Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

Nợ nước ngoài của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (681.8 KB, 14 trang )

NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TS. Phùng Việt Hà1

Tóm tắt
Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia đang phát triển
sử dụng nợ nước ngồi như một cơng cụ đòn bẩy tăng trưởng kinh tế, thực thi các mục
tiêu kinh tế xã hội. Tuy nhiên, những hạn chế trong giám sát và quản lý nợ nước ngoài
là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ nước ngoài. Bài viết tập trung phân tích,
đánh giá thực trạng nợ nước ngồi của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014 theo hệ thống
chỉ tiêu đánh giá của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế; từ đó, đề xuất một
số khuyến nghị nhằm hồn thiện cơng tác giám sát nợ nước ngồi của Việt Nam.
Từ khóa: nợ nước ngồi, nợ cơng
1. Tổng quan lý thuyết về nợ nước ngồi
Theo IMF, nợ nước ngoài là khoản nợ của người cư trú với người không cư trú.
Theo Điều 3 Khoản 5 Luật quản lý nợ cơng của Việt Nam, nợ nước ngồi của một
quốc gia là tổng khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ
của doanh nghiệp và các tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay tự trả theo
quy định pháp luật của Việt Nam. Trên phương diện chủ thể đi vay, nợ nước ngồi
mang lại nhiều tác động tích cực.
Một là, nợ nước ngoài đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển. Đối với các quốc
gia đang phát triển, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư còn hạn chế thì nợ nước
ngồi là giải pháp được nhiều quốc gia lựa chọn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, rút
ngắn thời gian tích tụ và tập trung vốn.
Hai là, nợ nước ngồi góp phần thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, nâng
cao năng lực cạnh tranh quốc gia; các quốc gia đang phát triển sử dụng nguồn vốn vay
nước ngoài để đầu tư cho cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, nâng cao trình độ dân trí, thúc
đẩy chuyển giao kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả kinh doanh.
Ba là, nợ nước ngoài là nguồn bù đắp sự thâm hụt cán cân thanh toán, sử dụng
nguồn vốn từ các khoản vay nước ngoài bù đắp thâm hụt cán cân thanh tốn cho mục
đích đầu tư là biện pháp cải thiện cán cân trong dài hạn.


1

Trường Đại học Thương mại. Email:

599


Bên cạnh những tác động tích cực, nợ nước ngồi có nhiều ảnh hưởng tiêu cực
đến chủ thể vay nợ. Một là, các khoản nợ nước ngoài phi thương mại thường đi kèm
các điều kiện ràng buộc về kinh tế cũng như chính trị, có tác động tiêu cực đến lợi ích
quốc gia. Hai là, nợ nước ngồi là gánh nặng cho dân chúng trong tương lai; Hạn chế
trong quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài tác động tiêu cực đến nguồn trả nợ từ dự
án sử dụng vốn vay và dân chúng phải gánh chịu bằng nghĩa vụ thuế.
Giám sát nợ nước ngồi là q trình theo dõi, đánh giá tình trạng nợ và mức độ an
tồn về nợ nước ngoài. Như vậy, việc giám sát nợ nước ngồi có ý nghĩa quyết định đến
an ninh tài chính của quốc gia vay nợ. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế
giới (WB) chỉ tiêu định lượng được sử dụng giám sát nợ nước ngoài bao gồm:
(1) Nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài
Kết cấu nợ nước ngoài của các quốc gia phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn
vay và mục tiêu quản lý nợ nước ngoài.
Căn cứ vào thời hạn vay, nợ nước ngoài bao gồm nợ ngắn hạn, nợ trung hạn và
nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản nợ nước ngồi có thời hạn dưới một năm;
nợ trung hạn bao gồm các khoản nợ nước ngoài từ 1 năm đến 5 năm; nợ dài hạn bao
gồm các khoản nợ nước ngồi có thời hạn từ 5 năm trở lên.
Căn cứ vào chủ thể đi vay, nợ nước ngồi bao gồm: nợ Chính phủ và nợ tư nhân.
Nợ Chính phủ bao gồm các khoản nợ của nước ngồi, của Chính phủ và các khoản nợ
được Chính phủ bảo lãnh. Nợ tư nhân là các khoản nợ nước ngoài của các doanh
nghiệp, tổ chức theo nguyên tắc tự vay, tự chịu trách nhiệm với khoản nợ đó.
Căn cứ vào cơ chế lãi suất của khoản vay, nợ nước ngồi bao gồm nợ có lãi suất
cố định và nợ có lãi suất thả nổi. Căn cứ vào tính chất ưu đãi lãi suất, nợ nước ngoài

