Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
RAU AN TOÀN VÀ TRUYỀN THỐNG Ở XÃ QUẢNG
THÀNH, HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN
HUẾ
1
Trần Huỳnh Bảo Châu , Trần Huỳnh Quang Minh
Ngày nhận bài: 25/05/2018
Ngày nhận bản sửa: 01/06/2018
Ngày duyệt đăng: 25/06/2018
Tóm tắt: Nghiên cứu này tập trung vào so sánh hiệu quả kinh tế hoạt động sản
xuất rau an toàn (RAT) và rau truyền thống (RTT) trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện
Quảng Điền. Kết quả điều tra cho thấy: hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất rau
tương đối cao. Lợi nhuận của nhóm hộ trồng RAT là 15.310.800 đồng/sào/năm, trong
khi RTT là 15.330.200 đồng/sào/năm. Phần chênh lệch giữa hai nhóm trồng rau khơng
q lớn. Nguyên nhân là do giá bán RAT cao nhưng chưa có thị trường tiêu thụ ổn định
và chưa có quy định nào giúp phân biệt RAT và RTT. Do vậy, cần nâng cao hiệu quả
kinh tế của hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng sản phẩm RAT trong thời gian tới.
Chính quyền địa phương cần khuyến khích người dân chuyển đổi dần từ mơ hình RTT
sang RAT nhằm góp phần bảo vệ môi trường và đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.
Từ khóa: Rau an tồn; Rau truyền thống; Xã Quảng Thành
1. Đặt vấn đề
Rau xanh là một thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày của con
người. Sản xuất rau ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và xã Quảng Thành nói riêng
ngày một phát triển, không những đem lại hiệu quả kinh tế cao mà góp phần tạo cơng ăn
việc làm, cải thiện môi trường và tận dụng tốt nguồn lợi tự nhiên hiện có. Tuy nhiên,
hoạt động sản xuất rau cũng gặp rất nhiều khó khăn từ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, việc sản xuất rau theo phương pháp truyền thống đang đối mặt với vấn đề
lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức
khỏe người tiêu dùng.
1
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, email:
89
Trần Huỳnh Bảo Châu
Sản xuất RAT mang lại nhiều lợi ích kinh tế cũng như mơi trường, tuy nhiên mơ
hình này chưa được áp dụng rộng rãi và hiệu quả kinh tế chưa cao. Xuất phát từ thực tế
đó, tơi đã chọn đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất rau an toàn và
truyền thống ở xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Cách tiếp cận
Nghiên cứu được thực hiện theo 3 bước:
- Bước 1: Tiến hành phỏng vấn chuyên sâu 6 hộ dân bằng bảng hỏi bán cấu trúc
để nắm thơng tin về tình hình sản xuất rau an tồn và rau truyền thống trên địa bàn xã
Quảng Thành.
- Bước 2: Điều tra 60 hộ dân ở khu vực nghiên cứu bằng bảng hỏi cấu trúc.
- Bước 3: Xác định hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất rau an tồn và truyền
thống; tìm hiểu kênh phân phối sản phẩm rau ở khu vực điều tra.
2.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Thu thập những thông tin chung về số liệu thống kê hoạt động
sản xuất rau trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Số liệu sơ cấp: Điều tra 60 hộ dân (30 hộ sản xuất RAT và 30 hộ sản xuất RTT)
trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (tập trung chủ
yếu ở 2 thôn có diện tích trồng rau lớn nhất là thơn Thành Trung và thơn Tây Thành).
2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm Excel 2007 để phân tích và so sánh
sự biến động về chi phí, thu nhập của hoạt động trồng rau người dân xã Quảng Thành.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Tình hình sản xuất RAT trên địa bàn xã Quảng Thành
Xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền là vùng sản xuất rau trọng điểm của tỉnh
Thừa Thiên Huế. Nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, địa phương đã nhân rộng
mơ hình RAT trên địa bàn xã. Được sự giúp đỡ của trường Đại học Nông Lâm Huế, sau
nhiều năm thực hiện các mơ hình trồng RAT đã đạt được kết quả nhất định.
90
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn qua 3 năm 2014 – 2016
Chỉ tiêu
ĐVT
2014
2015
2016
2015/2014
+/%
2016/2015
+/%
Diện tích
Ha
1,60
11,60
11,60
10,00
625
0,00
0,00
Năng suất
Tạ/ha
79,50
93,66
95,54
14,16
17,8
1,88
2,01
Sản lượng
Tạ
127,20
1.086,46
1.108,26 959,26
7,54
21,80
2,01
(Nguồn: UBND xã Quảng Thành, 2017)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng diện tích, năng suất và sản lượng RAT ở xã Quảng
Thành không ngừng tăng lên qua các năm. Năm 2014, diện tích sản xuất RAT chỉ đạt
1,60 ha nhưng đến năm 2015, con số này đã tăng lên 11,60 ha và tiếp tục duy trì đến
năm 2016. Điều này là do nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất của chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã thúc đẩy sự phát triển vượt trội của diện
tích sản xuất RAT.
3.2. Năng lực sản xuất của các hộ điều tra
Lao động là một trong những yếu tố cần thiết trong sản xuất nơng nghiệp nói
chung và sản xuất rau nói riêng, nguồn lao động hợp lí sẽ dẫn đến việc sử dụng hợp lí
các yếu tố đầu vào khác làm cho sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả tối đa.
