghèo xấu với cây
nông nghiệp, nhưng vẫn cịn tốt để phát triển các lồi cây ăn quả, cây lấy gỗ cây dược
thảo v.v… ở vùng đất hoang nếu được bảo vệ tốt, rừng có thể tự phục hồi. Tuy nhiên, tuỳ
điều kiện lập địa mà thời gian để phục hồi tự nhiên có thể dài ngắn khác nhau. Ngoài ra
trên các vùng đất hoang thường thiếu những lồi cây có giá trị kinh tế cao. Vì vậy, với
những vùng này biện pháp quản lý lưu vực thường thường là khoanh nuôi phục hồi rừng
hoặc trồng rừng mới. Vấn đề quan trọng ở đây là tuyển chọn những loài cây bản địa đa
tác dụng, xây dựng thành những hệ sinh thái ổn định và có năng suất cao.
Khoanh nuôi tái sinh cũng là những biện pháp thường được áp dụng để phục hồi
rừng ở những vùng đất hoang. Đây là giải pháp ít tốn kém song tương đối hiệu quả. Tuy
nhiên, cần phân loại đối tượng khoanh nuôi để áp dụng được các biện pháp có hiệu quả
kinh tế cao. Thực tế biện pháp khoanh nuôi tái sinh ở ta hiện nay thường chỉ đơn giản là
bảo vệ lớp thực bì hiện có. Vì vậy thời gian phục hồi thường dài và rừng sau khi phục hồi
có giá trị kinh tế khơng cao. Điều đó làm cho giảm tính hấp dẫn của biện pháp khoanh
ni tái sinh. Người dân thường chỉ thực hiện khoanh nuôi để lấy tiền đầu tư mà không
quan tâm đến hiệu quả của cơng việc. Để khắc phục tình trạng trên người ta nghiên cứu
áp dụng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh. Những loài cây được lựa chọn để trồng
bổ sung thường phải là những cây phù hợp với điều kiện tiểu khí hậu và đất đai trong
từng gia đoạn của rừng khoanh ni. Tập đồn cây trồng ở rừng khoanh ni có thể gồm
cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây cho những sản phẩm ngoài gỗ.
2.3.2. Các biện pháp bảo vệ rừng
- Bảo vệ rừng là bảo vệ được các chức năng kinh tế và sinh thái của rừng
- Trồng rừng cung cấp nguyên liệu thay thế rừng tự nhiên
- Phát triển lâm sản ngoài gỗ để góp phần bảo vệ và phát triển rừng
- Chăn ni động vật hoang dã để giảm áp lực vào bảo tồn các giống lồi q hiếm
- Sử dụng các nguồn năng lượng thay thế cho năng lượng củi
- Tăng cường chế biến để giảm áp lực vào tài nguyên rừng
2.3.3. Các biện pháp bảo vệ nguồn nước
- Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ các tính hiệu ích của nước
10
- Bảo vệ rừng để bảo vệ nguồn nước
- Xây dựng các hồ đập để bảo vệ nguồn nước
- Kiểm soát sử dụng hoá chất để bảo vệ nguồn nước
2.4. Các biện pháp kinh tế xã hội
2.4.1. Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch mang tính logic và tính hệ thống: logic được biểu hiện ở sự phù hợp
của các hành động trong khơng gian và thời gian. Tính hệ thống là mọi yếu tố trong quy
hoạch có liên hệ mật thiết với nhau ảnh hưởng qua lại và cùng nhau hình thành nên một
hệ thống. Quy hoạch là phương án điều khiển một hệ thống.
Quy hoạch mang tính định hướng về tương lai và tính thiết lập trật tự cho hành
động: Quy hoạch vạch ra được khung cảnh của sự phát triển trong tương lai, quy hoạch
chỉ ra những hành động cần thực hiện trong tương lai, nó chỉ rõ trật tự các hành động để
đạt được sự tối ưu trong sử dụng không gian sống.
Nhiệm vụ của quy hoạch là định hướng cho sự phát triển, xây dựng được một trật
tự lành mạnh của sự phát triển trên toàn lãnh thổ trong tương lai.
