ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Đề tài: Hãy nêu và phân tích nội dung cơ bản của
luật thương mại điện tử trong thương mại quốc tế
Sinh viên thực hiện
:
Nguyễn Bảo Ngọc
Mã sinh viên
:
18031821
Lớp
:
Văn bằng Kép 11 – Luật học
Giảng viên
:
GS.TS Nguyễn Bá Diến
Hà Nội, 01/2022
MỤC LỤC
Lời mở đầu .....................................................................................................................................................1
1. Định nghĩa Thương mại điện tử .................................................................................................................2
2. Các phương tiện chính của Thương mại điện tử. .......................................................................................3
3. Các giai đoạn và tiến trình cấu thành giao dịch thương mại điện tử. .........................................................4
3.1.
Chia sẻ thông tin.............................................................................................................................4
3.2.
Đặt hàng .........................................................................................................................................4
3.3.
Thanh toán ......................................................................................................................................5
3.4.
Thực hiện đơn đặt hàng ..................................................................................................................5
3.5.
Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng ........................................................................................................5
4.Chủ thể của giao dịch thương mại điện tử...................................................................................................6
5.Đặc trưng của thương mại điện tử ...............................................................................................................6
6.Vai trò của thương mại điện tử....................................................................................................................7
7. Pháp luật điều chỉnh luật giao dịch thương mại điện tử. ............................................................................8
7.1 Pháp luật quốc tế ..................................................................................................................................8
7.1.1. Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban pháp luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc
(UNCITRAL) .........................................................................................................................................8
7.1.2.Tuyên bố về Thương mại điện tử toàn cầu của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ................9
7.1.3. Các quy đinh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD - Organization for Economic
Co - operation and Development) ..........................................................................................................9
-Một số' dự thảo luật đang trong q trình thơng qua như thơng luật vể bản quyền tác giả và thương
mại điện tử............................................................................................................................................11
7.2 Pháp luật quốc gia ..............................................................................................................................11
8. Những vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch thương mại điện tử .........................................................12
8.1 Chào hàng và chấp nhận.....................................................................................................................12
8.2. Văn bản viết và văn bản gốc .............................................................................................................13
8.3 Chữ ký điện tử ....................................................................................................................................15
8.4. Vấn đề thuế .......................................................................................................................................18
8.5. Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ...................................................................................................19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................................22
Lời mở đầu
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển và Internet ngày càng phổ biến
ngày nay không chỉ trên thế giới, các nước phát triển mà còn là ở Việt Nam. Trong
bối cảnh nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO từ năm 2007
đến nay, nước ta đang dần dần hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, hịa nhập vào mơi
trường thương mại quốc tế mà trong đó Thương mại điện tử là một thành phần
đóng vai trị cực kì quan trọng.
Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề này và xu hướng phát triển trong tương lại
của thương mại điện tử trên thế giới cũng như ở Việt Nam em chọn đề tài này để
làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần của mình.
Trong suốt quá trình học học phần Luật Thương mại quốc tế, dưới sự dạy dỗ,
chỉ bảo nhiệt tình của GS.TS Nguyễn Bá Diến, đã giúp em hoàn thành học phần
này. Em cảm ơn thầy rất nhiều vì những bài giảng hay và bổ ích mà thầy đã dạy
cho em và cả lớp. Nhờ có thầy nên mơn học khó và trừu tượng này giúp em có thể
tiếp thu dễ dàng. Em xin kính chúc thầy có thật nhiều sức khỏe và thành công hơn
nữa trong cuộc sống!
Sinh viên
Nguyễn Bảo Ngọc
1
1. Định nghĩa Thương mại điện tử
Khi nói đến thương mại điện tử người ta thường hình dung đến Internet và
cho rằng thương mại điện tử gán liền với internet. Tuy vậy, trên thế giới hiện nay
chưa có một định nghĩa nào về thương mại điện tử được thống nhất chấp thuận.
Theo định nghĩa của Ủy ban Châu Âu thương mại điện tử được hiểu là việc
thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử, dựa trên việc xử lý và
truyền dữ liệu điện từ dưới dạng chữ viết, ảm thanh và hình ảnh .
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa về thương mại điện
tử như sau: Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và
phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được
giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhặn cũng như những
thơng tin số hố thơng qua nạng internet. Cịn Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế của Liên hợp quốc (OECD) thì cho rằng, thương mại điện tử là các giao dịch
thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như internet.
Tóm lại, theo nghĩa phổ biến, thương mại điện tử được hiểu là việc phân
phối, marketing, mua bán hàng hoá vồ dịch vụ bằng các phương tiện điện tử. Như
vậy, thương mại điện tử bao gồm nhiều hành vi, như: hoạt động mua bán hàng hoá
và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng,
chuyển tiền điện tử, mua bén cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương
mại, hợp tác thiết kế, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và
các dịch vụ sau bán hàng. Thương mại điện tử được áp dụng đối với cả thương mại
hàng hoá, thương mại dịch vụ và các hoạt động thương mại khác.
Một giao dịch thương mại có thể được chia làm ba giai đoạn chính: giai
đoạn quảng cáo hoặc chào hàng; giai đoạn giao kết hợp đồng; và giai đoạn thanh
toán và giao hàng. Bất cứ một giai đoạn nào trong các giai đoạn trên đểu có thể
được thực hiện qua internet hoặc bằng các phương tiện điện tử khác như fax hay
điện thoại, và do vậy có thể nằm trong khái niệm thương mại điện tử.
