TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TRONG CÁC DỰ ÁN
NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM
ThS. Hà Kiều Oanh1
TS. Nguyễn Thị Hồi Phương2
Tóm tắt
Cùng với sự phát triển và hội nhập nền kinh tế, việc thu xếp vốn cho các dự án
lớn đặc biệt ở các ngành năng lượng, chế tạo, xây dựng, khai khống... đang dần có
những thay đổi. Vào cuối những năm 80 đã có những bước tiến trong việc áp dụng các
phương thức tài trợ cho dự án như các giao dịch hốn đổi, thỏa thuận trao đổi hàng
hóa, sắp xếp đồng tài trợ phức tạp (trong đó có sử dụng viện trợ song phương và đa
phương), và tín dụng xuất nhập khẩu. Hiện nay, trong bối cảnh nguồn vốn tài trợ cho
các dự án còn hạn chế do các bất ổn về kinh tế chính trị trên thế giới, việc áp dụng
phương thức tài trợ dự án qua tín dụng xuất khẩu cần được cân nhắc thận trọng. Vì
vậy, mục tiêu của bài viết là phân tích ưu điểm và nhược điểm của hình thức tín dụng
xuất khẩu trong các dự án năng lượng tại Việt Nam hiện nay để có một cái nhìn đa
chiều hơn trong việc thu xếp vốn cho các dự án trong thời gian tới.
Từ khóa: tín dụng xuất khẩu, tài trợ dự án, ECAs
Cho đến nay, tình hình tài chính tiền tệ trên thế giới vẫn cịn nhiều khó khăn do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2008 và khủng hoảng nợ
công châu Âu năm 2010. Mặc dù các nước vẫn đang tiếp tục điều chỉnh chiến lược
cũng như thực thi các chính sách nhằm phục hồi và phát triển kinh tế nhưng q trình
phục hồi vẫn cịn chậm và khơng có dấu hiệu khả quan. Bên cạnh đó, các điểm nóng
bất ổn về an ninh quân sự vẫn diễn ra tại nhiều khu vực đã ảnh hưởng đến đà phục hồi
của nền kinh tế nói chung và thị trường vốn nói riêng. Theo đánh giá của Moody, Việt
Nam đang bị tụt giảm điểm xếp hạng tín dụng do các triển vọng tiêu cực về khả năng
thanh tốn. Ngồi ra, vụ việc Vinashin cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát hành
trái phiếu trên thị trường quốc tế và huy động vốn qua kênh trái phiếu doanh nghiệp.
Trong bối cảnh như vậy, nguồn vốn nhằm tài trợ cho các dự án, đặc biệt là các
dự án lớn thuộc về xây dựng cơ bản, năng lượng và chế tạo sẽ rất hạn chế. Vì vậy
ngồi các hình thức tài trợ truyền thống, thông thường được ưu tiên như vay thương
mại trong nước, vay ODA thì tín dụng xuất khẩu là một hình thức cần cân nhắc đến.
1, 2
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Email của tác giả chính:
636
Trên phương diện quốc gia, Việt Nam có thể tận dụng nguồn vốn có chi phí hợp lý từ
thị trường quốc tế để phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở sản xuất để tạo đòn
bẩy cho hoạt động xuất khẩu quốc gia. Bài viết này phân tích về ưu điểm và nhược
điểm của hình thức tín dụng xuất khẩu trong các dự án năng lượng tại Việt Nam nhằm
có cái nhìn đa chiều hơn trong thu xếp vốn cho các dự án trong thời gian tới.
1. Tổng quan nghiên cứu
Các nguồn vốn tài trợ cho dự án rất phong phú, đa dạng về hình thức cũng như
nguồn vốn vay. Để thực hiện dự án, các doanh nghiệp có thể huy động từ nguồn vốn trong
nước từ ngân hàng thương mại, quỹ hỗ trợ phát triển. Hiện nay các dự án có thể thu hút
vốn đầu tư nước ngồi thơng qua các hình thức như: vốn hỗ trợ phát triển chính thức ưu
đãi (ODA - Official Development Assistance) và vốn hỗ trợ phát triển chính thức khơng
ưu đãi; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment); vốn vay thương
mại từ các ngân hàng quốc tế (Commercial Loan); vốn tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (ECA Export Credit Arrangement); vốn tín dụng hỗ trợ nhập khẩu (OBC - Operating Buyer’s
Credit) và các nguồn vốn được bảo lãnh của Bộ Tài chính cho các hợp đồng vay của các
tập đồn/cơng ty nhà nước để thực hiện các dự án phát triển xã hội.