+Phát triển không ngừng các yếu tố cấu trúc lãnh thổ, duy trì và tạo dựng các vùng
dân cư có sự tập trung cao về nhà ở, việc làm và những mối quan hệ hài hoà giữa kinh tế,
xã hội và văn hoá,
+Hỗ trợ các vùng tụt hậu;
+Nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng đời sống vùng biên giới, xây dựng
các phúc lợi công cộng;
+Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, phục vụ sản xuất, tạo thêm việc làm và dịch vụ
cho vùng nông thôn;
+Cải thiện các khu đô thị, tăng năng suất kinh tế và lao động, phát triển giao thơng
hợp lý;
+Duy trì kiến trúc và cảnh quan, an dưỡng và du lịch;
+Duy trì và phát triển truyền thống tốt đẹp và tâm lý yêu thương gắn bó với đất
nước;
+Đáp ứng những yêu cầu về an ninh quốc phịng.
2.4.2. Giao đất khốn rừng
Theo số liệu tổng hợp của Cục Kiểm lâm, đến cuối năm 1999 cả nước đã giao
được 8.786.572 ha đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt 59% tổng
diện tích đất quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp. Trong đó giao cho 27.312 tổ chức, với
diện tích là 6.179.913 ha. Giao cho 452.168 hộ gia đình, cá nhân với diện tích là
2.606.659 ha. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1.368 tổ chức và
11
200.867 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích là 1.173.965 ha mới chiếm 13% tổng diện
tích đã giao (Hội nghị triển khai Nghị định số 163/ CP. 2000).
Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp trên đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo
ra nhiều loại hình sở hữu rừng (rừng Nhà nước, rừng tập thể, rừng cộng đồng và rừng hộ
gia đình, cá nhân). Tạo điều kiện khai thác tiềm năng, đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ.
Cùng với các chính sách tích cực khác của Nhà nước trong thời gian qua đã làm cho độ
che phủ của rừng tăng lên nhanh chóng (từ năm 1992 đến năm 1999 độ che phủ của rừng
tăng từ 28% lên 33,31%) (CRES. 1997). Đã hình thành hàng ngàn trang trại nơng - lâm
nghiệp, mơ hình kinh tế hộ gia đình có hiệu quả kinh tế cao, hạn chế đáng kể tình trạng
phát phá rừng làm nương rẫy, rừng được bảo vệ tốt hơn vì đã có người làm chủ thực sự.
Trồng rừng được đảm bảo với tỷ lệ thành rừng cao, tạo công ăn việc làm nâng cao thu
nhập và cải thiện đời sống của nhân dân, một bộ phận dân cư đã giàu lên từ nghề rừng,
mở ra hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xố đói
giảm nghèo, từng bước góp phần làm thay đổi bộ mặt nơng thôn, miền núi.
2.4.3. Giải pháp thuế và hỗ trợ kinh tế cho người dân vùng đầu nguồn
Đây là những giải pháp dựa vào sự điều tiết của nhà nước để gắn kết mọi thành
viên trong lưu vực vào chương trình chung bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên.
2.4.4. Phổ cập để nâng cao nhận thức và kiến thức quản lý các nguồn tài nguyên.
Việc phổ cập cần được thực hiện theo những hình thức phù hợp với trình độ, tập
quán của người dân địa phương. Khuyến khích những hình thức có sự tham gia của người
dân trong q trình nhận thức.
2.4.5. Hình thành các tổ chức kinh tế xã hội.
Xây dựng các hợp tác, các tổ chức đoàn thể, các hội sản xuất v.v.... là giải pháp
đảm bảo huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng vào bảo vệ và phát triển các nguồn
tài nguyên, phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Mỗi tổ chức hợp tác có những luật lệ riêng
phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và nhân văn của địa phương, đảm bảo quản lý hiệu
quả tài ngun vì lợi ích của cả cộng đồng, nó ràng buộc các thành viên của cộng đồng
trong những chương trình quản lý và phát triển chung thống nhất.