2
Các thương nhân đang sử dụng ngày càng một nhiều các phương tiện điện tử
để quảng cáo hàng hoá và dịch vụ trên phạm vi tồn thế giới. Các thơng tin về giá
cả, chất lượng, điều kiện giao hàng và thanh toán... cho phép các nhà sản xuất, các
nhà phân phối hoặc người tiêu dùng ở những đất nước cách xa hàng nghìn dặm có
thể đặt hàng từ các nhà sản xuất cạnh tranh nhất. Dần dần, toàn bộ hàng hố có thể
được bán trên cơ sờ các thơng tin có sẵn trên Internet. Hàng hố là đối tượng của
các giao dịch thương mại điện từ không nhũng được giao bằng các phương tiện
vận tải mà một số mặt hàng còn cố thể dược giao bằng phương tiện điện tử. Đó là
những sản phẩm có khả năng số hố như: các dịch vụ tài chính và bào hiểm, các
sản phẩm nghe nhìn (phim ảnh, ưị chơi và âm nhạc), các dịch vụ du lịch (vé máy
bay, đặt khách sạn), báo chí và các dịch vụ thơng tin (các dịch vụ truyẻn thông trực
tuyến và thu thập dữ ỉiộu ngân hàng), các dịch vụ viẻn thông, các dịch vụ công
nghẹ thổng tin và phán mém, v.v...Lĩnh vực sản phẩm, dịch vụ tiém năng như thế
rất lớn và trong tương lai có thể phát sinh nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nữa phù
hợp với thương mại điện tử.
2. Các phương tiện chính của Thương mại điện tử.
Có sáu phương tiện chính của thương mại điện tử, đó là: điện thoại, máy fax,
thiết bị vơ tuyến, các hệ thống thanh tốn đỉện tử và chuyển tiền, hệ thấng trao đổi
dữ liệu và internet. Trong khi thuật ngữ “thương mại điện tủ” được sử dụng chì để
nói đến internet và việc mua bán trên mạng, thì điện thoại, máy fax và thiết bị vơ
tuyến được sử dụng phổ biến để làm phương tiện cho giao dịch thương mại, nhất là
ở những nước đang phát triển. Tuy nhiên, internet ra đời đã mở ra nhiều cơ hội
mới: hầu hết các yếu tố của một giao dịch thương mại có thể được thực hiện trên
cơ sỗ tương tác vói một hoặc một vài chủ thể mà không bị hạn chế về thời gian và
không gian, trong một mơi trường đa truyền thơng có âm thanh, hình ảnh và truyền
tải thơng tin, vói giá tương đơi thấp. Do vậy, internet với tư cách là phương tiện
chủ yếu, sẽ giúp giảm bốt những trỗ ngại trong việc giao kết các giao dịch thương
3
mại ỏ mức độ lớn hơn rất nhiều so với các phương tiện mua bán cổ điển hay
phương tiện điện tử khác.
3. Các giai đoạn và tiến trình cấu thành giao dịch thương mại điện tử.
3.1. Chia sẻ thông tin
Trước khi bán hàng, người bán cần làm cho khách hàng biết rõ về các sản
phẩm và dịch vụ của mình thông qua các hoạt động quảng cáo và tiếp thị nhằm
cung cấp dữ liệu cho q trình thu thập thơng tin của khách hàng. Khách hàng sẽ
biết về người bán (nhà cung hấp) và sản phẩm của họ đồng thời người bán (nhà
cung cấp) phải tìm hiểu về thị trường để phục vụ khách hàng được tốt hơn. Với
giao dịch thương mại điện tử, hai mục tiêu này - một của nhà cung cấp, một của
khách hàng - luôn song hành với nhau. Hoạt động này được tiến hành thông qua
quảng cáo trên các ivebsite, qua thư điện tử, phương tiện thông tin đại chúng hoặc
các hoạt động marketing khác. Việc thông qua cộng đồng mạng để tuyên truyển
thông tin về sản phẩm và dịch vụ được coi là một trong những phương thức hiệu
quả nhất. Các trang Web là một phương tiện hữu hiệu để giao tiếp vối khách hàng.
Các trang Web gồm các Catalogue sản phẩm và dịch vụ sẽ cung cấp đầy đủ các
thông tin đầy đủ và cập nhật về sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng. Duy trì một
catalogue sản phẩm hoặc dịch vụ bằng cách dùng web, có thể cho phép nhận được
các dữ liệu hàm chứa thơng tin về tần suất tìm kiếm đốỉ với một sản phẩm nào đó
từ phía khách hàng, đồng thời nhà sản xuất cũng có thể gửi các thông báo vể
những cải tiến, nâng cấp và đặc điểm mới của sản phẩm cho các khách hàng của
mình. Bằng cách chia sẻ thông tin này sẽ dẫn dắt khách hàng đến với thông tin tốt
nhất trong một môi trường thơng tin dưịng như vơ tận.
3.2. Đặt hàng
Khi một khách hàng tìm thấy hàng hố qua catalogue và quyết định mua thì
thường sẽ gửi các đơn mua hàng điện tử để đặt mua hàng hoặc dịch vụ của một
doanh nghiệp nào đó. Hệ thống xử lý đơn đặt hằng sẽ trình cho ngưịi mua một
4
mẫu đơn đặt hàng có liệt kê hàng hố đặt mua, bao gồm các khoản tiển phải trả để
người mua thanh toán tiền mua hàng.
3.3. Thanh toán
Các doanh nghiệp khi tiến hành thanh toán cũng thường dừng các phương
tiện điện tử. Chính vì vậy, các giao dịch thanh tốn được thực hiện ngày càng
nhiều theo phương thức thanh toán trên internet hay thanh toán trực tuyến trong
thương mại điện tử. Thanh toằn trực tuyến, xét trên nhiều phương diện là nền tảng
của các hệ thông thương mại điện tử. Khách hàng có thể dừng thẻ tín dụng, séc
điện tử, tiền mặt sơ' hố (Digital cash) hoặc vi tiền mặt (Microcash) để thanh toán.