Đối với riêng các dự án năng lượng với tổng vốn đầu tư lớn, các doanh nghiệp
thường ký kết các hợp đồng tổng thầu EPC (Engineering Procurement and Construction)
nghĩa là nhà thầu thực hiện tồn bộ các cơng việc từ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản
vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi cơng xây dựng cơng trình, hạng mục cơng
trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư. Tại các nước đang phát triển nói chung, và
Việt Nam nói riêng, các dự án năng lượng do các nhà thầu ở các nước phát triển về công
nghệ và dày dạn kinh nghiệm thực hiện, điều đó có nghĩa là hệ thống thiết bị vật tư có
giá trị rất lớn chủ yếu được nhập khẩu. Vì vậy bên cạnh các hình thức huy động vốn
thơng thường, các dự án năng lượng cịn có một phương thức thu xếp vốn khác là tín
dụng xuất khẩu.
637
Sơ đồ 1. Tín dụng xuất khẩu trong các dự án năng lượng
Direct Loan
Nguồn: Terr (2012)
“Tín dụng xuất khẩu (Export Credit Arrangement) được hiểu là một khoản tín
dụng được mở bởi một nhà nhập khẩu với một cơ quan tín dụng xuất khẩu trong nước
của nhà xuất khẩu nhằm tài trợ cho một giao dịch xuất khẩu - nhập khẩu”
Tín dụng xuất khẩu và tín dụng người bán về cơ bản là giống nhau nhưng với
hình thức tín dụng xuất khẩu phải thơng qua một tổ chức tài chính (ví dụ như các tổ
chức xuất nhập khẩu) để đàm phán, ký kết hợp đồng, cịn hình thức tín dụng người bán
thì đơn giản hơn, đó là người đi vay có thể đàm phán, ký kết hợp đồng trực tiếp với
nhà sản xuất.
Như vậy một khoản tín dụng xuất khẩu tài trợ cho dự án được thực hiện thông
qua cơ quan tín dụng xuất khẩu (ECAs - Export Credit Agencies). Cơ quan này được
hiểu là một định chế tài chính hoặc một cơ quan tài trợ thương mại cho các công ty
trong nước với các hoạt động ngoại thương. Các tổ chức tín dụng xuất khẩu sẽ cung
cấp các dịch vụ tài chính như bảo lãnh, cho vay và bảo hiểm cho các doanh nghiệp
nhập khẩu để thúc đẩy xuất khẩu tại nước sở tại.
Hiện nay vẫn cịn có rất nhiều quan điểm trái chiều về việc sử dụng các khoản tín
dụng xuất khẩu trong các dự án, cũng như vai trị của các tổ chức tín dụng xuất khẩu
trong sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới.
Morris (1994) chỉ ra rằng đã có sự thay đổi về các hình thức tài trợ cho dự án
trong vài thập kỷ qua. Từ việc sử dụng những nguồn tài chính hạn chế những năm
1970 đến đầu những năm 1980 đã có sự chuyển dịch từ tài trợ từ khu vực công sang tài
638
trợ từ khu vực tư nhân và đến cuối những năm 80 đã có những bước tiến trong thu xếp
vốn cho dự án như các giao dịch hoán đổi, thỏa thuận trao đổi hàng hóa, sắp xếp đồng
tài trợ phức tạp (trong đó có sử dụng viện trợ song phương và đa phương), và/hoặc tín
dụng xuất nhập khẩu.
Richard (2008) đã phân tích vai trị tích cực của tín dụng xuất khẩu trong tài trợ
các dự án. Các ECA hợp tác rộng rãi, xây dựng trên những thế mạnh của từng tổ chức
để đáp ứng nhu cầu rất lớn đối với tài chính dài hạn trong tương lai. ECAs cũng tạo ra
cơ chế linh hoạt khi hỗ trợ khoản tài chính cho dự án, đặc biệt là các dự án lớn như:
hợp tác đồng tài trợ, sắp xếp khoản tài trợ nội tệ phù hợp nhất với doanh thu của dự án,
có thể sử dụng lãi suất thả nổi hoặc cố định. Bên cạnh đó, các cơ quan tín dụng xuất
khẩu uy tín hơn khi cung cấp bảo hiểm cho các nguồn tài chính của các dự án do có
nhiều kinh nghiệm và mối quan hệ với các chính phủ vì vậy ít nhạy cảm với những
biến động chính trị hơn so với tư nhân.
Terry và cộng sự (2012) chỉ ra rằng: Vai trị của các tổ chức tín dụng xuất khẩu
(ECAs) trong các dự án tài chính quốc tế tăng vọt vào giữa những năm 1990 với sự
tăng trưởng nhanh chóng của các khoản đầu tư điện tư nhân (IPP) tại các thị trường
mới nổi như Pakistan, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Colombia... Từ năm 1994 đến
2011, ECAs đã cung cấp hơn 17 tỷ đô la cho các dự án sản xuất điện trên toàn cầu bao
gồm cả các khoản bảo hiểm. Ngồi ra, ECAs cũng được ví như là chất xúc tác quan
trọng để huy động vốn cho các dự án dầu khí và đường ống dẫn khí, các dự án viễn
thơng, hóa chất, xây dựng, khai khống. ECAs đã tham gia thiết yếu và có kiến thức
trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả các vấn đề tín dụng và cơ cấu vốn cho dự án; đồng
thời cùng với tính linh hoạt, ECAs đã trở thành một trong những nguồn tài trợ quan
trọng nhất cho các dự án tài chính tồn cầu suốt hai thập kỷ qua.