2.4.6. Cải tiến tổ chức hành chớnh và thể chế phục vụ quản lý lưu vực tổng hợp
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đang dần kiện toàn hệ thống tổ
chức quản lý và tiến hành phân cấp quản lý lưu vực và các vùng đầu nguồn. Chức năng
định hướng và quản lý nhà nước để thực hiện các hoạt động quản lý lưu vực giao cho 3
cơ quan cấp bộ, đó là Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hội đồng Quốc gia
về tài nguyên nước.
Theo Nghị định số 86/2002/NĐ-CP có quy định chức năng quản lý lưu vực của Bộ
NN&PTNT bằng việc quản lý và sử dụng 2 nguồn tài nguyên quan trọng đó là rừng và
nước. Quản lý rừng được giao cho 2 cơ quan trong bộ là Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm
lâm. Cục Lâm Nghiệp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lâm nghiệp trong phạm
12
vi cả nước, cụ thể là trồng rừng, phát triển tài nguyên rừng, khai thác lâm sản trong phạm
vi cả nước. Cục Kiểm lâm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên rừng, cụ
thể là bảo vệ rừng và quản lý lâm sản rong phạm vi cả nước. Quản lý và sử dụng nước
được giao cho Cục Thuỷ lợi để thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành thuỷ
lợi trong phạm vi cả nước, cụ thể là khai thác, sử dụng, bảo vệ các công trình thuỷ lợi,
cơng trình cấp thốt nước nơng thơn; quản lý lưu vực sông; khai thác, sử dụng và phát
triển tổng hợp các dịng sơng; quản lý cơng tác phịng chống ngập úng, hạn hán. Văn
phòng Quản lý quy hoạch các lưu vực sông được thành lập nằm trong Cục Thuỷ lợi có
nhiệm vụ giúp cục trưởng Cục Thuỷ lợi thực hiện nhiệm vụ thường trực và quản lý các
Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông.
Theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP có quy định chức năng quản lý vùng lưu vực
của Bộ TN&MT thông qua quản lý nhà nước về tài nguyên nước và tài nguyên đất đai và
là Thường trực Hội đồng Quốc gia tài nguyên nước. Quản lý tài nguyên nước được giao
cho Cục Quản lý Tài nguyên nước chịu trách nhiệm về Kế hoạch và Chính sách, Quản lý
nước bề mặt, Quản lý nước ngầm, Bảo vệ tài nguyên nước, Quản lý điều tra cơ bản về tài
nguyên nước, Đào tạo nâng cao nhận thức. Quản lý tài nguyên đất đai được giao cho Vụ
đất đai có trách nhiệm phân loại đất đai, thống kê theo dõi tài nguyên đất.
Chức năng tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý lưu vực được phân cấp cho
các tỉnh gồm: quy hoạch và lập kế hoạch quản lý các vùng đầu nguồn phịng hộ cho sơng,
hồ chứa nước nằm trên địa giới hành chính tỉnh; tổ chức thực hiện các hoạt động phát
triển và bảo vệ nguồn nước; sử dụng nước; quản lý đất đai; phát triển KTXH ... thơng qua
các chương trình của tỉnh, của chính phủ hoặc của các tổ chức quốc tế. Các hoạt động
trên do các cơ quan chuyên môn thực hiện: Chi Cục Lâm nghiệp (Sở NN&PTNT) và Chi
cục Kiểm lâm (UBND tỉnh) chịu trách nhiệm về bảo vệ và phát triển rừng; Ban quản lý
rừng phòng hộ (trực thuộc UBND tỉnh hoặc Sở NN&PTNT) trực tiếp quản lý rừng phòng
hộ. Một số tỉnh cịn có Ban quản lý lưu vực thuộc UBND tỉnh (VD. Hồ Bình). Hiện tại
khơng có cơ quan chun mơn cấp huyện và xã về quản lý vùng đầu nguồn. Khơng có
các tổ chức ngồi nhà nước tham gia thực hiện quản lý vùng đầu nguồn. Các tổ chức này
đóng vai trị hỗ trợ thơng qua các dự án phát triển vùng lưu vực.
3. Tình hình quản lý 1 số lưu vực sơng tại Việt Nam và thế giới
3.1. Tình hình quản lý lưu vực sơng Đồng Nai
3.1.1. Tình hình quy hoạch hệ thống các cơng trình bậc thang trên lưu vực sơng
Đồng Nai đến năm 2011.