bao gồm nợ nước ngoài thương mại và nợ nước ngoài phi thương mại.
Sự mất cân đối trong dài hạn về tỷ trọng nợ nước ngoài theo chủ thể vay nợ, lãi
suất tài trợ và thời hạn là một trong những căn cứ dự báo nguy cơ khủng hoảng nợ.
(2) Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng chi trả nợ nước ngoài
Theo Ngân hàng Thế giới, việc giám sát khả năng chi trả nợ nước ngoài của một
quốc gia được sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá bao gồm: (i) Nợ nước ngoài của quốc gia so
với GDP, chỉ tiêu này phản ánh tương quan giá trị dư nợ nước ngoài của một quốc gia
so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế, (ii) Nợ nước ngoài của một quốc gia so với
kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, chỉ tiêu này phản ánh khả năng hoàn trả nợ nước ngoài

600


từ nguồn thu xuất khẩu hàng hóa (iii) Nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng thu ngân
sách, chỉ tiêu này phản ánh khả năng hoàn trả nợ nước ngoài từ nguồn thu ngân sách,
và (iv) Nợ nước ngoài ngắn hạn so với dự trữ ngoại hối của quốc gia, chỉ tiêu này đánh
giá năng lực thanh khoản nợ nước ngoài của quốc gia vay nợ.
Bảng 1. Ngưỡng đánh giá an toàn nợ nước ngoài theo khuyến nghị của WB
Mức độ

Nợ NNg/ GDP

Nợ NNg/XK

Nợ quá nhiều

>50%

>275%


Nợ vừa phải

30 - 50%

165 - 275%

<30%

<165%

Nợ ít

Nguồn: [15]
2. Thực trạng nợ nước ngồi của việt nam giai đoạn 2005 - 2014
Bộ Tài chính có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo số liệu về nợ nước ngoài của
Việt Nam cho IMF trong bản báo cáo nợ quốc gia. Để đánh giá toàn diện về thực trạng
nợ nước ngoài của Việt Nam, tác giả phân tích cơ cấu nợ nước ngồi và đánh giá khả
năng chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam.
2.1. Cơ cấu nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014
Nợ nước ngoài của Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 2005 2014. Mơi trường chính trị pháp luật ổn định và sự điều hành vĩ mô phù hợp của
Chính phủ đã tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Những tín hiệu khả quan từ
nền kinh tế Việt Nam được các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá cao, Việt Nam
thu hút được nguồn ODA của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á và
Nhật Bản. Do đó, nợ nước ngồi của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao trong giai
đoạn 2005 - 2014.

601


Hình 1. Tăng trưởng dư nợ nước ngồi của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014

350
300
250
200
150
100
50
0
2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Nguồn: [1]
Năm 2005 được tác giả lựa chọn là năm gốc. Tốc độ tăng trưởng nợ nước ngoài

của các năm được so sánh với năm gốc. Năm 2014 đánh dấu mức tăng trưởng kỷ lục
của nợ nước ngồi, khi quy mơ nợ nước ngồi của Việt Nam tăng 296% so với năm
gốc 2005.
Bảng 2. Cơ cấu nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014
Chỉ tiêu
Tỷ trọng
nợ NNg
theo thời
hạn(%)

Tỷ trọng
nợ NNg
theo chủ
thể vay
nợ(%)

Tỷ trọng
nợ NNg
theo cơ
chế lãi
suất (%)