Ngược lại với các quan điểm trên, Marijn Peperkamp (2007) đã phân tích về tác
động của tài trợ qua hình thức tín dụng xuất khẩu đối với ngành cơng nghiệp vũ khí.
Ơng chỉ ra rằng các quốc gia phát triển và có nền cơng nghiệp vũ khí có xu hướng thúc
đẩy xuất khẩu vũ khí sang các nước đang phát triển thơng qua các khoản vay tín dụng
xuất khẩu, bảo hiểm và bảo lãnh. Kết quả là ở các nước đang phát triển, chi tiêu cho
quân sự tăng lên, tạo điều kiện cho tham nhũng và gia tăng gánh nặng nợ cho quốc gia.
Điều này trên thực tế không nhất quán với chính sách hỗ trợ phát triển mà các quốc gia
hướng đến.
639
2. Tín dụng xuất khẩu trong các dự án năng lượng
2.1. Các hình thức tài trợ dự án bằng tín dụng xuất khẩu
ECAs có thể tài trợ cho các dự án thông qua bảo hiểm rủi ro (PRI), bảo lãnh cho
các khoản nợ thương mại, cho vay trực tiếp và thậm chí trong một số trường hợp ECAs
góp vốn đầu tư trực tiếp trong các dự án.
Bảng 1. Giá trị tín dụng xuất khẩu cho các dự án năng lượng (2005 - 2013)
Đơn vị: triệu USD
Dự án năng lượng* 2005
Nhiệt điện (than,
dầu, khí…)
2006
2007
2009
2010
2011
2012
2013
1,311.6 891.8 530.9 3,439.3 3,701.4 4,848.1 4,383.5 6,840.5 5,267.7
Năng lượng hạt
nhân
730.3
Năng lượng khác
(thủy điện, năng
lượng mặt trời)
837.8 645.7 561.4
Tổng
2008
5.5
1.3
1.7
0.7 2,900.3 560.4 1,992.4
6.0
343.0 1,716.1 2,389.5 4,037.7 3,068.7 2,641.8
2,879.7 1,543.0 1,093.6 3,784.0 5,418.3 10,137.9 8,981.6 11,901.6 7,915.5
Nguồn: OECD (2015)
*Members of the OECD Working Party on Export Credits and Credit Guarantees (ECG)
Các hình thức mà một tổ chức tín dụng xuất khẩu tài trợ cho dự án cụ thể
như sau:
Tài trợ dự án: ECAs cung cấp các khoản vốn dài hạn từ 05 - 10 năm cho các dự
án ở nước ngoài, đặc biệt là các dự án xây dựng, năng lượng hay lắp ráp các nhà máy
chế tạo. Tài trợ dự án thường là dưới dạng khơng hồn trả, nghĩa là vốn sẽ được hoàn
trả từ doanh thu do dự án đó tạo ra. Trong trường hợp dự án thất bại, người cho vay chỉ
có thể truy địi từ tài sản còn lại của dự án.
Bảo lãnh: ECAs đưa ra các khoản bảo lãnh để đảm bảo cho các khoản tổn thất
của nhà đầu tư mà nguyên nhân xuất phát từ tình trạng bất ổn dân sự, rủi ro về chính
trị, rủi ro về tỷ giá, hoặc do sự vi phạm hợp đồng của quốc gia của nhà nhập khẩu.
ECAs cũng bảo lãnh việc vỡ nợ của các khoản vay (bảo lãnh vay vốn), làm cho khoản
640
vay đó trở nên hấp dẫn hơn đối với các Ngân hàng thương mại (NHTM), để các
NHTM cho các nhà xuất khẩu cá nhân hoặc nhà đầu tư vay. Khi khoản mất mát của
khách hàng được đảm bảo bằng một khoản bảo lãnh của ECAs, chính phủ của nước có
ECAs đó được giả định là người có nghĩa vụ cuối cùng. Trong một số trường hợp,
ECAs cịn có thể đảm bảo các khoản mất mát từ chính phủ nơi mà dự án hoặc người
vay có trụ sở, thường là tại các nước đang phát triển.
Bảo hiểm: Dịch vụ này tương tự như dịch vụ bảo lãnh, nhưng trong phạm vi chỉ liên
quan đến khoản mất mát đã được mua bảo hiểm. Chính phủ thường xuyên bổ sung các
khoản đảm bảo từ ngân sách theo định kỳ hoặc khi đòi hỏi của bảo hiểm yêu cầu, nhưng
ECAs thường tự tạo quỹ và cả các chi phí hoạt động thơng qua phí bảo hiểm thu được.