Tính đến năm 2011, nhiều cơng trình bậc thang đã và đang được xây dựng trên
dịng chính và các lưu vực sơng nhánh trên cơ sở Quy hoạch Tổng hợp nguồn nước trên
các lưu vực sông đã được thành lập.
Theo Quy hoạch sử dụng tổng nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai 2008, Quy
hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai 2007, các cơng trình đã có và cơng trình
tiềm tàng trên các dịng chính được tổng hợp như sau:
13
(1) Cơng trình thủy điện Đa Nhim (hồ chứa Đơn Dương- hiện có).
(2) Cơng trình thủy điện Đại Ninh chuyển nước khỏi lưu vực (hiện có).
(3) Cơng trình thủy điện Đồng Nai 2 (đang xây dựng).
(4) Cơng trình thủy điện Đồng Nai 3 (đang xây dựng).
(5) Cơng trình thủy điện Đồng Nai 4 (đang xây dựng).
(6) Cơng trình thủy điện Đồng Nai 5 (dư kiến).
(7) Cơng trình thủy điện Đồng Nai 6 (dự kiến) được điều chỉnh thành 2 tuyến là
Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A theo Quyết định 5117/QĐ-BTC ngày 14/10/2010.
(8) Cơng trình thủy điện Đồng Nai 8 (dự kiến). Cơng trình Đồng Nai 8 đã chia nhỏ
thành các bậc thang nhỏ là: Tà Lài, Phú Tân 1, Phú Tân 2, Thanh Sơn, Ngọc Định.
(9) Cơng trình thủy điện Trị An (hiện có).
Với sơ đồ các bậc thang cơng trình khai thác tổng hợp nguồn nước dịng chính
sơng Đồng Nai trên đây sẽ cho tổng công suất lắp máy 2.010 MW và tổng điện lượng
trung bình nhiều năm 8.590 GWh.
Hình . Sơ đồ bậc thang các hồ chứa trên các dịng chính sơng Đồng Nai
Như vậy, tổng hợp cả 4 lưu vực sông, sơ đồ bậc thang khai thác hệ thống sơng
Đồng Nai sẽ gồm 19 cơng trình. Trong 19 bậc thang có 15 cơng trình có nhiệm vụ phát
điện là chính và 4 cơng trình thủy lợi với nhiệm vụ tưới là chính, 12 cơng trình đã có
hoặc đang xây dựng và 7 cơng trình dự kiến. Có 9 trong số 16 cơng trình thủy điện đã
xây dựng và đưa vào sử dụng, 2 đang xây dựng sắp hoàn thành và 2 đang trong giai đoạn
chuẩn bị xây dựng, cịn lại là các cơng trình dự kiến trong các quy hoạch. Trong số 4
cơng trình tưới là chính có 1 cơng trình đã có, 1 đang xây dựng và 2 cơng trình tưới đều
trong giai đoạn chuẩn bị.
14
3.1.2. Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Đồng Nai và vùng phụ cận ven biển
Quy họach nhằm giải quyết nhóm vấn đề chính là:
(1) Vấn đề phát triển tưới;
(2) Vấn đề cấp nước;
(3) Vấn đề phát triển thủy điện;
(4) Vấn đề chuyển nước khỏi lưu vực sang phía Đơng (ven biển) và phía Tây
(Long An).
- Về phát triển tưới: Quy hoạch đã tính tốn cân bằng nước đáp ứng cho những nơi
có tiềm năng để phát triển nơng nghiệp như các vùng lưu vực La Ngà, Lưu vực Sài Gịn,
Vàm Cỏ Đơng và lưu vực ven biển sơng Lũy. Hiện tại, lưu vực sông Lũy đã nhận nước từ
công trình Đại Ninh chuyển sang để phát triển hệ thống tưới Phan Rí-Phan Thiết; Lưu
vực sơng Sài Gịn và Vàm Cỏ Đông sẽ được nhận thêm nguồn nước từ công trình thủy lợi
tổng hợp Phước Hịa và lưu vực sơng La Ngà sẽ được mở rộng tưới khi xây dựng đập
dâng Tà Pao.