Tuy nhiên, dù áp dụng phưong tiện thanh toán nào, người mua và người bán bắt
buộc phải thoả thuận được với nhau. Đồng thời, hệ thống thanh toán của người bán
cần có khả năng thực hiện các loại thanh tốn quan trọng đối vói doanh nghiệp của
họ. Vấn để tiếp theo, người bán cần phải chú ý đến đặc thù hệ thống thanh toán của
người mua đê lừ đó lựa chọn cơng nghệ thanh tốn thích hợp nhằm thu hút và giữ
dược khách hàng.
3.4. Thực hiện đơn đặt hàng
Sau khi một đơn đặt hàng đã được đặt và thanh tốn thì bước tiếp theo là
thực hiện đơn đặt hàng. Điểu này phụ thuộc vào loại hàng hoá, dịch vụ được mua
bán. Nếu hàng hoá được đặt mua là hàng hố hữu hình (cịn được gọi là hàng hố
cứng), thì sau khi đơn đặt hàng được chuyển đến hệ thống xử lý đơn truyền thơng,
hàng hố sẽ được lựa chọn, báo gói và vận chuyển đến tay khách hàng.
3.5. Dịch vụ và hỗ trợ khách hàng
Sau khi nhận hàng xong, khơng chỉ người mua có thể có một số vấn đề cần
dịch vụ trợ giúp về sản phẩm và dịch vụ mà bản thân các doanh nghiệp là bên bán
cũng muốn tiếp xúc vối khách hàng để qua đó có đốỉ sách cải tiến sản phẩm và
dịch vụ cho phù hợp trong tương lai. Vì vậy, cần phải thiết kế một hệ thống thơng
tin có thể cung cấp và làm thoả mãn mọi thông tin cho khách hàng qua nhiều kênh
5
khác nhau như fax, e-mail, web, v.v... Trong thương mại hàng hố sơ", vịệc cung
ứng các dịch vụ hỗ trợ cũng như giải quyết các vấn đề nảy sinh trong và sau khi
bán hàng hết sức phức tạp. Việc cung cấp các phiêu câu hỏi trên Web hoặc tiếp
nhận các câu hỏi thơng qua e-mail có thể góp phần giúp đõ các doanh nghiệp có
được những thơng tin cần thiết đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
4.Chủ thể của giao dịch thương mại điện tử
Trong giao dịch thưdng mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia giao dịch
truyền thống (bên bán và bên mua) xuất hiện thêm một bên thú ba, đó là các nhà
cung cấp dịch vụ mạng, các cd quan chứng thực... là những ngi tạo mơi trưòng
cho các giao dịch thương mại điện tử.
Theo quy định của Đạo luật mẫu của UNCITRAL vể Thương mại điện tủ
của Liên hdp quốc năm 1996, các bên tham gia giao dịch thưdng mại điện tủ cũng
gồm ba chủ thể: ngưịi gửi, người nhận và ngưịi trung gian. Theo đó, “người gửi”
là người mà vi người đó hoặc nh&n danh người đó, thơng tin dữ liệu được chuyển
đi hoặc được tạo ra trước khỉ được lưu giữ, chú không phải người trung gian xử lý
thơng tin đó; “người nhộn” là ngưòi được ngưòi gửi dự kiến sẽ là ngưòi tiếp nhộn
thông tin giữ liệu, chú không phải là người trung gian xử lý thơng tin đó; và “ngưịi
trung gian” là ngưòi nhân danh một ngưòi khác chuyển, nhận, lưu giữ một thơng
tin giữ liệu hoặc cung cíp các dịch vụ khác liên quan đến thông tin này.
5.Đặc trưng của thương mại điện tử
So với các hoạt động thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một sấ
đặc điểm cơ bản như sau:
* Các bên tham gia giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không cần thiết phải biết nhau từ trước.
6
- Khác với thương mại truyền thống, thương mại điện tử dược thực hiện
trong một thị trường khơng có biên giới: thị trương thống nhất toàn cầu;
-Trong hoạt động của giao dịch thương mại điện tử có sự tham gia của ít
nhát của ba loại chủ thể: người bán, người mua và một chủ thê không thể thiếu
được là người cung cấp dịch vụ mạng;
- Với thương mại truyền thống thì mạng lưói thơng tin chỉ là phương tiện để
trao đổi dừ liệu, cịn với thương mại điện tử thì mạng lưới thơng tin chính là thị
trường.
Việc mã hố, số hố nội dung của các thơng tin, chứng từ và tài liệu giao
dịch cho dù hoạt động trong phạm vi quốc gia hay quốc tế đểu có sự khác biệt so
với thương mại truyền thông là phương thức thương mại dựa trên các chứng từ
bằng giấy tờ
6.Vai trò của thương mại điện tử
Thương mại điện tử ngày càng có vai trò hết sức to lớn trong giao dịch
thương mại, đặc biệt trong giao dịch thương mại quốc tế. Nó mang đến cho người
tiêu dùng và các thương nhân thông tin về sự hiện diện của hàng hoá và dịch vụ
trên toàn thế giới, giá cả và các điều kiện bán hàng, cho phép họ mua được hàng
hoá với những điều kiện tốt nhất. Thương mại điện tử mang đến cho người cung
cấp các dịch vụ marketing trực tiếp, cho phép hộ kinh doanh mà không cần phải
mở một cơ sở hay thuê một đại lý ở nước ngoài. Các cửa hàng tổng hợp và các
điểm liên hệ trên Internet giảm thiểu sự chậm trễ trong việc giao hàng bằng cách
tạo điều kiện thơng tin liên lạc giữa các bên có liên quan. Khả năng cung cấp hàng
hoá một cách nhanh chóng và đảm bảo, nhờ giao dịch thương mại điện tử cũng cho
phép các ngành công nghiệp, các nhà bán bn và bán lẻ giảm mức hàng hóa lưu
kho, lưu bãi giúp cho thương nhân giảm thiểu chi phí kinh doanh. Thương mại
7
điện tử mở rộng thị trường hiện có và tạo cốc cơ hội và lĩnh vực kinh doanh mới,
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ mới, đặc biệt là trong lĩnh vực hàng hố vơ hình.