Vốn cổ phần: Một số ít ECAs tạo ra vốn cổ phần để trực tiếp đầu tư vào phát
triển, xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc các dự án thương mại tại các quốc gia đang phát
triển. Các nhà đầu tư tư nhân góp vốn vào những dự án như vậy trong một số trường
hợp được đảm bảo các khoản hoàn lại tối thiểu. Vốn cổ phần giúp ECAs phân chia rủi
ro giữa các dự án khác nhau và tạo ra khả năng đầu tư vào các dự án nhỏ hơn. Khi
được đảm bảo khoản hoàn trả tối thiểu, ECAs cũng thu hút thêm các khoản tiền đầu tư
từ tư nhân.
Sơ đồ 2. Cấu trúc tài trợ dự án bằng tín dụng xuất khẩu
Nguồn:Terry (2012)
2.2. Điều kiện của các khoản vay ECAs
ECAs từ các nước OECD tuân theo một thỏa thuận nhằm thiết lập ra các điều
khoản và điều kiện tín dụng xuất khẩu. Các quy tắc quan trọng như là một phần của
thỏa thuận bao gồm các hướng dẫn liên quan đến: vốn đối ứng của bên vay, điều
khoản tín dụng tối đa, lãi suất tối thiểu (CIRR) cho vay trực tiếp, phí bảo hiểm tối
641
thiểu đối với rủi ro chính trị, điều khoản và điều kiện trả nợ và các khoản tín dụng hỗ
trợ liên quan.
ECAs có thể tài trợ lên đến 85% của giá trị hợp đồng xuất khẩu, 30% vốn đối
ứng của bên vay và chi phí tài chính trong q trình xây dựng. Thời hạn của các khoản
vay lên đến 14 năm. Ví dụ như một dự án có tổng vốn là 150$, trog đó có 100 $ là giá
trị nhập khẩu thiết bị, và 50% là vốn đối ứng, 20$ là chi phí tài chính. Thì giá trị khoản
vay có thể lên tới 135$
Sơ đồ 3. Giá trị của khoản vay ECA
Giá trị hợp đồng
xuất khẩu
Vốn đối ứng của
bên vay
Chi phí tài chính
Giá trị của khoản
vay ECA
Nguồn:Terry (2012)
Việc thu xếp vốn cho dự án có thể kéo dài thời gian lên đến 14 năm và tùy thuộc
vào bản chất của giao dịch, các điều kiện về thanh toán lãi và nợ gốc khá linh hoạt.
Nhưng theo OECD (2016), các giao dịch tài trợ cho dự án phải tuân thủ các điều kiện
tối thiểu sau:
• Tổng số tiền hồn trả trong 1 kỳ sáu tháng không được vượt quá 25 phần trăm
tổng khoản vay;
• Kỳ trả nợ đầu tiên khơng q 24 tháng từ khi giải ngân và khơng ít hơn 2 phần
trăm của tổng số tiền vay;
• Các khoản lãi phải trả ít nhất 12 tháng/kỳ và khoản thanh tốn lãi đầu tiên được
thực hiện không quá 6 tháng kể từ khi giải ngân;
• Trung bình các kỳ thanh tốn không vượt quá 7,25 năm
642
Bảng 2. Điều kiện vay của một số ECAs trên thế giới
Nội dung
Nhật Bản
Trung Quốc
JBIC/NEXI
China Eximbank
Đức
Hermes
Sinosure
ECAs
China Development
Bank
Điều kiện
Quy mô
Tỷ lệ xuất xứ hàng
hóa từ Nhật Bản ít
nhất 30% giá trị hợp
đồng
Tỷ lệ xuất xứ hàng
hóa từ Trung Quốc
ít nhất 50%/giá trị
hợp đồng
Không vượt quá Không vượt quá Không
vượt
85%/ giá trị hợp 85%/ giá trị hợp quá 85%/ giá
đồng
đồng
trị hợp đồng
Lên tới 10 năm
Tối đa 5 năm
Lãi suất thương mại
tham chiếu CIRR
(do OECD thông
báo) + 0.2%
Lãi suất cs định CIRR+ OECD
CIRR
risk premium
Thời hạn vay
Lãi suất
Tỷ lệ xuất xứ
hàng hóa từ
Đức ít nhất
51% giá trị hợp
đồng
Lên tới 15 năm
(đặc biệt là các
dự án về năng
lượng)
LIBOR+ mức chênh
lãi suất (2%)
LIBOR + applicable
margin
Đồng tiền vay
Yên
USD
Nhật
hoặc USD
Phí bảo hiểm rủi ro
Phí
EUR hoặc
USD
Phí quản lý, phí cam Phí bảo hiểm
kết
theo tỷ lệ %
của đơn hàng
được bảo hiểm
Nguồn: Báo cáo NHTM CP Đại Dương (2011),Citibank (2015)
643
3. Tín dụng xuất khẩu trong một số dự án năng lượng ở Việt Nam
Việc tài trợ dự án qua hình thức tín dụng xuất khẩu trong các dự án năng lượng ở
Việt Nam được thực hiện qua các bước sau:
1.Tổ chức tư vấn sẽ cung cấp cho chủ đầu tư về hồ sơ, quy trình xin cấp vốn tín
dụng xuất khẩu và lựa chọn ngân hàng đầu mối.