Tổng dư
nợ

2005

2006

2007


2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Ngắn
hạn

85,4

86

78,9

82,4

81,6

80,1


79,6

79,4

78,2

77,8

TDH

14,6

14

21,1

17,6

18,4

19,9

20,4

20,6

21,8

22,2


Chính
phủ

76,56

75,05

76,52

73,85

67,55

73,28

82,79

79,15

77,73

79,03


nhân

23,44

24,95


23,48

26,15

32,45

26,72

17,21

20,85

22,27

20,07

Cố
định

N/A

98,3

97,5

96,71

92

92,95


93,2

91,6

90,7

N/A

Thả
nổi

N/A

1,7

2,5

3,28

8

7,04

6,8

8,4

9,3


N/A

18.558

20.840

25.160

29.541

41.345

44.349

50.590

58.274

63.454

73.416

TriệuUSD

Nguồn: [1], [14]

602


Nợ nước ngoài trung dài hạn của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014 chiếm tỷ trọng

lớn trong tổng dư nợ. Nợ ngắn hạn có xu hướng tăng, chủ thể vay nợ của các khoản nợ
ngắn hạn là các doanh nghiệp và các tổ chức. Tỷ trọng nợ nước ngoài của Chính phủ
chiếm tỷ trọng cao với mức trung bình 77,15% trong giai đoạn 2005 - 2014. Tỷ trọng
nợ nước ngoài của khu vực tư nhân ở mức thấp, dao động trong khoảng 23%. Đối với
nợ nước ngoài khu vực tư nhân, các khoản nợ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngồi có tỷ trọng trung bình giai đoạn 2005 - 2014 là 52%.
Theo bản tin Nợ nước ngoài số 07, nợ nước ngoài của Việt Nam chủ yếu theo cơ
chế lãi suất cố định, trong đó tỷ trọng dư nợ nước ngoài phi thương mại chiếm tỷ trọng
trung bình 92,05%; dư nợ nước ngồi có lãi suất trên 3%năm tăng trưởng nhanh chóng
trong giai đoạn 2010 - 2014 với mức tăng trưởng năm sau so với năm trước trung bình
ở ngưỡng 57%. Đối với các khoản nợ nước ngoài theo cơ chế lãi suất thả nổi, căn cứ
tham chiếu theo US Dolar LIBOR 6 tháng và Euro LIBOR 6 tháng.
2.2. Khả năng chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam
Trong giai đoạn 2005 - 2013, Việt Nam đã trả được 49,390 tỷ USD, trung bình
mỗi năm Việt Nam phải thu xếp 5,49 tỷ USD để trả nợ.
Bảng 3. Tình hình trả nợ nước ngồi của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014
Trả nợ tư nhân

Trả nợ của Chính phủ
Dư nợ

Trả nợ

Dư nợ

Trả nợ

Trả nợ/ Dư
nợ %


Triệu USD

Triệu USD

Trả nợ/
Dư nợ %

2005

14.208

0.698

4.91

4.350

1.254

28.82

2006

15.641

0.765

4.89

5.199


1.087

20.9

2007

19.253

0.886

4.6

5.907

0.695

11.76

2008

21.816

1.103

5.05

7.725

0.324


4.19

2009

27.929

1.191

4.26

13.416

0.099

0.73

2010

32.501

1.778

5.47

11.848

0.111

0.93


2011

41.882

2.946

7.03

8.708

0.335

3.85

2012

46.123

2.333

5.05

12.151

0.650

5.34

2013


49.325

26.475

53.67

14.129

6.660

47.13

2014

58.020

N/A

N/A

15.396

N/A

N/A

Năm

Triệu USD


Triệu
USD

Nguồn[1], [8], [11], [14]