Bảng 2: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
STT
Chỉ tiêu
ĐVT
RAT
RTT
RTT/RAT
+/%
Bình
qn
1
Tuổi chủ hộ
Tổng nhân khẩu
tuổi
khẩu
46,93
4,65
55,37
4,37
8,44
-0,28
17,98
-6,02
51,15
4,51
2
Nam
Nữ
khẩu
khẩu
1,95
2,70
1,87
2,50
-0,08
-0,20
-4,10
-7,41
1,91
2,60
Lao động
Lao động nơng nghiệp
LĐ
LĐ
3,37
2,53
3,21
2,29
-0,16
-0,24
-4,75
-9,49
3,29
2,41
Lao động phi nông nghiệp
LĐ
0,35
0,5
0,15
42,86
0,43
Lao động kiêm
LĐ
0,49
0,42
-0,07
-14,29
0,46
Số năm kinh nghiệm
năm
9,98
12,57
2,59
25,95
11,28
3
4
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
91
Trần Huỳnh Bảo Châu
Về độ tuổi của chủ hộ: tuổi bình quân chung là 51,15 tuổi, đây là độ tuổi có nhiều
kinh nghiệm trong sản xuất nơng nghiệp. Tuổi bình quân/hộ của hộ trồng RAT là 46,93
tuổi, nhỏ hơn nhóm hộ trồng RTT. Điều này lý giải là do những người lớn tuổi thường
không muốn thay đổi tập quan canh tác lâu đời của mình, trong khi những nơng dân trẻ
tuổi, có khả năng học hỏi và mong muốn áp dụng kỹ thuật canh tác mới nhằm tăng thu
nhập cho hộ gia đình.
Ở nơng thơn nên số nhân khẩu bình quân mỗi hộ có 4,51 khẩu, trong đó lao động
nữ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Sản xuất rau yêu cầu độ tỉ mỉ, cần cù, chịu khó nên rất phù
hợp với lao động nữ. Ngoài ra, kinh nghiệm là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến
năng suất cây trồng. Số liệu điều tra cho thấy các hộ trồng RAT có số năm kinh nghiệm
ít hơn RTT.
Bảng 3: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra (tính bình qn/hộ)
STT
1
Tư liệu sản xuất
ĐVT
Số
RAT
Giá trị
lượng
(1.000đ)
Số
RTT
Giá trị
RTT/RAT
+/%
lượng (1.000đ)
2
Bình phun thuốc trừ
sâu
Bình tưới nước
cái
cái
1,00
1,50
70,00
120,00
1,50
1,00
105,00
80,00
35,00 50,00
-40,00 -33,33
3
Máy bơm nước
cái
1,00
400,00
0,43
172,00
-228,00 -57,00
4
Xe rùa
cái
0,87
304,50
0,76
266,00
-38,50 -12,64
5
Ống dẫn nước
m
35,00
350,00
30,00
300,00
-50,00 -14,29
6
Công cụ khác
cái
2,00
110,00
2,00
110,00
0,00
0,00
Tổng cộng
1.000đ
1.033,00
-321,50
35,20
1.354,50
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
Tổng chi phí trang bị tư liệu sản xuất của các hộ trồng RAT là 1.354,50 nghìn
đồng/hộ, lớn hơn các hộ trồng RTT là 1.033,00 nghìn đồng/hộ. Trong đó:
- Bình phun thuốc trừ sâu, bình tưới nước là cơng cụ khơng thể thiếu cho hoạt
động sản xuất rau nên được các hộ mua sắm bình quân từ 1 đến 2 cái. Trong đó, số hộ
trồng RAT trung bình chỉ có 1,00 bình trong khi đó số hộ trồng RTT trung bình mỗi hộ
có 1,50 bình. Ngun nhân là do các hộ trồng RTT có thói quen bơm thuốc trừ sâu
nhiều hơn RAT.
- Trong hoạt động trồng rau thì cơng việc tưới tiêu cực kì quan trọng. Hầu hết mỗi
92
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
hộ trồng RAT đều trang bị 1 máy bơm nước. Đối với hộ có quy mơ sản xuất lớn có thể
đầu tư từ 1 - 2 máy, giá mỗi máy bơm nước khoảng 400 – 700 nghìn đồng/máy.
- Ngồi các tư liệu sản xuất trên, người dân cịn phải trang bị thêm một số tư liệu
sản xuất khác như cào, cuốc ... Với giá cuốc khoảng 70 nghìn đồng và cào là 40 nghìn
đồng. Tổng chi phí khoảng 110 nghìn đồng/hộ. Hoạt động trồng RAT địi hỏi người
trồng rau cần phải tuân theo những quy định cụ thể và phải trang bị đầy đủ các tư liệu
sản xuất. Vì vậy, làm cho chi phí của hoạt động trồng RAT lớn hơn RTT.