Tiêu chí để lựa chọn: Cam kết chắc chắn thu xếp vốn cho dự án với chi phí thấp
nhất, thời gian vay tối thiểu 10 năm, thủ tục giải ngân kịp thời với tiến độ, và đáp ứng
được các yêu cầu của chủ đầu tư.
2. Chủ đầu tư sẽ lựa chọn ngân hàng đầu mối (MLA). Cùng với tổ chức tư vấn,
chủ đầu tư sẽ cùng ngân hàng đầu mỗi xây dựng phương án tài trợ cho dự án.
3. Ngân hàng đầu mối sẽ chịu trách nhiệm thu xếp tín dụng xuất khẩu thơng qua
khoản vay của tổ chức tín dụng xuất khẩu (ECAs).
4. ECAs đưa ra các điều kiện của mình và các điều kiện đảm bảo của Chính phủ
cấp ECAs, trên cơ sở đó để chủ đầu tư và MLA hồn thiện hồ sơ xin cấp thư bảo lãnh
của chính phủ. Hồ sơ vay đảm bảo có đầy đủ: Đơn đăng ký cấp tín dụng xuất khẩu của
người mua, Dự thảo hợp đồng thương mại và các tài liệu đấu thầu và báo cáo nghiên
cứu khả thi về dự án; Tài liệu chứng minh khoản vay tín dụng của bên nhập khẩu, bên
xuất khẩu, bên bảo lãnh; Các báo cáo tài chính của bên vay và bên bảo lãnh.
5. Chủ đầu tư thực hiện các thủ tục thông qua tổ chức tư vấn để xin cấp bảo lãnh
của chính phủ cho khoản vay.
6. Sau khi có bảo lãnh của Chính phủ, ECAs hồn tất hồ sơ xin cấp tín dụng và
trình chính phủ nước cấp tín dụng xuất khẩu thơng qua khoản vay.
7. MLA ký hợp đồng bảo lãnh một phần tín dụng xuất khẩu với tổ chức bảo lãnh.
644
Sơ đồ 4. Quy trình tài trợ dự án qua hình thức tín dụng xuất khẩu
Nguồn: PVFC (2011), OECD(2016)
Với mục tiêu đảm bảo cung cấp đủ điện cho nền kinh tế quốc dân và phát triển
đời sống xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch phát triển điện lực
Quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, có xét đến năm 2030” (Quy hoạch điện VII), với dự
kiến tổng số vốn cần huy động để đầu tư cho ngành điện lên đến 2.359 nghìn tỷ đồng
(tương đương 79,88 tỷ USD). Có thể thấy vấn đề vốn đầu tư là một trong những trở
ngại lớn nhất cho việc hoàn thành mục tiêu đã đề ra. Vì vậy, bên cạnh việc tăng khả
năng huy động nguồn lực tài chính trong nước, việc huy động nguồn vốn nước ngồi là
điều khơng thể thiếu. Trước đây, Việt Nam tập trung nhiều đến việc thu hút các nguồn
vốn FDI, ODA vào các dự án lớn. Nhưng hiện nay nguồn vốn ưu đãi này đã giảm đi do
Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình và những khó khăn trên thị
trường vốn quốc tế sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Bên cạnh đó, tuy việc
đi vay trong nước nhằm tài trợ cho các dự án có nhiều ưu điểm như thủ tục vay tương
đối đơn giản, tránh được vấn đề bảo lãnh vốn vay, vì vậy cơng trình có thể được thực
hiện theo đúng tiến độ. Nhưng nhược điểm của các nguồn vốn trong nước đó là thời
gian trả nợ tương đối ngắn, thông thường chỉ khoảng 10 năm bao gồm cả thời gian ân
hạn. Cơ chế cho vay thả nổi với lãi suất theo thị trường tài chính quốc tế như hiện nay
của các ngân hàng trong nước thì rủi ro về mặt tài chính do những biến động trên thị
trường vốn quốc tế đã đẩy toàn bộ sang phía chủ đầu tư dự án, ngân hàng khơng phải
gánh chịu phần rủi ro nào cả.