Thương mại điện tử cho phép mọi chủ thể cùng tham gia thị trường, tạo điều
kiện cho tất cả mọi chủ thể ở khắp mọi nơi trên hành tinh đều có thể tham gia vào
thị trường giao dịch toàn cầu - vượt qua mọi ngăn cách về địa lý và biên giới.
Thương mại điện tử không giới hạn cơ hội tham gia của bất ký đối tượng nào, tạo
điều kiện giao dịch trực tiếp mà không phải gặp nhau giữa người mua và người
bán, không phải qua trung gian; tạo ra những tác động to lớn mới đối với doanh
nghiệp và giúp nâng cao điều kiện sống cho người tiêu dùng. Không phải đến các
cửa hàng bách hoá mà chỉ dùng các phương tiện điện tử để đặt mua sản phẩm và
được giao trực tiếp đến tận nhà từ mọi nguồn trong nước và quốc tế
7. Pháp luật điều chỉnh luật giao dịch thương mại điện tử.
7.1 Pháp luật quốc tế
7.1.1. Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban pháp luật
thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL)
Từ năm 1985, Uỷ ban Luật Thương mại của Liên hợp quốc (UNCITRAL)
đã yêu cầu các quốc gia thành viên và các tố chức quốc tế xcm xót lại các yêu cầu
vể mặt pháp lý liên quan đến giá trị chứng áí của ghi âm tin học và những gì liên
quan dấn chữ ký bằng tay hay bất kỳ phương pháp chứng minh nào khác trên giấy
đối với những chứng từ thương mại nhằm cho phép sử dụng các phương tiện điện
tử chứng thực121. Sau đó. một loạt các vân đề khác, không thể thiếu được, thuộc
lĩnh vực thương mại điện tử cũng đã được đặt ra như: các dữ liệu định danh, việc
bảo vệ người tiêu dùng, việc xác lập hợp đổng, việc lưu giữ những thơng tin được
ghi lại, luật sỏ hữu trí tuệ, tên miền, thuế, xung đột pháp luật và xung đột thẩm
quyển, trọng tài, công nhận và cho thi hành (bản án, quyết định trọng tài), hải quan,
trách nhiệm của người hưởng dịch vụ, việc lan truyền nội dung bất hợp pháp, sự an
tồn và tính bảo mật của việc trao đổi trên mạng, v.v... Để đáp ứng trưốc những đòi
8
hỏi trên, Luật mẫu vể Thương mại điện tử đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua tại phiên họp toàn thể thứ 85 ngày 16/12/1996. Đạo luật này, bao gồm
17 điểu và kèm theo một văn bản hướng dẫn, là một hệ thống các quy tắc pháp lý
và được cộng đồng quốc tế chấp nhận, là đạo luật mẫu cho phần lớn các quốc gia
về những vấn để pháp lý cơ bản của thương mại điện tử, đặc biệt là những vấn đề
về chứng cứ, chữ viết và chữ ký điện tử.
7.1.2.Tuyên bố về Thương mại điện tử toàn cầu của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)
Tuyên bố về Thương mại điện tử toàn cầu tại Hội nghị Bộ trưởng Geneve, tổ
chức vào tháng 5/1998, của WTO đã giao cho Đại Hội đồng “xây dựng một
chương trình cơng tác tổng thể xem xét tất cả các vấn đề có liên quan đến thương
mại của thương mại điện tử toàn cầu”. Theo nhiệm vụ này, tại các diễn đàn liên
quan của WTO đang tiến hành việc xem xét có cần thiết phải sửa đổi hoặc cải tiến
các quy tắc đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ trong Bính vực sỏ hữu trí tuệ
hay khơng. Đồng thời, Đại Hội đồng đã giao cho Ủy ban về thương mại và phát
triển đánh giá tác động của thương mại điện tử tới thương mại của các nước đang
phát triển và tìm kiếm các phương thức nhằm tơl đa hố lợi ích cho các nước này.
Tại tuyên bố nêu trên, các nước thành viên đã nhất trí tiếp tục duy trì các chính
sách hiện hành về việc khơng đánh thuế đối với các giao dịch thương mại điện tử.
7.1.3. Các quy đinh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh
tế(OECD - Organization for Economic Co - operation and Development)
Tại Hội nghị Bộ trưởng các nưốc thành viên được tổ chức tại Ottawa
(Canada) tháng 10 năm 1998, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa
ra một sô" văn bản khuyến nghị nhằm xây dựng khung pháp luật cho phát triển
thương mại điện tử.
Theo khuyến nghị của OECD, khung pháp luật điểu chỉnh thương mại điện
tử phải giúp đạt được mục tiêu là: khuyến khích nguyên tắc tự do cạnh tranh
thương mại và nguyên tắc minh bạch hoá. Các quốc gia cần tiếp tục nghiên cứu các
9
quy định về hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế để phù
hợp với điểu kiện của thương mại điện tử.
Đối với việc bảo hộ quyển sở hữu trí tuệ, OECD cho rằng Hiệp định TRIPS
của WTO đả là một văn bản tổng hợp trong đó có dề cập đến mọi hình thức sỏ hữu
trí tuệ và khá phù hợp với điều kiện mới của thương mại điện tử.
7.1.3. Các quy định của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD Organization for Economic Co - operation and Development)
Tại Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên được tổ chức tại Ottawa
(Canada) tháng 10 năm 1998, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã đưa
ra một số" văn bản khuyến nghị nhằm xây dựng khung pháp luật cho phát triển
thương mại điện tử.