3.3. Tình hình sản xuất của các hộ điều tra
Người dân xã Quảng Thành chủ yếu trồng các loại rau: xà lách, cải xanh, ngò, cần
tây, dền và rau tần ơ. Mặc dù mơ hình trồng RAT đã được áp dụng một thời gian dài, tuy
nhiên người dân địa phương vẫn có thói quen trồng rau theo phương pháp truyền thống,
chính vì vậy mà tổng diện tích RAT vẫn nhỏ hơn RTT. Cụ thể:
Bảng 4: Cơ cấu diện tích gieo trồng một số loại rau chủ yếu
(Tính bình qn/sào/hộ)
STT
Loại rau
RAT
Diện tích Cơ cấu
(sào)
%
RTT
Diện tích Cơ cấu
(sào)
%
RTT - RAT
Diện tích Cơ cấu
(sào)
%
1
2
Xà lách
Cải xanh
1,78
1,15
44,17
28,54
1,84
1,26
41,91
28,70
0,06
0,11
-2,26
0,17
3
Ngị
0,14
3,47
0,16
3,64
0,02
0,17
4
Cần tây
0,41
10,17
0,47
10,71
0,06
0,53
5
Dền
0,24
5,96
0,29
6,61
0,05
0,65
6
Tần ơ
0,31
7,69
0,37
8,43
0,06
0,74
4,03
100,00
4,39
100,00
0,36
Tổng
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
- Tổng diện tích gieo trồng của nhóm hộ sản xuất RAT là 4,03 sào/hộ, RTT là 4,39
sào/hộ. Diện tích trồng RTT lớn hơn khơng đáng kể so với diện tích RAT là 0,36 sào.
Loại rau được trồng nhiều nhất là xà lách và cải. Điều này xuất phát từ thị hiếu và sở
thích của người tiêu dùng. Ngồi ra, đây là loại rau dễ trồng và được người dân ưa
chuộng.
Nhóm hộ RAT thì diện tích trồng xà lách là 1,78 sào/hộ chiếm 44,17%, cải xanh
93
Trần Huỳnh Bảo Châu
chiếm 1,15 sào/hộ tương ứng với 28,54 %. Nhóm hộ RTT diện tích gieo trồng của xà
lách, cải chiếm lần lượt là 1,84 sào/hộ và 1,26 sào/hộ. Rau ngị chiếm diện tích ít nhất ở
cả 2 nhóm hộ (nhóm RAT là 3,47% và nhóm RTT là 3,64%).
Tóm lại, diện tích gieo trồng bình qn/hộ/ nhóm hộ RAT nhỏ hơn RTT, tuy nhiên
để đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất thì cần phải dựa trên nhiều chỉ tiêu
như năng suất, sản lượng mới biết được liệu phương thức nào đem lại hiệu quả kinh tế
cao hơn.
Bảng 5: Năng suất, sản lượng rau của các hộ điều tra (Tính bình qn/sào/hộ)
RAT
RTT
RTT - RAT
STT
Loại rau
1
2
Xà lách
Cải xanh
648,25
605,61
1.153,89
696,45
651,17
621,24
1.198,15
782,76
2,92
15,63
44,26
86,31
3
Ngị
429,00
60,06
452,31
72,37
23,31
12,31
4
Cần tây
515,02
211,16
537,13
252,45
22,11
41,29
5
Dền
460,12
110,43
471,29
136,67
11,17
26,24
6
Tần ơ
578,00
179,18
581,00
214,97
3,00
35,79
539,33
401,86
552,36
442,90
13,03
41,04
BQC
Năng suất Sản lượng
(Kg/sào)
(Kg)
Năng suất Sản lượng Năng suất
(Kg/sào)
(Kg)
(Kg/sào)
Sản lượng
(Kg)
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
- Năng suất bình quân các loại rau của nhóm hộ RAT là 539,33 kg/sào, RTT là
552,36 kg/sào. Nhìn chung tất cả các loại rau của nhóm hộ RAT đều có năng suất nhỏ
hơn các hộ sản xuất RTT nhưng chênh lệch không đáng kể. Nguyên nhân là do đặc
điểm sản xuất RAT chỉ sử dụng phân hữu cơ là chủ yếu, ít sử dụng phân hóa học, hạn
chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật nên cây rau khơng phát triển tốt bằng RTT.
- RAT có diện tích nhỏ hơn RTT, năng suất thấp hơn nên sản lượng của RAT dĩ
nhiên sẽ nhỏ hơn RTT. Sản lượng của RTT là 442,90 kg/sào và RAT là 401,86 kg/sào.
- Xét về từng loại rau thì xà lách cho sản lượng cao nhất, nguyên nhân là do xà lách
có diện tích gieo trồng lớn hơn rất nhiều lần so với các loại rau khác. Ngị có sản lượng thấp
nhất ở cả 2 nhóm hộ (RAT là 60,06 kg và RTT là 72,37 kg). Lý giải cho vấn đề này là do
ngò chỉ trồng được từ tháng 4 đến tháng 6 và tháng 11 – 12 với diện tích gieo trồng
94
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
nhỏ nhất. Như vậy, năng suất và sản lượng thì nhóm hộ trồng RAT nhỏ hơn nhóm hộ
RTT, tuy nhiên phần chênh lệch này không đáng kể. Do RAT sử dụng ít phân bón vơ cơ
và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hơn so với RTT nhưng nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật
đã góp phần nâng cao năng suất và sản lượng rau.