- Về cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp: Quy hoạch đã dự báo nhu cầu nước
cho sinh hoạt và công nghiệp trong tương lai, đặc biệt là tại hành lang dọc theo Quốc lộ
51 thuộc hai tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu; từ đó đề xuất các giải pháp cơng trình
cấp nước.
- Về phát triển thủy điện: Quy hoạch đề xuất sơ đồ phát triển các bậc thang thủy
điện trên dịng chính sơng Đồng Nai và các phụ lưu sông La Ngà và sông Bé. Sơ đồ này
cơ bản phù hợp với nghiên cứu trước đây và hiện nay của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền
Nam. Điểm khác biệt so với hiện nay là việc chuyển nước sang phía Tây. Quy hoạch xác
định việc chuyển nước sang phía Tây được thực hiện từ cơng trình Srok Phu Miêng trên
sơng Bé sang hồ Dầu Tiếng trên sơng Sài Gịn; trong khi thực tế hiện nay việc chuyển
nước này đã được quyết định là từ công trình thủy lợi tổng hợp Phước Hịa (Cơng trình
Phước Hịa là bậc thang cuối cùng trên sông Bé đã được khánh thành giai đoạn 1 vào
ngày 10/12/2011).
- Về chuyển nước lưu vực: Được thực hiện bằng việc chuyển nước từ sông 56
Đồng Nai sang ác lưu vực sông ven biển thơng qua phát triển các nhà máy thủy điện trên
dịng chính và từ dịng nhánh sơng Bé sang phía Tây (sang sơng Sài Gịn và từ sơng Sài
Gịn sang sơng Vàm Cỏ Đơng.
Do đó vấn đề Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) lưu vực sông Đồng
Nai đã trở nên cấp bách, khẳng định rằng thành quả đã đạt được về thủy điện và thủy lợi
trên lưu vực sông Đồng Nai là cơ hội để đẩy tới QLTHTNN lưu vực sơng mặc dù cịn có
nhiều trở ngại, tạo tiền đề cho các yêu cầu dùng nước khác phát triển lưu vực sông để tối
15
ưu hóa đảm bảo hợp lý các lợi ích và cơng bằng xã hội, bảo vệ tính bền vững các hệ sinh
thái thiết yếu.
Vì vậy trên thực trạng quy hoạch của các ngành sử dụng tài nguyên nước, để tổng
hợp, bổ sung, chỉnh lý, phối hợp lại các quy hoạch ngành, trên cơ sở đó xây dựng thành
quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước của lưu vực sông, ưu tiên quy hoạch bảo vệ tài
nguyên nước xử lý nước thải và quy hoạch cấp nước sinh hoạt đô thị, du lịch và công
nghiệp.
Sông Đồng Nai là động mạch chủ của miền Đơng và khu 6 cũ, vì vậy QLTHTNN
trên lưu vực sơng Đồng Nai có vị trí chủ đạo đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của
vùng kinh tế động lực này. Vai trò của cộng đồng trong lưu vực trở nên quyết định việc
khai thác tổng hợp tài nguyên nước trên lưu vực sông, gắn quản lý tài nguyên nước với
môi trường (mà chủ đạo là môi trường nước và hệ sinh thái rừng). Vì vậy, lưu vực sơng
Đồng Nai là lưu vực sơng ưu tiên cần có một Ủy ban lưu vực sông đủ mạnh bao gồm đại
diện các tỉnh và các ngành có lợi ích lớn trên lưu vực được hoạt động độc lập trên cơ sở
luật tài ngun nước và Luật mơi trường, văn phịng của Ủy ban lưu vực sông là Ban
quản lý quy hoạch lưu vực sông Đồng Nai (mở rộng) làm nhiệm vụ xây dựng, quản lý
quy hoạch lưu vực sông, điều phối tài ngun nước, mơi trường trên tồn lưu vực trên cơ
sở tối ưu hóa đảm bảo hợp lý các lợi ích của các hộ và các vùng dùng nước, bảo vệ và
kiểm sốt mơi trường nước, hệ sinh thái rừng đầu nguồn, cập nhật bổ sung các phát sinh
trong quá trình quản lý, cấp phép theo phân cấp. Văn phịng hoạt động bằng nguồn kinh
phí đóng góp theo tỷ lệ lợi ích của các địa phương và các ngành dùng nước và chịu sự
quản lý nhà nước của ngành Quản lý Nhà nước về tài nguyên nước.