Theo khuyến nghị của OECD, khung pháp luật điều chỉnh thương mại điện
tử phải giúp đạt được mục tiêu là: khuyến khích nguyên tắc tự do cạnh tranh
thương mại và nguyên tắc minh bạch hoá. Các quốc gia cần tiếp tục nghiên cứu các
quy định về hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế để phù
hợp với điều kiện của thương mại điện tử.
Đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, OECD cho rằng Hiệp định TRIPS
của WTO đã là một văn bản tổng hợp trong đó có đề cập đến mọi hình thức sở hữu
trí tuệ và khá phù hợp với điều kiện mới của thương mại điện tử
7.1.4. Các quy định của Liên minh Châu Âu (EU)
Liên minh châu u cũng đã ban hành một khung pháp lý thống nhất về
thương mại điện tử, như:
-Thông tư số 95/46/CE của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Châu Âu ngày
24/10/1995 về việc bảo hộ dữ liệu cá nhân.
10
-Thông tư số 1999/93/CE ngày 13/12/1999 của Nghị viện Châu Âu và Hội
đồng Châu Âu về khung pháp luật chung của chữ ký điện tử.
-Một số' dự thảo luật đang trong q trình thơng qua như thơng luật vể bản
quyền tác giả và thương mại điện tử.
7.2 Pháp luật quốc gia
Cho đến nay, Việt Nam đã có những bộ luật quy định gián tiếp về Thương
mại điện tử như:
Luật Thương mại 2019
Luật Giao dịch điện tử 2005
Luật Quản lý ngoại thương 2019
Bộ luật dân sự 2015
Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Nghị định 130/2018/NĐ-CP Nghị định này quy định chi tiết về chữ ký số và
chứng thư số, việc quản lý, cung cấp và sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch
vụ chứng thực chữ ký số;
Nghị định số 85/2021/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về
thương mại điện tử;
Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính phủ về giao dịch
điện tử trong hoạt động tài chính;
Thơng tư 47/2014/TT-BCT về quản lý web thương mại điện tử của Bộ Tài
chính;
11
Thông tư 59/2015/TT-BCT quản lý hoạt động TMĐT qua ứng dụng trên
thiết bị di động của Bộ Tài chính;
Tổng cục Thuế (2017), Công văn số 2623/TCT-CS ngày 16/06/2017 về việc
tăng cường quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử;
8. Những vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch thương mại điện tử
8.1 Chào hàng và chấp nhận
Khi các bên đàm phán, ký kết một hợp đồng thương mại qua hệ thống điện
tủ, hợp đồng đó sẽ được thiết lập bằng cách một bên đưa ra lời chào hàng và bên
kia chấp nhận lời chào hàng. Việc trao đổi sự thỏa thuận đó sẽ tạo ra hiện lực pháp
lý của hợp đồng mà không cần hai bên thực hiện một hình thức nào khác, trừ
trường hợp pháp luật đòi hỏi hợp đồng phải được lập theo một khn mẫu cụ thể,
ví dụ trường hợp mua bán bất động sản.
Như vậy, hợp đồng thương mại điện tử được giao kết ít nhất qua hai giai
đoạn: chào hàng và chấp nhận. Thông thường, khi các bên thảo luận một hợp đồng
thương mại qua điện tử, thì hợp đồng (ió sẽ được thiết lập bằng cách một bên đưa
ra lời chào hàng vã bên kia chấp nhận lời chào hàng. Việc trao đổi sự thỏa thuận đó
sẽ tạo ra hiệu lực pháp lý của hợp đồng mà không cần hai bên thực hiện một hình
thức nào khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Theo quan điểm của Trung tâm trợ giúp thủ tục và thực hành hành chính,
thương mại và vận tải của Liên hợp quốc, tại Điểu 3,2.1 của hợp đồng thương mại
điện tủ (được thơng qua vào tháng 3/2002), thì “một lời đề nghị được coi là một
chào hàng nếu nó bao hàm lời đề nghị ký kết hợp đồng và được gửi đến một hoặc
một số người cụ thể, đồng thời khẳng định một cách đầy đủ và thể hiện ý định của
người gửi sẵn sàng gánh vác trách nhiệm của lời chào hàng đó khi nó được chấp
nhận. Một bức thư điện tử phát ra một cách rộng rãi cho nhiều người không được
coi là lời chào hàng, trừ trường hợp trong thư đó có chú thích khác”.
12
Đồng thời việc soạn thảo các chào hàng và chấp nhận chào hàng phải thích
ứng với mơi trường internet và cần phải chú ý đến các điểm quan trọng sau đây:
-Một văn bản ngắn gọn, tránh dài dòng;
-Sử dụng các câu đơn giản;
-Sử dụng sơ đồ;
- Sử dụng các dấu hiệu để phân biệt các yếu tố quan trọng;
- Sử dụng các chữ đậm hay chữ viết hoa để nhấn mạnh những điểm nổi bật;
- Sử dụng vừa phải và có kiểm sốt các liên kết văn bản;
- Bỏ mọi yếu tố' có thể gây nghi ngờ hay bất tiện cho người ký hợp đồng (ví
dụ giới hạn và lập chương trình ngăn cản khách hàng tra cứu trang Web).
Nếu thực hiện được các tiêu chuẩn trên sẽ cải thiện rõ ràng về tốc độ đọc,
khả năng nhớ cũng như giảm sự nhầm lẫn. Đồng thời, có thể yêu cầu bên đối tác
cùng ký hợp đồng in hợp đồng điện tử ra giây (hình thức hợp đồng trên internet
khơng bắt buộc bỏ qua hình thức giấy tờ).