Chính bởi lý do trên, trong điều kiện hiện nay, các khoản vay hỗ trợ tín dụng
xuất khẩu là một sự lựa chọn cần cân nhắc cho các dự án lớn tại Việt Nam. Một số dự
án đang sử dụng hình thức huy động vốn này như các dự án nhà máy điện Vũng Áng,
645
Mạo Khê, dự án tổ hợp bơ-xít nhơm Lâm Đồng. Một số dự án khác đang triển khai thu
xếp vốn theo hình thức này như nhà máy điện Quảng Trạch, Long Phú… Như đã đề
cập ở trên, cho vay đối với nhà nhập khẩu Việt Nam thường được các ECAs thực hiện
gián tiếp thơng qua hạn mức tín dụng mà ECAs thiết lập với các NHTM ở Việt Nam
mà tiếp đó sẽ cung cấp khoản vốn này cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Bảng 3. Tín dụng xuất khẩu cho các dự án năng lượng ở Việt Nam
trong giai đoạn 2010 -2015
ECAs
Ngân hàng
đầu mối
Dự án
Quy mô
Bảo lãnh
Citibank, Mizuho
Dự án tổ hợp bơ
300 triệu USD
Citibank
NEXI
Corporate Bank,
- xít nhơm
Sumitomo Mitsui Trust
Lâm Đồng
95 triệu USD
JBIC
JBIC,NEXI
146 triệu USD
HSBC
275 triệu USD
Ngân hàng SINOSURE
Bank, Limited và The
Bank of Corporate
JBIC, SMBC
Nhà máy Nhiệt
điện Vũng Áng
SINOSURE, HERMES
Nhà máy Nhiệt
điện Vũng Áng
Ngân hàng BNP
Nhà máy nhiệt
Paribas và Ngân hàng
điện Mạo Khê
BNP
Bank Of China
KEXIM*
Paribas
Nhà máy nhiệt
330 triệu USD
PVcombank
245 triệu USD
Citibank
điện Thái Bình
Ngânhàng Sumitomo
Mitsui Trust Bank
Limited, chi nhánh
Singapore (SMTB).
Đường dây
500kV Duyên Hải
- Mỹ Tho, 220kV
Long Phú - Sóc
Trăng, 220 kV
Long Phú - Cần
Thơ - Trà Nóc, và
trạm biến áp
220kV Cần Thơ
NEXI
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ PVFC(2011),PVN (2013)
*Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2016
646
Ngồi ra khơng tài trợ trực tiếp nhưng một số ECAs tham gia bảo hiểm cho khoản
vay như: Nhà máy điện Đakđrinh được NEXI bảo hiểm cho khoản vay 178 triệu USD,
thời hạn 13 năm với ngân hàng Pháp Credit Agricole CIB là ngân hàng đầu tư và doanh
nghiệp của Tập đồn tài chính Crédit Agricole (Pháp); Nhà máy nhiệt điện Mông Dương:
Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM) và Tổng Công ty Bảo hiểm thương mại
Hàn Quốc (KSURE) sẽ cung cấp các bảo lãnh rủi ro cho dự án, trị giá trên 1,46 tỷ USD từ
12 ngân hàng thương mại (BNP-Paribas, Credit Agricole, HSBC, ING, Mizuho, Natixis,
SMBC, Societe Generale, Standard Chartered, Unicredit, CIC Pháp và DZ Đức).
4. Ưu điểm và nhược điểm của tín dụng xuất khẩu trong các dự án năng lượng
tại Việt Nam
Sau một thời gian các ECAs tài trợ vốn cho các dự án năng lượng Việt Nam
bằng hình thức tín dụng xuất khẩu, có thể đánh giá một số ưu điểm của phương thức
này như sau:
- Việc có ECAs tại Việt Nam và tạo thói quen sử dụng các dịch vụ cung cấp từ
ECAs cho các nhà xuất khẩu sẽ đem lại những lợi ích rất lớn như bảo vệ tài chính trong
trường hợp nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán, phá sản hoặc do bất ổn chính trị tại
quốc gia nhập khẩu. Ngồi ra hình thức này cịn tạo ra lợi thế cạnh tranh trong việc chủ
động cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu mở rộng thị trường hoạt động.
- Đối với Việt Nam việc tận dụng vốn vay với chi phí hợp lý để phát triển cơ sở
hạ tầng, xây dựng các cơ sở sản xuất để tạo đòn bẩy cho hoạt động xuất khẩu quốc gia
là cần thiết.