Với vai trò làm chủ của các địa phương trong lưu vực và các ngành sử dụng tài
nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai mặc dù là vùng khan hiếm nước sẽ được quản lý,
phát triển, bảo vệ và khai thác tổng hợp một cách tối ưu đem lại lợi ích to lớn về xã hội
và kinh tế đảm bảo cho sự phát triển bền vững của một vùng trọng điểm, năng động nhất
của đất nước.
3.2. Quản lý lưu vực tại Philipines: 2 trường hợp nghiên cứu
3.2.1. Tổng quan về 2 trường hợp nghiên cứu
- Lưu vực Magat
Trong số 4 trường hợp đã được nghiên cứu, lưu vực Magat là trường hợp lớn nhất
với tổng diện tích là 234.824 hectar. Lưu vực này cung cấp nước cho con đập đa mục
đích sử dụng khác nhau như: thủy điện, tưới tiêu, kiểm soát lũ, cung cấp nước sinh hoạt
và các mục đích sử dụng nước khác. Về cơng suất, đập Magat có thể lưu trữ 1.08 tỷ mét
khối nước, có thể tưới tiêu cho 950 ha đất nông nghiệp và tạo ra 360 MW điện.
Với những tình huống này — sự lắng đọng của Đập Magat là một vấn đề nghiêm
trọng. Vấn đề trầm tích đã lắng trọng thêm vào năm 1990 động đất. Khối lượng trầm tích
tăng từ 7,4 triệu mét khối lên 213 triệu người từ năm 1982 đến năm 2000. Bốn mươi
phần trăm diện tích đang chịu đựng từ xói mịn nhẹ và 27%, với sự xói mịn nghiêm
trọng. Dân số đầu nguồn vào tháng 5 năm 2001 là 483.411 người.
- Lưu vực Manupali
16
Các lưu vực sông Manupali ở Bukidnon tạo thành một phần của Thượng Lưu vực
sông Pulangi và cả núi Mt. Công viên Tự nhiên Kitanglad Range, nơi đầu nguồn lưu vực
Manupali. 60% diện tích đất của Manupali lưu vực là các đơ thị của Lantapan, và cịn lại
40%, được tìm thấy ở Valencia. Lantapan chiếm tới ½ của lưu vực sơng trong khi
Valencia nằm trong khu vực thấp.
Có 220 suối trong lưu vực sông Manupali đi qua 636.000 mét và cống rãnh cho
khoảng 40.000 ha đất nông nghiệp. Các vùng đất tạo nên lưu vực được phân định thành
đất dùng một lần và đất rừng. Về mặt sử dụng đất, một phần quan trọng của khu vực này
đang được canh tác nơng nghiệp thâm canh. Ở Lantapan, ví dụ, 54% diện tích đất được
dành cho nơng nghiệp.
Dựa trên phân tích các tình huống trong bốn tiểu lưu vực ở Lantapan, nó đã được
xác định rằng cả chất lượng và số lượng nước đang xuống cấp qua thời gian và điều này
được cho là gây ra bởi xói mịn đất và ô nhiễm chất thải của con người.
3.2.2. Kinh nghiệm quản lý lưu vực tại 2trường hợp nghiên cứu
- Kinh nghiệm quản lý lưu vực Magat
Việc thực hiện các sáng kiến quản lý đầu nguồn phụ thuộc đáng kể vào vốn trí tuệ của
những người liên quan thực hiện trực tiếp các sáng kiến đầu nguồn khác nhau này. Để
thực hiện điều này, Viện Cơng nghệ Nueva VIscaya (NVSIT) đã đóng vai trò quan trọng
vai trò trong việc cung cấp, hỗ trợ kỹ thuật cho những nỗ lực nói trên và trong việc cung
cấp cả đào tạo chính quy và phi chính thức về quản lý đầu nguồn.