8.2. Văn bản viết và văn bản gốc
Văn bản viết là một khái niệm pháp lý được tạo ra trong một bối cảnh khác
với bối cảnh của thương mại điện tử và môi trường Internet. Vậy hợp đồng thương
mại được giao kết thông qua phương tiện điện tử có thể được coi là văn bản viết
không? Luật Thương mại điện tử của UNCITRAL đã đưa ra khái niệm về “văn bản
viết” theo nguyên tắc tương đương. Điều 6 (Luật mẫu UNCITRAL) quy định như
sau:
1. Trong trường hợp pháp luật quy định một thông tin phải được thể hiện
dưới hình thức văn bản viết, thì một bản tin dữ liệu được coi là đã thoả mãn điều
kiện này, nếu thông tin trong bản tin dữ liệu đó có thể truy cập được sau này.
13
2. Điều kiện quy định tại khoản 1 được thể hiện dưới dạng một điều kiện bắt
buộc hoặc pháp luật chỉ đơn thuần quy định các hệ quả pháp lý nếu thơng tin
khơng được thể hiện dưới hình thức văn bản viết.
Về văn bản gốc đối với thông tin điện tử, Luật mẫu về Thương mại điện tử
cũng đã quy định:
"Trong trường hợp pháp luật quy định một thông tin phải được thể hiện hoặc
lưu giữ dưới hình thức làm gốc, thì một thơng tin điện tử được coi là thoả mãn điều
kiện trên trong các trường hợp sau: i) Bảo đảm đủ độ tin cậy về tính tồn vẹn của
thông tin kể từ thời điểm thông tin được tạo ra lan đầu, dưới hình thức chính thức
là một bản thơng tin dữ liệu hay một hình thức thơng tin khác; và ii) Thông tin
chứa trong bản tin dữ liệu đó có thể giới thiệu được cho người mà nó cần phải
được giới thiệu, trong trường hợp pháp luật quy định thông tin phải được giới thiệu
cho mọi người.
2. Điều kiện quy định tại khoản 1 được thể hiện dưới dạng một điều kiện bắt
buộc hoặc pháp luật chỉ đơn thuần quy định các hệ quả pháp lý, nếu thông tin
khơng được giới thiệu hoặc lưu giữ dưới hình thức văn bản gốc .
Tóm lại, các bên tham gia thương mại điện tử phải đảm bảo q trình hợp
đồng có được một hình thức tương đối dù cho các quy định vể luật pháp không yêu
cầu nhất là khi đồng nhất hợp đồng điện tử với hợp đồng trên giấy. Khi ký kết hợp
đồng yêu cầu tính đến các yếu tố hình thức để giúp cho việc quản lý tài liệu và làm
bằng chứng. Đối với người mua, khi giao kết hợp đồng điện tử cần có bằng chứng
sau:
-Bằng chứng về chào hàng của người bận;
-Bằng chứng về gửi chấp nhận của người mua;
-Bằng chứng về giấy báo nhận;
14
-Bằng chứng về chất lượng;
-Một số thủ tục an toàn;
-Bằng chứng có thể nhỏ vào một bên thứ ba (Bên thứ ba có thể quản lý và
lưu trữ các tài liệu mà người làm Thương mại điện tủ có nhu cầu về sau).
8.3 Chữ ký điện tử
Chữ ký điện tử được quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Giao dịch điện tử
2005:“1. Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh
hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách
lơ gíc với thơng điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thơng điệp dữ liệu và
xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được
ký.”1
Các ưu điểm khi sử dụng Chữ ký điện tử :1.Có thể sử dụng đốivới các chứng
từ và giao dịch điện tử 2.Tự động hóa xác thực chủ thể của chữ ký 3.Xác thực tính
nguyên vẹn của nội dung văn bản. 4.Thể hiện cam kết đối với nội dung văn bản 5.
Được hỗ trợ bởi các yếu tố khác 6. Được phát luật nhiều nước thừa nhận.2
Theo Luật Giao dịch điện tử 2005, chữ ký điện tử có giá trị pháp lý nếu:
- Phương pháp tạo chữ ký điện tử cho phép xác minh người ký và chứng tỏ
sự chấp thuận của người ký đối với nội dung hợp đồng.
- Phương pháp tạo chữ ký điện tử là đủ tin cậy, phù hợp với mục đích mà
hợp đồng được khởi tạo và gửi đi.
1
2
Luật Giao dịch điện tử 2005
ThS Trần Đoàn Hạnh, Học viện Bưu chính viễn thơng, Bài giảng mơn Pháp luật thương mại điện tử,2010
15
Chữ ký điện tử có 03 phương thức sử dụng chữ ký phổ biến sau:3
Chữ ký số
Chữ ký bằng hình ảnh
- Chữ ký scan được
- Chữ ký bằng hình
tạo ra bằng cách mỗi
ảnh được tạo ra bằng
bên tham gia kí kết
cách các bên tham gia ký
chữ ký số cho các bên
hợp đồng ký trực tiếp
kết hợp đồng chèn hình
có nhu cầu trênmột
vào nội dung của văn
ảnh chữ ký của mình vào
nền tảng công nghệ
bản hợp đồng.
hợp đồng.
- Chữ ký số được tạo
ra từ một bên cấp
dịch vụ chứng thực
Mô tả
Chữ ký scan
tin học và thiết bị
chuyên dụng.
- Sau đó hợp đồng vừa - Sau đó hợp đồng này
được ký trực tiếp đó sẽ được lưu dưới dạng tập
- Sau đó chữ ký số
được chèn vào hợp
đồng cần ký kết dưới
dạng điện tử
Phương thức này
thường được ứng
được quét (scanning)
tin dữ liệu (pdf, doc, ...)
chuyển thành dạng
và tập tin này được gửi
điện tử và được gửi đi
đi bằng thư điện tử
bằng thư điện tử
Phương thức này được Phương thức này thường
ứng dụng khi có nhiều
bên tham gia hợp đồng
dụng đối với giao
Ứng dụng
và có sự cách trở về
được ứng
dụng đối với giao dịch
có trị giá nhỏ, khơng
dịch có trị giá nhỏ
địa lý lẫn khơng có
như nộp tờ khai hải
mặt cùng một thời
người tham gia ký kết
điểm. Do đó, các hợp
khơng có mặt ở cùng
đồng có các chủ thể ở
một địa điểm
quan, nộp thuế
online, phát hành hóa
phải ký nhiều lần, những
các quốc gia khác
nhau thường ứng dụng
3
Lê Hữu Nghĩa Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam, Một số bất cập về pháp luật
giao dịch bằng hợp đồng điện tử tại Việt Nam, 2021.