Mỗi loại cây trồng có một chu kỳ sinh trưởng và phát triển riêng, người dân sẽ
chọn những loại cây thích nghi với từng thời gian khác nhau. Thời gian gieo trồng tính
theo âm lịch.
- Vụ Đông Xuân (bắt đầu từ đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau) là vụ có diện tích
gieo trồng lớn nhất, đây là khoảng thời gian thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển
của cây rau.
- Vụ Hè Thu (bắt đầu từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 8) là khoảng thời gian có khí
hậu nóng bức, khơ hanh, … Một số loại rau phù hợp với chịu nhiệt như: xà lách, cải, rau
dền, …
- Thời tiết xã Quảng Thành có mùa mưa kéo dài, lũ lụt thường xảy ra vào tháng 9,
10. Các nông hộ chỉ sản xuất trong 10 tháng đầu năm, tháng 9, 10 hầu như không sản
xuất.
Cây xà lách và cải xanh được các hộ gia đình ở đây hầu như trồng quanh năm, chỉ
trừ 2 tháng mưa bão. Cây xà lách thường phát triển mạnh, cho năng suất tốt nhất là từ
tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, cây cải xanh cho năng suất cao từ tháng 4 đến
tháng 8.
Những tháng hè từ tháng 4 đến tháng 8, tần ô, rau dền phát triển mạnh cho năng
suất cao do phù hợp với thời tiết. Người dân thường trồng rau dền và tần ơ thường là 5
lứa/năm.
3.4. Tình hình đầu tư sản xuất rau của các hộ điều tra
Cây rau muốn sinh trưởng và phát triển ngồi yếu tố dinh dưỡng có sẵn trong đất thì
cần phải bổ sung những loại dinh dưỡng bên ngồi thơng qua phân bón, thuốc BVTV, ...
95
Trần Huỳnh Bảo Châu
Bảng 6: Các khoản chi phí sản xuất RAT và RTT (Tính bình qn/sào/năm)
(ĐVT: 1.000 đồng)
STT
Các khoản đầu tư
RAT
RTT
1.224,16
375,90
1.604,79
359,27
380,63
-16,63
131,09
95,58
1.414,48
367,59
215,01
785,87
570,86
365,50
500,44
27,00
81,00
54,00
300,00
54,00
300,00
225,00
-75,00
75,00
262,50
Phí tưới nước
81,25
78,65
-2,60
96,80
79,95
Lưới che nắng
225,00
75,00
-150,00
33,33
150,00
Chi phí tự có
5.430,45
4.788,30
-642,15
88,18
5.109,38
Lao động tự có
4.950,00
4.500,00
-450,00
90,91
4.725,00
Phân chuồng
345,00
185,00
-160,00
53,62
265,00
Khấu hao TSCĐ
135,45
103,30
-32,15
76,26
119,38
Tổng cộng
6.654,61
6.393,09
-261,52
96,07
6.523,85
Chi phí bằng tiền
Giống
Phân bón
1
Thuốc BVTV
Lao động th ngồi
2
3
RTT/RAT
+/%
BQC
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
Mức độ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của cây rau.
Nhìn chung, tổng chi phí đầu tư cho hoạt động trồng RAT và RTT có sự chênh lệch
khơng đáng kể.
- Trồng rau theo phương thức nào thì yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là
giống. So sánh chi phí giống của hai nhóm hộ ta thấy RAT có chi phí lớn hơn, cụ thể:
+ Chi phí giống của RAT là 375,91 nghìn đồng/sào cao hơn 16,63 nghìn đồng so
với RTT. Sở dĩ có sự chênh lệch này là do đặc điểm sản xuất RAT phải hạn chế tối đa sử
dụng phân vô cơ, thuốc BVTV, chỉ sử dụng phân chuồng nên muốn đạt được năng suất
cao thì người dân cần lựa chọn những loại giống tốt, có khả năng chống chịu hơn so với
RTT.
+ Bên cạnh giống thì phân bón cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất cây rau. Điểm khác biệt giữa hai nhóm hộ RAT và RTT là ở những hộ sản xuất
RAT thì sử dụng nhiều phân bón hữu cơ nhưng lại sử dụng ít phân vơ cơ và ngược lại.
+ Chi phí thuốc BVTV các hộ trồng RTT đầu tư nhiều hơn RAT. Sở dĩ như vậy là
96
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
do đặc điểm sản xuất của RAT là khơng được sử dụng thuốc BVTV có độc tố cao.
+ Các hộ trồng rau trang bị thêm hệ thống lưới che chống nắng cho rau vào mùa
nắng nóng. Các hộ RAT tốn 4 - 5 kg/sào với giá 50 nghìn đồng/kg và RTT từ 1,5 – 2
kg/sào nhằm hạn chế ánh nắng trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát
triển của cây rau.
- Trồng rau cần rất nhiều công lao động, các hộ trồng RAT cần 35 cơng lao
động/sào/năm (trong đó 33 cơng lao động gia đình và 2 cơng lao động th ngồi), cịn
RTT chỉ cần 31,5 cơng/sào/năm (30 cơng lao động gia đình và 1,5 cơng lao động th
ngồi). Chi phí để th lao động tương đối cao, 1 cơng có giá khoảng 150 nghìn đồng.