603


Chỉ tiêu trả nợ/dư nợ của Chính phủ được cải thiện, tuy nhiên chưa phản ánh
chính xác nhu cầu trả nợ thực tế. Các khoản nợ từ nguồn vốn vay ưu đãi vẫn trong giai
đoạn ân hạn. Từ năm 2013, Việt Nam phải thực hiện trả nợ nước ngoài của Chính phủ
do vậy giá trị thanh tốn nợ tăng đột biến. Trong bối cảnh nguồn thu ngân sách hạn
hẹp, bố trí nguồn trả nợ nước ngồi đáo hạn tạo áp lực đến đảm bảo mục tiêu chính
sách vĩ mơ.
Nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam tăng nhanh, quy mơ nợ nước ngồi
tăng đột biến. Năm 2005 dư nợ nước ngoài 18,558 tỷ USD tương ứng 32,2% GDP,
năm 2014 tổng dư nợ nước ngoài tăng lên 73.416 tỷ USD tương ứng 39,9% GDP.
Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu được cải thiện đã tác động tích cực đến chỉ tiêu nợ
nước ngoài so với xuất khẩu trong hai năm 2013 và 2014 . Để xác định chỉ tiêu nợ
nước ngoài so với thu ngân sách, tác giả đã quy đổi thu ngân sách về USD theo tỷ giá
bình quân liên ngân hàng tại thời điểm 31/12 hằng năm.
Bảng 4. Đánh giá khả năng trả nợ nước ngoài của Việt Nam
Đơn vị: %
Chỉ tiêu

2005

2006


2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Nợ NNg/

32.2

31.4

32.5

29.8

39

42.2


41.5

37.4

37.3

39.9

51.6

47.9

47.5

42.6

62.5

61.4

52.2

50.8

48.0

48.91

128.95


119.72

128.58

113.17

156.10

142.69

147.40

163.69

169.19

170.03

33.61

64.97

94.2

81.78

40.51

29.00


27.91

29.08

46.78

50.12

3.39

2.79

2.04

1.44

1.22

1.63

2.42

1.91

19.33

N/A

13.56


10.64

8.08

5.47

4.87

5.37

4.18

4.6

5.3

N/A

GDP
Nợ NNg/
Xuất khẩu
NợNNg/Thu
NSNN
Dự trữ
ngoại hối/
Tổng nợ
TrảnợNNg /
GDP
TrảnợNNg /
Thu NSNN


Nguồn: [11], [14]
Để đánh giá mức độ an toàn của nợ nước ngoài của Việt Nam, tác giả tham chiếu
ngưỡng đánh giá nợ nước ngoài của WB trong Bảng 4. Căn cứ vào ngưỡng đánh giá,
nợ nước ngoài của Việt Nam được WB và IMF đánh giá trong giới hạn an toàn.

604


Dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014 chịu sự tác động của
khủng hoảng kinh tế do đó dự trữ ngoại hối biến động do sự tác động của tỷ giá, cán
cân thương mại. Ngân hàng Nhà nước buộc phải dùng dự trữ ngoại hối để bình ổn tỷ
giá, do đó dự trữ ngoại hối giảm mạnh xuống mức kỷ lục 12,58 tỷ năm 2011. Dự trữ
ngoại hối có dấu hiệu cải thiện trong hai năm 2013, 2014 do cán cân thương mại được
cải thiện và Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách can thiệp thị trường vàng, thực
thi chính sách ổn định tỷ giá. Chỉ tiêu dự trữ ngoại hối so với nợ nước ngồi được cải
thiện thể hiện năng lực ứng phó với các khoản nợ nước ngồi của Việt Nam có dấu
hiệu chuyển biến tích cực.
Bảng 5. Tốc độ tăng chi trả nợ nước ngoài, chi thường xuyên, và bội chi NSNN
Chỉ tiêu

2005

Tốc độ tăng
chi trả nợ
NNg của
CP(%)

2006


2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

5.59

15.81

24.49

7.97

49.28

65.69

-20.8


1034.8

N/A

Tốc độ tăng
chi thường
xuyên(%)

20

12

18

15

52

1

14

19

1

N/A

Tốc độ tăng
thu

NSNN(%)

N/A

N/A

N/A

36.29

5.63

29.39

22.67

43.87

-23.85

-1.02

Bội chi
NSNN(tỷ
đồng)