Vai trị quan trọng của đơn vị chính quyền địa phương trong việc huy động xã hội hỗ trợ
và tạo nguồn vốn tài chính cho lưu vực sông là rất quan trọng. Điều này được chứng
minh là một yếu tố quan trọng trong quản lý lưu vực sơng Magat. Đề án này đến vì LGU
tuyên bố muốn tham gia tích cực vào bảo vệ đầu nguồn. Vì 80% diện tích thuộc về
Nueva Chính phủ Viscaya - sự quan tâm này không thực sự đáng ngạc nhiên nhưng có
vai trog quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. LGU liên lạc với các nhóm
người và khu vực tư nhân để họ hỗ trợ để giúp đỡ trong các sáng kiến quản lý đầu nguồn
- đặc biệt nhất, về các vấn đề xã hội và sinh kế. Cụ thể, LGU cung cấp khả năng xây
dựng các hoạt động để trao quyền cho các tổ chức của nhân dân và liên kết các nhóm này
với các doanh nhân thông qua các dự án sinh kế. LGU cũng đi tiên phong các hoạt động
trồng cây ở các khu vực mở - cả ở vùng cao và trong vùng đất thấp thơng qua chương
trình “ trồng cây ”. Chương trình này đã mang lại kết quả trong màu xanh lá cây của
Nueva Viscaya và là một thành công to lớn. Có các dự án khác dẫn đầu bởi LGU trong
lưu vực này - và các dự án này thể hiện vai trò quan trọng tron quản lý lưu vực của quốc
gia. Tuy nhiên, có những vấn đề trong quá trình thực hiện. Bao gồm các: a) xung đột và
tranh chấp về tài nguyên đất và nước trong các các bên liên quan; b) hỗ trợ yếu kém và
không bền vững của các xã hội dân sự và các bên liên quan có liên quan đối với một số
sáng kiến; c) năng lực kỹ thuật hạn chế của LGU quản lý đầu nguồn và d) không rõ ràng
17
và đơi khi các chính sách xung đột gây khó khăn cho việc triển khai đầu nguồn cách tiếp
cận quản lý trong môi trường tài nguyên thiên nhiên.
- Kinh nghiệm quản lý lưu vực Namupali
Cho đến nay, các nhóm người quản lý khu vực đã được tập huấn về quản lý đầu
nguồn, thẩm định quản lý tài nguyên, phân tích quản lý tài nguyên, viết kỹ thuật và
những thứ khác. Sự hiện diện của Trung tâm Mindanao Đại học, thông qua trường Cao
đẳng Lâm nghiệp, cũng đã tạo điều kiện cho việc chuyển giao kỹ năng kỹ thuật cho
những người trực tiếp tham gia quản lý đầu nguồn. Có một số luật pháp quốc gia và địa
phương ảnh hưởng đến quản lý lưu vực Namupali. Những luật này cung cấp cơ sở để bảo
vệ mơi trường, xác định sự thích hợp sử dụng đất và bảo vệ đầu nguồn.
18
Tài Liệu Tham Khảo
Vương Văn Quỳnh, Võ Đại Hải và Phùng Văn Khoa 2000. Giáo trình quản lý lưu vực,
Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam.
Nguyễn Văn Thắng và Phạm Thị Ngọc Lan 2010. Giáo trình quản lý lưu vực sông,
Trường Đại Học Thuỷ Lợi, trang 11-12.
Đỗ Đức Huy và Nguyễn Vũ Huy 2012. Báo cáo tình hình quản lý quy hoạch lưu vực
sơng đồng nai năm 2011, văn phịng Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông Đồng Nai,
trang 10, 55.
Geyik.M.P 1986. FAO WATERSHED MANAGEMENT FIELD MANUAL: gully comtrol,
Rome.
Herminia A. Francisco and Agnes C. Rola 2004. Realities of Watershed Management in
the Philippines: Synthesis of Case Studies, Philippine Institute for Development Studies,
SERIES NO. 2004-24, The Research Information Staff, Philippine Institute for
Development Studies, Philippines.
19