- Chi phí khấu hao TSCĐ được khấu hao theo phương pháp đường thẳng trong
vòng 10 năm. Hoạt động sản xuất RAT địi hỏi người nơng dân phải trang bị nhiều
TLSX hơn hoạt động sản xuất RTT nên chi phí khấu hao TSCĐ của RAT lớn hơn RTT.
Qua phân tích, so sánh giữa 2 phương thức sản xuất ta thấy sản xuất RAT có chi
phí lớn hơn so với RTT (RAT là 6.654,61 nghìn đồng/sào/năm và RTT là 6.393,09 nghìn
đồng/sào/năm) nhưng nó đem lại cho con người sự an tâm về việc sử dụng.
3.5. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các hộ điều tra
Qua một quá trình sản xuất, sản phẩm đầu ra của các hộ nông dân chính là các loại
rau phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Tùy thuộc vào các giống rau khác nhau sẽ cho ra
các loại rau khác nhau, mỗi phương thức canh tác khác nhau sẽ cho ra mức sản lượng khác
nhau. Kết quả sản xuất của các hộ nông dân được thể hiện cụ thể như sau:
97
Trần Huỳnh Bảo Châu
Bảng 7: Tổng giá trị sản xuất rau của nhóm hộ điều tra (Tính bình qn/sào/năm)
STT
Loại rau
1
2
Xà lách
Cải xanh
3
Ngò
4
Sản
RAT
Đơn giá
Giá trị
Sản
Giá trị
lượng
(1.000
sản xuất
lượng
(1.000
sản xuất
(kg)
đồng/kg)
(1.000 đồng)
(kg)
đồng/kg)
(1.000 đồng)
1.153,89
696,45
7,00
8,00
60,06
9,00
540,54
Cần tây
211,16
12,00
5
Dền
110,43
6
Tần ô
179,18
Tổng
RTT
Đơn giá
2.411,16
8.077,20 1.198,15
5.571,61
782,76
6,00
7,00
7.188,92
5.479,34
72,37
8,10
586,19
2.533,90
252,45
10,80
2.726,47
28,00
3.092,01
136,67
25,50
3.485,19
12,00
2.150,16
214,97
10,50
2.257,19
21.965,41 2.657,38
21.723,29
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giá, 2017)
Dựa vào kết quả của hoạt động sản xuất rau, ta thấy: Doanh thu của các hộ trồng
RAT lớn hơn RTT: hộ trồng RAT là 21.965,41 nghìn đồng/sào và RTT là 21.723,29
nghìn/sào.
Trong những năm gần đây, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe được
người tiêu dùng rất chú trọng, người dân sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền hơn để có thể mua
được những loại thực phẩm sạch. Chính vì vậy mà giá thành của RAT luôn cao hơn RTT
từ 5 – 10%.
Mặc dù sản lượng của các hộ trồng RAT nhỏ hơn RTT nhưng giá bán của RAT lại
cao hơn so với RTT chính điểu này đã đem lại doanh thu đáng kể cho các hộ trồng RAT.
Từ số liệu thu thập được trong quá trình điều tra trên địa bàn xã Quảng Thành,
nhóm tác giả đã tiến hành phân tích, các loại chi phi, khấu hao, sản lượng thu hoạch, giá
bán… Tổng hợp và đưa ra bảng kết quả hoạt động sản xuất RAT và RTT:
98
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
Bảng 8: Kết quả sản xuất rau của nhóm hộ điều tra (Tính bình qn/sào/năm)
(ĐVT: 1.000 đồng)
Chỉ tiêu
RAT
RTT
RTT/RAT
+/%
BQC
GO
IC
21.965,41
1.224,16
21.723,29
1.604,79
-242,12
380,63
-1,10
31,09
21.844,35
1.414,48
VA
20.741,25
20.118,50
-622,75
-3,00
20.429,88
TC
6.654,61
6.393,09
-261,52
-3,93
6.523,85
LN
15.310,80
15.330,20
19,40
0,13
15.320,50
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017
- Tổng giá trị sản xuất (GO) bình quân/sào của hai nhóm hộ đạt 21.844,35 nghìn
đồng/sào. Trong đó: RAT là 21.965,41 nghìn đồng/sào lớn hơn 242,12 nghìn đồng/sào
so với RTT. Như đã tìm hiểu ở trên, mặc dù RAT có năng suất thấp hơn RTT nhưng giá
bán của RAT lại cao hơn rất nhiều dẫn đến GO của RAT lớn hơn.
- Chi phí trung gian (IC) của nhóm hộ trồng RAT nhỏ hơn RTT. Nguyên nhân là
do các hộ trồng RAT khơng tốn nhiều chi phí cho việc sử dụng phân bón vơ cơ, thuốc
BVTV. Nếu xét cả chi phí tự có (Tc) thì những hộ RAT tốn nhiều chi phí hơn do RAT
cần nhiều cơng lao động để chăm bón, sử dụng nhiều phân bón hữu cơ cũng như chi phí
khấu hao TSCĐ lớn.
- Nhìn chung, cả 2 nhóm hộ đều đạt giá trị gia tăng (VA) tương đối lớn. RAT có
GO lớn hơn RTT và có IC lại nhỏ hơn RTT dẫn đến VA của RAT lớn hơn VA của RTT.