16
đơn điện tử...
chữ ký scan
Những hạn chế trong pháp luật quy định về chữ ký điện tử (có thể lược bỏ
phần này cũng được), hiện tại, theo Pháp luật hiện hành chỉ có chữ ký số được quy
định rõ là một loại CKĐT (Nghị định 130/2018/NĐ-CP, Chính phủ, 2018 và Nghị
định 52/2013/NĐ-CP, Chính phủ, 2013), chữ ký scan và chữ ký bằng hình ảnh
chưa có quy định pháp luật điều chỉnh. Một số quy định điều chỉnh đến chữ ký số
như “văn bản được ký bằng chữ ký số không nhất thiết bắt buộc phải đóng dấu”
(Khoản 2, Điều 8, Nghị định 130/2018/NĐ-CP, Chính phủ, 2018); “chữ ký số có
giá trị pháp lý và được công nhận trong việc gửi các tài liệu cho Tịa án mà khơng
làm phát sinh các vấn đề về tính hiệu lực” (Khoản 1, Điều 7, Nghị quyết số
04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016, Chính phủ, 2016a); “chữ ký số và chứng thư
số nước ngoài được cấp giấy phép sử dụng tại Việt Nam có giá trị pháp lý và hiệu
lực như chữ ký số và chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký
số công cộng của Việt Nam cấp” (Khoản 3, Điều 8, Nghị định 130/2018/NĐ- CP,
Chính phủ, 2018); “tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng
của các cơ quan, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn
cho chữ ký số chuyên dùng được quy định theo Pháp luật Việt Nam” (Điểm d,
Khoản 2, Điều 9, Nghị định 130/2018/NĐ-CP, Chính phủ, 2018).
Tình hình đại dịch Covid-19 đang bùng nổ trên thế giới với tính chất nguy
hiểm và lây lan nhanh chóng, phức tạp trong cơng tác kiểm sốt, phịng chống. Do
đó, xu thế giao dịch trực tuyến đang được nhấn mạnh và ưu tiên vận hành. Tuy
nhiên, pháp luật điều chỉnh về giao dịch bằng hợp đồng điện tử vẫn cịn một số bất
cập có thể dẫn đến rủi ro cho các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng như: khó
khăn và tốn nhiều chi phí trong việc thu thập và kiểm tra tính xác thực của chứng
cứ từ thông điệp dữ liệu; thiếu quy định cụ thể về hình thức chữ ký scan và chữ ký
17
hình ảnh; chưa có quy định về cơng chứng Hợp đồng điện tử.4 Bên cạnh đó, cuộc
cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư đang diễn ra sôi nổi trên phạm vi toàn cầu cùng
với sự phát triển vượt bậc và không ngừng của khoa học kỹ thuật được ứng dụng
trong mọi mặt đời sống, kinh tế, pháp luật. Vì thế, việc nghiên cứu và tìm ra những
bất cập về pháp luật giao dịch bằng hợp đồng điện tử tại Việt Nam là một trong
những địi hỏi cấp thiết nhằm góp ý cho các cơ quan có thẩm quyền về lập pháp
kịp thời nhận dạng và có hướng điều chỉnh phù hợp với tình hình mới.
8.4. Vấn đề thuế
Thương mại điện tử đã đặt các cơ quan và hệ thống pháp luật thuế trước
những thách thức to lớn: tạo ra khả năng cho các đối tượng nộp thuế có thể trốn
thuế dễ dàng hơn; việc xác định thẩm quyền đánh thuế và thu thuế khi mà hầu hết
các giao dịch đều vượt khỏi biên giới quốc gia, v.v...
Thông thường, các hàng hoá được đặt hàng theo phương thức điện tủ từ các
nước khác sẽ được vận chuyển bằng; các phương tiện vận tài hàng không, đường
sắt, đường bộ hoặc đường biển. Thuế quan đánh vào các hàng hoá này sẽ được thu
tại cửa khẩu giống như đơi với hàng hố được giao dịch thông qua phương thức
phi điện tử.
Tuy nhiên, các sản phẩm như sách, báo, phim, ảnh âm nhạc có thể được số
hoá và truyền trực tiếp đến người tiêu dùng. Một quyển sách hay một đĩa CD có
thể phải nộp thuế quan khi đi qua cửa khẩu, trong khi đó phiên bản sơ' hot của
chúng được giao trực tiếp đến người tiêu dùng lại khơng phải chịu thuế đó.
Mặc dù vậy, một số nghiên cứu gần đây cho thấy việc không thu thuế quan
đối với các sản phẩm số hố có thể khơng ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngân sách
của một quốc gia. Hơn nữa, .không phải là không thể đánh thuế các giao dịch
thương mại điện tử nếu các quốc gia mong muốn và quyết tâm. Vấn đề này hiện
đang được nghiên cứu để (6 lời giải đáp thoả đáng Theo để xuất của Tổ chức hợp
4
Hoàng Việt, Báo Kinh tế Sài Gịn, Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, 2012
18
tác và phát triển kinh tế (OECD), các quốc gia cần đi đến thoả thuận nhằm đảm
bảo những vấn đề sau đây:
Không đặt ra những sắc thuế mới tạo nên sự phân biệt đối xử đối với
thương mại điện tử.
Những quy định về thuế hiện hành phải thể hiện được sự nhất quán trong
luật thuế quốc gia và tránh đánh thuế hai lần.