- Hiện nay nguồn vốn tín dụng xuất khẩu ECA được tài trợ trực tiếp, hay bảo
lãnh cho các dự án năng lượng ở Việt Nam thường từ các tổ chức tài chính hay tổ chức
cung cấp bảo hiểm thương mại của nước xuất khẩu cho việc nhập khẩu hàng hóa, dịch
vụ của doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể một số tổ chức tham gia hỗ trợ tín dụng xuất
khẩu cho các dự án ở Việt Nam như: Ngân hàng hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và
Tổ chức Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và đầu tư Nhật Bản (NEXI), Tổ chức Bảo hiểm
tín dụng xuất khẩu Trung Quốc (SINOSURE), Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Hàn Quốc
(KEXIM), Tổ chức Bảo hiểm thương mại Hàn Quốc (K-SURE). Ngoài ra gần như
100% giá trị các khoản vay được bảo lãnh bởi Bộ tài chính Việt Nam với các ngân
hàng thương mại của nước xuất khẩu. Theo đó, mức lãi suất đã tính phí bảo lãnh của
các khoản vay ECA này ưu đãi hơn so với các khoản vay thương mại trực tiếp trên thị
trường trung bình từ 3,5%/năm đến 5%/năm.
647
- Các khoản vay ECA cũng đáp ứng được thời hạn vay dài, trên 10 năm (trung
bình từ 10 năm – 13 năm), trong đó thời gian ân hạn có thể kéo dài đến 3 năm, lịch trả
đều theo niên kim phù hợp với hình thức đầu tư cho dự án. Các nguồn vốn ổn định,
khơng có các ràng buộc khắc khe về chính trị hay xã hội.
Bảng 4. So sánh một số hình thức tài trợ dự án tại Việt Nam
Hình thức
Lãi suất
Thời hạn vay
Quy mơ
3,5 - 5
>10 năm
Quy mô lớn (đến
85%/ giá trị dự án)
Vay thương mại
4 -6
5năm - 7 năm
Thấp 20 -50 triệu
USD/ dự án
Phát hành trái
phiếu quốc tế
5,5 - 6
10 năm
Hạn chế
Vay tổ chức tín
thác tư nhân
6 - 7,5
10 năm
Quy mô lớn đến
80%/giá trị dự án
ECAs
(lãi suất cố định)
Nguồn: Báo cáo của PVFC (2011),VEA(2015)
Tuy nhiên các hình thức tín dụng xuất khẩu tài trợ cho dự án cịn có những hạn
chế sau:
- Để nhận được các khoản vay ECA, các dự án cần phải sử dụng cơng nghệ đáp
ứng các u cầu nghiêm ngặt từ phía Chính phủ nước cho vay và chính sách riêng của
từng tổ chức tài chính như: (i) Các quy định chung liên quan đến bảo vệ môi trường
được áp dụng đối với các khoản vay ECAs từ các nước trong tổ chức OECD; (ii)
Chuẩn mực được cơng nhận tồn cầu liên quan đến xác định, đánh giá và quản lý rủi ro
về xã hội và môi trường của các Dự án Quốc tế do các Tổ chức tài chính quốc tế đưa
ra; (iii) Các chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu, khuyến khích các dự án năng
lượng tái tạo và khơng khuyến khích các dự án có độ phát thải Carbonic cao.
- Doanh nghiệp đi vay phải phụ thuộc vào nguồn gốc thiết bị và chính sách của
các tổ chức ECA. Do mục tiêu chính của ECA là thực hiện chính sách hỗ trợ hoạt động
xuất khẩu của nước cho vay, nên hầu hết các quốc gia đều yêu cầu các dự án muốn
được hỗ trợ vốn ECA phải đảm bảo tỷ lệ tối thiểu hàng hóa/dịch vụ có xuất xứ từ nước
đó. Theo Nguyễn Duy Phúc (2014), yêu cầu tỷ lệ xuất xứ hàng hóa tối thiểu đối với
các nước như sau: Mỹ (50%), Nhật Bản (30%), Hàn Quốc (50%), Trung Quốc (60%),
Séc (50%), Nga (50%)…Việc đáp ứng tỷ lệ xuất xứ hàng hóa này sẽ làm giảm cơ hội
tham gia của các nhà thầu trong nước trong việc tham gia vào dự án.
648
- ECAs cũng chỉ xem xét một dự án khi có đầy đủ thơng tin nên thời gian thực
hiện hình thức vay này có thể kéo dài trên 1 năm và phải có sự bảo lãnh của Chính
phủ, đồng thời chi phí bảo hiểm khoản vay từ 5% đến 10% và chính sách của các
ECAs cũng khơng cố định.