Cụ thể: giá trị gia tăng của nhóm hộ trồng RAT là 20.741,25 nghìn đồng/sào trong khi
RTT chỉ 20.118,50 nghìn đồng/sào (tức là VA của RTT nhỏ hơn 3% so với RAT).
Tuy nhiên, khi tính VA chúng ta chưa xét đến các khoản chi phí tự có, vậy chúng ta xem
xét chỉ tiêu lợi nhuận.
- Lợi nhuận của hai nhóm hộ có sự chênh lệch khơng đáng kể, cụ thể là lợi nhuận
RAT nhỏ hơn RTT là 19,40 nghìn đồng/sào. RAT mặc dù có giá bán cao hơn RTT
nhưng do năng suất thấp, khoản chi phí tự có tương đối lớn dẫn đến lợi nhuận của RAT
nhỏ hơn RTT.
99
Trần Huỳnh Bảo Châu
Bảng 9: Hiệu quả sản xuất rau của các hộ điều tra (Tính bình qn/sào/năm)
Chỉ tiêu
ĐVT
RAT
RTT
RTT/RAT
+/%
BQC
GO/IC
VA/IC
Lần
Lần
17,94
16,94
13,54
12,54
-4,40
-4,40
-24,53
-25,97
15,74
14,74
LN/IC
Lần
12,51
9,55
-2,96
-23,66
11,03
LN/TC
Lần
2,30
2,40
0,10
4,35
2,35
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
- Dựa vào bảng hiệu quả hoạt động sản xuất rau, ta thấy bình qn 1 đồng chi phí
trung gian tạo ra 15,74 đồng giá trị sản xuất và 14,74 đồng giá trị gia tăng. So sánh giữa
hai nhóm hộ ta thấy cả hai chỉ tiêu của nhóm hộ RAT lớn hơn RTT. Điều này có nghĩa là
1 đồng chi phí trung gian bỏ ra của nhóm hộ trồng RAT đem lại nhiều giá trị sản xuất và
giá trị gia tăng hơn so với RTT.
- Về chỉ tiêu LN/IC có nghĩa là 1 đồng chi phí trung gian đem lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Chỉ tiêu này của các hộ RAT lại lớn hơn RTT. Đối với các hộ trồng RAT: 1
đồng chi phí trung gian bỏ ra đem lại 12,51 đồng lợi nhuận, trong khi đối với các hộ
trồng RTT chỉ mang lại 9,55 đồng lợi nhuận.
- Tuy nhiên, khi xét đến chỉ tiêu LN/TC thì nhóm hộ trồng RAT lại nhỏ hơn nhóm
hộ trồng RTT. Cụ thể: Các hộ trồng RTT bỏ ra 1 đồng chi phí sẽ thu về 2,40 đồng lợi
nhuận trong khi các hộ trồng RAT chỉ thu về 2,30 đồng. Như vậy, các hộ trồng RTT sẽ
thu nhiều lợi nhuận hơn các hộ trồng RAT 0,10 đồng tương ứng 4,35%.
Tóm lại, khi xem xét 4 chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất rau
thì RAT có 3/4 chỉ tiêu lớn hơn RTT, chỉ có chỉ tiêu LN/TC là nhỏ hơn. Như vậy, có thể
kết luận rằng hoạt động sản xuất RAT đem lại hiệu quả kinh tế lớn hơn so với RTT.
100
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
3.6. Tình hình tiêu thụ rau trên địa bàn xã Quảng Thành
3.6.1. Sơ đồ chuỗi cung rau truyền thống
Rau truyền thống có 3 kênh tiêu thụ phổ biến:
Người bán buôn
Người bán lẻ
55%
30%
Người tiêu dùng
Người sản xuất
15%
Người bán lẻ
Sơ đồ 1 : Kênh tiêu thụ của nhóm hộ trồng RTT
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giả, 2017)
- Kênh 1: Người sản xuất
người bán buôn
người bán lẻ
người tiêu
dùng
Đây là kênh tiêu thụ rau truyền thống chủ yếu của người dân địa phương (chiếm
55%). Người dân sẽ đưa rau lên chợ đầu mối. Từ đó, người bán buôn sẽ cung cấp rau
cho người bán lẻ để phân phối đến các chợ khác sau đó mới đến tay người tiêu dùng. Do
trải qua nhiều khâu trung gian nên giá rau đến tay người tiêu dùng cao hơn nhiều so với
giá mà người nơng dân nhận được. Hình thức tiêu thụ này thường gặp ở những hộ có
quy mơ sản xuất lớn.
- Kênh 2: Người sản xuất
người bán lẻ
người tiêu dùng
Hình thức này chiếm 30% trong tổng số hộ được điều tra. Người sản xuất sẽ bán
sản phẩm cho người bán lẻ và từ người bán lẻ sẽ bán cho người tiêu dùng. Hình thức
này bớt được một khâu trung gian. Người bán lẻ được hưởng lợi nhiều hơn do mua trực
tiếp từ nhà sản xuất. Hình thức này thường thấy ở các hộ có quy mơ vừa.
- Kênh 3: Người sản xuất
người tiêu dùng
Đây là hình thức tiêu thụ đơn giản nhất, khơng thơng qua bất kì một khâu trung
gian nào. Hình thức này chỉ chiếm 15% tổng số hộ được điều tra. Người tiêu dùng mua
rau trực tiếp từ nhà sản xuất mà không phải thông qua bất kì một khâu trung gian nào.