Hệ thống thuế phải được thực thi một cách bình đẳng cho dù những giao
dịch đó diễn ra qua các phương tiện thương mại thông thường hơn.
Để đạt được sự thoả thuận trên toàn thế giới về vấn đề thuố thương mại điện
tử, các nước OECD đồng ý rằng quy định vể thuế đối với thương mại điện tử phải
được thực thi theo nguyên tắc trung lập, công hiệu, ổn định, đơn giản, có hiệu quả,
lành mạnh và mềm dẻo.
8.5. Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ vốn dĩ là một phạm trù của pháp luật cũng như cơ chế
bảo vệ cho các thành quả sáng tạo. Đây cũng là cách thức mà luật pháp bảo hộ
trước các hình thức xâm phạm tài sản sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong nền thương mại
điện tử. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử giữ một vị trí quan
trọng đối với sự phát triển của các tổ chức, bởi trong thị trường này mọi đối tượng
đều có thể tham gia giao dịch, và việc làm giả, làm nhái thương hiệu, sản phẩm trở
nên phổ biến, dễ dàng hơn bao giờ hết. Giống với nhiều quốc gia đang phát triển
trong thời đại kỹ thuật số, ở nước ta, nhu cầu giữ gìn thương hiệu, bản quyền cũng
như ký kết các hợp đồng sử dụng tài sản trí tuệ cho các doanh nghiệp đang đặt ra
cấp thiết. Đây cũng là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Đối tượng cần được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử
gồm ba nhóm chính:
19
a. Bằng sáng chế (patent): tạo nên bởi tổ hợp các phần mềm để thực hiện
chức năng thương mại điện tử đặc thù cho công ty
Sáng chế hay bằng sáng chế được định nghĩa tại khoản 12 Điều 4 Luật sở
hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019. Cụ thể sáng chế là những giải pháp
kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình. Những đối tượng đó được ứng dụng
nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Để được bảo hộ, sáng chế đó phải thoả mãn các điều kiện tại Điều 58 Luật
này:
– Có tính mới;
– Có trình độ sáng tạo;
– Có khả năng áp dụng cơng nghiệp.
Nếu tuân thủ được các điều kiện này thì sáng chế đó sẽ được cấp Bằng độc
quyền sáng chế.
Ngồi ra đối tượng này cịn có thể được bảo hộ bằng hình thức cấp Bằng độc
quyền giải pháp hữu ích nếu khơng phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các
điều kiện sau đây:
– Có tính mới;
– Có khả năng áp dụng công nghiệp.
b. Bản quyền (Quyền tác giả)
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật này thì Quyền tác giả là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Đối tượng quyền
tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên
quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương
trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
20
c. Nhãn hiệu
Luật sở hữu trí tuệ gọi chung nhóm đối tượng này là nhãn hiệu và định nghĩa
chung tại khoản 16 Điều 4. Đây là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ
của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Để được bảo hộ bằng quyền sở hữu cơng
nghiêp thì nhãn hiệu cần tn theo các điều kiện quy định tại Điều 72 bao gồm:
– Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc
nhiều mầu sắc;
– Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với
hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Phạm vi điều chỉnh của quyền sở hữu trí tuệ nói chung bao trùm cả các tác
phẩm và quyền của người sáng tạo nên tác phẩm trí tuệ đó. Trong đó khía cạnh
thuộc về lĩnh vực thương mại điện tử đang được thể hiện rõ nét. Bởi vốn dĩ công
nghệ thông tin và hệ Internet đã là một hệ thống tập hợp những tài sản trí tuệ đa
dạng và tinh túy nhất ngày nay.
Vì vậy mà khi thương mại điện tử từng bước được vận hành trong mơi
trường kỹ thuật số thì nó mặc nhiên sử dụng các tài sản này trong hệ thống mạng.
Chúng bao gồm cả các ứng dụng miễn phí hay trả tiền đi kèm với đó là những tài
sản do chính hoạt động của thương mại điện tử tạo nên. Nhờ vậy mà phạm vi bảo
hộ của quyền sở hữu trí tuệ được xem như mở rộng ra để phù hợp với tình hình
thực tế.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản pháp luật:
1. Luật Thương mại 2019
2. Luật Giao dịch điện tử 2005
3. Luật Quản lý ngoại thương 2019
4. Bộ luật dân sự 2015
5. Bộ luật tố tụng dân sự 2015
6. Bộ luật tố tụng hình sự 2015
7. Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 về gửi, nhận đơn khởi
kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng
phương tiện điện tử;
8. Nghị định 130/2018/NĐ-CP Nghị định này quy định chi tiết về chữ ký số và
chứng thư số, việc quản lý, cung cấp và sử dụng chữ ký số, chứng thư số và
dịch vụ chứng thực chữ ký số;
9. Nghị định số 85/2021/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ
về thương mại điện tử;
10.Tổng cục Thuế (2017), Công văn số 2623/TCT-CS ngày 16/06/2017 về việc
tăng cường quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử
11.Thông tư 47/2014/TT-BCT về quản lý web thương mại điện tử của Bộ Tài
chính;
12.Thơng tư 59/2015/TT-BCT quản lý hoạt động TMĐT qua ứng dụng trên
thiết bị di động của Bộ Tài chính;
22
Sách, Giáo trình:
13. GS.TS Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Thương mại quốc tế, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2005
14. GS.TS Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2013
Các cơng trình nghiên cứu khoa học:
15. ThS Trần Đoàn Hạnh, Học viện Bưu chính viễn thơng, Bài giảng mơn Pháp
luật thương mại điện tử,2010
16. Lê Hữu Nghĩa Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Việt Nam, Một số bất cập về pháp luật giao dịch bằng hợp đồng điện tử tại
Việt Nam, 2021.
17. Hoàng Việt, Báo Kinh tế Sài Gịn, Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại
điện tử, 2012
23