5. Kết luận
Như đã phân tích đặc điểm chung của các dự án năng lượng thường có quy mơ
đầu tư lớn, và các thiết bị thường phải nhập khẩu từ các nước phát triển về công nghệ
và dày dạn kinh nghiệm. Đồng thời trong bối cảnh khó khăn về nguồn vốn, theo nhóm
tác giả tín dụng xuất khẩu là một phương thức huy động vốn mà các doanh nghiệp có
thể sử dụng để đảm bảo tiến độ và chất lượng dự án, cũng như tận dụng được một số
ưu đãi về thời hạn vay và lãi suất. Tuy nhiên với những hạn chế về điều kiện và điều
khoản để thực hiện một khoản tín dụng xuất khẩu, các doanh nghiệp cần cân nhắc thận
trọng để tránh những rủi ro trong thu xếp vốn và thực hiện dự án. Mặt khác những
khoản tín dụng xuất khẩu thường phải được sự bảo lãnh của Chính phủ và Bộ tài
chính, nên nếu doanh nghiệp gặp rủi ro trong vấn đề thanh toán các khoản lãi và gốc
thì sẽ làm gia tăng gánh nặng nợ cơn, từ đó gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho nền
kinh tế. Vì vậy nhóm tác giả cũng đề xuất việc xây dựng quy chế riêng cho hoạt động
tín dụng xuất khẩu, đặc biệt đối với ngành năng lượng nhằm quản lý rủi ro từ hoạt
động này.
Tài liệu tham khảo
1. Auboin, M(2007), Boosting Trade Finance in Developing Countries: What
Link with the WTO? WTO Staff Working Paper No. ERSD – 2007 - 4
2. Báo cáo của PVFC 2011, Phương án thu xếp vốn cho dự án. Hà Nội
3. Báo cáo của NHTMCP Đại Dương (2011). Báo cáo triển khai công tác tư
vấn thu xếp vốn. Hà Nội
4. Balraj. Rajpurohit,S.R (2014), Financial comparison of export credit
agancies (ECAs)/ Export import banks of Inida, China, USA, Russia, South
Africa and Australia. Journal of Indian Research (ISSN: 2321 - 4155), Vol.2,
No 3, P73 - 78
5. Georges Romano (2015) Financing via Export and Agency Finance (ECA)
Characteristics and Benefits. Citi Bank.
6. Marijn Peperkamp (2007), European Export Credit Agencies and the
Financing of Arms Trade, A report by the European Network Against Arms
Trade.
649
7. Michael Gonter (2015), Statistics on arrangement official export credit
support for electric power generation projets (2003-2013), Working party on
Export credits and Credit Guarantees.
8. Morris. P.W.G. (1994), The Management of Project, London: Thomas
Telford.
9. Nguyễn Duy Phúc (2014) Vốn cho các dự án điện và những vấn đề cấp bách
(Kỳ 7) truy cập từ />10. OECD (2016). Arrangement on officially supported export credits.
11. PVN (2013), Ký Hợp đồng tín dụng xuất khẩu Hàn Quốc và Hợp đồng vay
thương mại nước ngoài cho Dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 truy cập từ
/>12. Raquel M.K (2011), The role and importance of export credit agencies,
Institute of Brazilian Business and Public management issues, The Minerva
program
13. Richard.D (2008), The role of export credit aencies in Project Financingfrom
/>14. Siregar, R. Y. (2010), ‘Export Credit and Export Performance in Indonesia’,
in Findlay, C.,F. Parulian and J. Corbett (ed.), Linkages between Real and
Financial Aspects of Economic Integration in East Asia. ERIA Research
Project Report 2009-1, Jakarta: ERIA. pp.255-287.
15. Stephens. M (1998), Export Credit Agencies, Trade Finance, and South East
Asia. IMF Working Paper. WP/98/175.IMF
16. Terry. N, John S and Jennifer H(2012), The Role and Impact of Export Credit
Agencies in Project Finance, Gower Publishing’s The Principles of Project
Finance
17. Website của Hiệp hội năng lượng Việt Nam (VEA) tại www.nangluongvietnam.vn
18. Website của OECD www.oecd.org
650
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
“HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP MỚI”
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Địa chỉ: 207 Đường Giải Phóng, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Website: http//nxb.neu.edu.vn; Email:
Địa chỉ phát hành Ebooks: />Điện thoại/Fax: (04) 36282486
Chịu trách nhiệm xuất bản:
TS. NGUYỄN ANH TÚ, Giám đốc Nhà xuất bản
Chịu trách nhiệm nội dung:
GS.TS. NGUYỄN THÀNH ĐỘ, Tổng biên tập
Biên tập:
TRỊNH THỊ QUYÊN
Chế bản vi tính:
LÊ ĐÀO
Thiết kế bìa:
NGUYỄN VƯƠNG
Sửa bản in và đọc sách mẫu:
TRỊNH THỊ QUYÊN
In 200 cuốn, khổ 19 x 27cm tại Công ty TNHH in và Photo Anh Tú,
địa chỉ: 197 Trần Đại Nghĩa, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Mã số ĐKXB: 1438-2016/CXBIPH/02-92/ĐHKTQD cấp ngày 13 tháng 05 năm 2016
và ISBN: 978 - 604 - 946 - 126 - 2
Số quyết định xuất bản: 152/QĐ-NXBĐHKTQD cấp ngày 20 tháng 06 năm 2016
In xong và nộp lưu chiểu quý III năm 2016
651