Tuy nhiên, hình thức này chỉ áp dụng được đối với những hộ có quy mơ nhỏ.
3.6.2. Sơ đồ chuỗi cung rau an tồn
Đầu tiên người cung cấp các yếu tố đầu vào như giống, phân bón và các đầu vào
khác, các cơng cụ, dụng cụ phục vụ trong quá trình sản xuất RAT. Các hộ sản xuất sau
101
Trần Huỳnh Bảo Châu
khi thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm theo bốn kênh tiêu thụ phổ biến.
- Kênh 1: Hộ sản xuất RAT
chợ
người tiêu dùng
Cũng tương tự RTT, hình thức này khá phổ biến đối với các hộ sản xuất với quy
mô nhỏ (khoảng 10%). Sở dĩ người dân không muốn bán trực tiếp cho người tiêu dùng
vì khi bán rất khó phân biệt giữa RAT và RTT, do đó không tạo được sự khác biệt giữa
2 loại rau này dẫn đến giá cả của RAT và RTT như nhau.
- Kênh 2: Hộ sản xuất RAT
thương lái địa phương
chợ
người tiêu
dùng
Hộ sản xuất RAT bán sản phẩm cho người thu gom nhỏ trong địa phương (khoảng
50% khối lượng sản phẩm). Hình thức này thực hiện chủ yếu thông qua trao đổi trực
tiếp giữa người nông dân và thương lái, đây là hình thức phổ biến vì người nơng dân
bán sản phẩm tại vườn, tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển. Sau đó, người thu
gom địa phương mang sản phẩm bán cho các cửa hàng trong chợ, người thu gom trong
tỉnh và đưa đến người tiêu dùng.
10%
Người cung
cấp giống
Người thu gom địa
50%
Người cung
cấp phân
bón
Người cung
cấp đầu
vào khác
Hộ sản
xuất rau
an tồn
phương
Hợp Tác Xã
20%
20%
Chợ
(Kim Thành)
Siêu
Người tiêu
thị
dùng
Doanh nghiệp
Các cở sở chế
tư nhân.
biến, nhà hàng,
(Hóa Châu)
Sơ đồ 2: Kênh tiêu thụ của nhóm hộ trồng RAT
- Kênh 3: Hộ sản xuất RAT
hoặc: Hộ sản xuất RAT
Người tiêu dùng
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính tốn của tác giá, 2017)
HTX Kim Thành
HTX Kim Thành
Siêu thị
Người tiêu dùng
Các cở sở chế biến nhà hàng, quán ăn
Sản phẩm các hộ nông dân bán cho HTX thông qua hợp đồng thu mua bao tiêu
sản phẩm chiếm khoảng 20%. Sản phẩm sau đó được bán tại các cửa hàng, quán ăn, cơ
sở chế biến và siêu thị dưới hình thức hợp đồng rồi mới đến tay người tiêu dùng. Đây
cũng là kênh tiêu thụ chỉ có ở RAT.
102
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
Kênh 4: Người sản xuất RAT
Doanh nghiệp tư nhân Hóa Châu
biến nhà hàng, quán ăn
Người tiêu dùng
Các cở sở chế
Doanh nghiệp tư nhân thu mua sản phẩm rau an tồn thơng qua các hợp đồng mua
bán chiếm 20% trong kênh phân phối. Từ đó, sản phẩm được các doanh nghiệp bán lại
cho các mối làm ăn, các nhà hàng, quán ăn, siêu thị,… Sản phẩm được vận chuyển, chế
biến phục vụ người tiêu dùng.
Như vậy, sau khi phân tích các kênh tiêu thụ sản phẩm của hai phương thức RAT
và RTT, nghiên cứu nhận thấy:
Xét về giá cả, hình thức phân phối thì cả 2 mơ hình đều có sự khác nhau và giống
nhau. Nếu xét về giá trị kinh tế thì RAT có giá cao hơn rất nhiều so với RTT, người tiêu
dùng hiện nay rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe, họ sẵn sàng trả một mức giá cao hơn
hẳn để đổi lại là sản phẩm an toàn. Vấn đề đặt ra bây giờ là làm sao tạo được sự khác
biệt giữa hai mơ hình để từ đó có thể nhân rộng diện tích gieo trồng RAT, phục vụ nhu
cầu của người tiêu dùng.
4. Kết luận và thảo luận
Trong những năm qua, diện tích RAT ở xã Quảng Thành ngày càng được mở
rộng: năm 2014 tổng diện tích RAT chỉ 1,6 ha nhưng đến năm 2016 đã tăng lên 11,6 ha.
Điều này cho thấy, chính quyền địa phương đang đi đúng hướng trong việc chuyển đổi
từ mơ hình sản xuất RTT sang mơ hình sản xuất RAT.
Năng suất RAT thấp hơn RTT tuy nhiên phần chênh lệch không đáng kể. Nguyên
nhân là do người dân đã có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất RAT, bên cạnh đó,
người dân cịn nhận được sự giúp đỡ từ chính quyền địa phương, các trung tâm nghiên
cứu đã tìm ra những giống rau mới có năng suất và chất lượng tốt hơn, có khả năng
chống chịu tốt với sâu bệnh.
Hoạt động sản xuất rau ở xã Quảng Thành đều đạt hiệu quả kinh tế cao. Lợi nhuận
của của nhóm hộ trồng RAT là 15.310.800 đồng/sào và RTT là 15.330.200 đồng/sào.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sống và đảm bảo sức khỏe của
người tiêu dùng thì người nơng dân nên thay đổi tập qn canh tác của mình, hạn chế sử
dụng thuốc BVTV, thuốc trừ sâu và các hóa chất độc hại khác và chuyển sang mơ hình
sản xuất RAT.
So với những nghiên cứu trước đây, kết quả nghiên cứu này cho thấy hoạt động
sản xuất RAT đã ngày càng được mở rộng và đạt hiệu quả kinh tế cao. Phần chênh lệch
giữa lợi nhuận của hai nhóm hộ trồng RAT và RTT ngày càng thu hẹp. Bên cạnh đó,
người tiêu dùng đã quan tâm nhiều hơn đến thực phẩm sạch, an toàn cho sức khỏe.
103
Trần Huỳnh Bảo Châu
Chính vì vậy, họ sẵn sàng mua những sản phẩm RAT với mức giá cao hơn. Đây chính là
cơ hội, hướng phát triển cho ngành sản xuất RAT xã Quảng Thành nói riêng và tồn bộ
thị trường nói chung.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi và cơ hội, hoạt động sản xuất RAT cũng gặp
khơng ít khó khăn và thách thức như: chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, chưa có quy
định rõ ràng để phân biệt giữa RAT và RTT, việc xây dựng uy tín, thương hiệu trên thị
trường cịn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, địi hỏi cần sự chung tay góp sức của
nhiều cơ quan, đơn vị và tổ chức, đặc biệt là người tiêu dùng cần tạo cho bản thân thói
quen tiêu dùng thông minh.
Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất rau theo hướng phát triển bền vững, phát
triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và sức khỏe người tiêu dùng:
- Chính quyền địa phương cần hồn thiện hệ thống chính sách, đặc biệt là các
chính sách đối với nông nghiệp, thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật
và công nghệ nhằm cung cấp các giống rau phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng
vùng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới về cây rau.
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà khoa học tham gia trong lĩnh vực sản
xuất, tiêu thụ rau an tồn, liên kết 4 nhà: nhà nơng - nhà nước - nhà khoa học - nhà
doanh nghiệp.
- Các viện nghiên cứu tạo ra những giống rau mới, kỹ thuật canh tác phù hợp với
điều kiện tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc biệt là rau trái vụ.
- Người nông dân cần liên kết, hỗ trợ nhau trong việc chủ động trong tìm tòi, học
hỏi về kỹ thuật trồng rau sạch. Mạnh dạn áp dụng mơ hình trồng RAT với nhiều chủng
loại rau.
104
Tạp chí Khoa học Quản lý & Kinh tế
Số 07 – Tháng 06/2018
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quyết định số 52/2007/QĐ - BNN về
“Phê duyệt quy hoạch phát triển rau quả và hoa cây cảnh đến năm 2010, tầm nhìn
2020”.
Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nông thôn, Quyết định 04/2007/QĐ-BNN Ban hành
“Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận RAT”, 2007.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Cục Trồng trọt, Quy trình sản xuất rau
an tồn VIETGAP, />Lê Thị Khanh, Bài giảng cây rau, Trường Đại học Nông Lâm Huế, tháng
08/2009.
Nguyễn Thị Tân Lộc, Đỗ Kim Chung, “Giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông
qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Tạp chí Khoa học và Phát
triển, tập 13, số 5: 850-858, 2015.
Phạm Hải Vũ, Nguyễn Thị Tân Lộc, Nguyễn Đình Thi, Chương V: các tiêu chuẩn
sản xuất rau an toàn ở Việt Nam, 2016,
/>UBND xã Quảng Thành, Báo cáo kết quả thực hiện quy trình sản xuất rau theo
tiêu chuẩn VIETGAP, 2015.
UBND xã Quảng Thành, Báo cáo đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
của xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, 2015.
105
Trần Huỳnh Bảo Châu
COMPARING THE ECONOMIC EFFICIENCY OF SAFE
VEGETABLE AND TRADITIONAL ONE IN QUANG THANH
COMMUNE, QUANG DIEN DISTRICT, THUA THIEN HUE
PROVINCE
Tran Huynh Bao Chau, Tran Huynh Quang Minh
Abstract: This research focuses on comparing the economic efficiency of safe
and traditional vegetable production in Quang Thanh commune, Quang Dien district.
The result shows that the economic eficiency of vegetable production has quite high.
Revenue from safe vegetable production is 15.310.800 VND/sao/year while traditional
production is 15.330.200 VND/sao/year. There is not statistically significant difference
in economic efficiency between safe and traditional vegetables. Although the price of
safe vegetable is high, it lacks the stable market and identification sign. Therefore, the
economic efficiency and supply chain of safe vegetable must be enhanced. Local
government should encourage the local farmers to shift from traditional vegetable
growing to safe vegetable in order to protect the environment and healthy for
consumers.
Keywords: Safe vegetable; Traditional vegetable; Quang Thanh commune.
106