34,410

28,586


83,487

77,817

142,355

112,200

121,500

165,290

236,769

224,0
00

Nguồn: [9] ,[11]
An ninh tài chính quốc gia khơng được đảm bảo khi tốc độ tăng thu không đủ bù
đắp nhu cầu chi thường xuyên và nghĩa vụ trả nợ nước ngồi của Chính phủ. Nợ nước
ngồi chiếm khoảng 40% GDP, nghĩa vụ chi trả nợ nước ngoài của Chính phủ tăng đột
biến trong bối cảnh thu ngân sách eo hẹp, không đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên và
chi trả nợ nước ngoài và các nghĩa vụ trả nợ nước ngồi của Chính phủ vào thời kỳ đáo
hạn. Theo báo cáo của Cục quản lý Nợ và Tài chính đối ngoại, nợ gốc phải trả tăng
trung bình 19% năm, lãi và phí tăng 45%. Như vậy, với tổng dư nợ hiện tại, trong
những năm tới không vay thêm, tính đến 2026 nghĩa vụ nợ tăng bình qn 25% năm.
Việt Nam đang đối mặt với áp lực trường kỳ về trả nợ nước ngồi. Nếu năng lực thanh
tốn nợ nước ngồi của Việt Nam khơng được cải thiện thì khó tránh khỏi khủng
hoảng nợ tại các thời điểm đáo hạn nợ.


605


2.3. Đánh giá thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014
Căn cứ vào chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ nước ngoài, nợ nước ngoài của
Việt Nam trong giới hạn an toàn, gánh nặng nợ nước ngoài chưa ở ngưỡng nghiêm
trọng, cơ cấu nợ bền vững. Những cải cách, hồn thiện chính sách, khung thể chế đã
tạo ra sự chuyển biến tích cực trong cơng tác quản lý, giám sát nợ nước ngồi.
Thứ nhất, nợ nước ngoài được thống nhất quản lý toàn diện; khung thể chế về
quản lý nợ nước ngoài được liên tục đổi mới nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nợ
quốc gia và phù hợp hơn với thực tiễn hội nhập quốc tế. “Nợ nước ngoài của Việt Nam
do nhà nước thống nhất quản lý toàn diện, từ khâu huy động vốn, tiếp nhận, phân bổ sử
dụng, quản lý, theo dõi và giám sát đều được phân công thực hiện”[4] “Các Bộ, ngành
được phân công làm tham mưu cho thủ tướng chính phủ trong việc hoạch định chính
sách, xây dựng kế hoạch vay, trả nợ nước ngoài và thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về nợ nước ngồi bao gồm Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Văn phịng Chính phủ và Ngân hàng Phát triển” [6].
Cùng với Luật Ngân sách nhà nước(2002), Luật quản lý nợ công (2009) tạo cơ sở pháp
lý trong quản lý nợ nước ngồi, nợ cơng của Việt Nam. Bên cạnh đó, Chính phủ ban
hành Nghị định số 134/2005 NĐ-CP đã tạo ta khn khổ pháp lý tồn diện về quản lý
nợ nước ngoài. Những thay đổi, bổ sung của Nghị định số 134/2005 NĐ - CP bao gồm
(i) định nghĩa, phân loại nợ nước ngồi phù hợp hơn với thơng lệ quốc tế, (ii) xác định
rõ mục tiêu của quản lý nợ nước ngồi, trong đó tập trung vào mục tiêu đáp ứng nhu
cầu vốn cho phát triển với chi phí thấp nhất, phân bổ và sử dụng có hiệu quả, giảm
thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn nợ và an ninh tài chính quốc gia (iv) bổ sung cơng cụ
quản lý nợ và (v) phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan Chính phủ trong quản lý
nợ nước ngồi, nguyên tắc quản lý nợ nước ngoài. Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày
27/07/2012 phê duyệt chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn
2011 - 2020 và tầm nhìn 2030 đánh dấu sự đổi mới căn bản và tồn diện cơng tác quản
lý nợ nước ngồi của Việt Nam.

Thứ hai, nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng; kim ngạch xuất khẩu tăng
trưởng bền vững, cán cân thương mại được cải thiện đã tác động tích cực đến thu hút
nguồn vốn ODA. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ODA bình qn giai đoạn 2005 2014 ước tính 12% năm.
Thứ ba, những cải cách nhằm hồn thiện mơi trường pháp lý và hoàn thiện thể
chế trên cở sở tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút vốn đầu tư trực tiếp và góp
phần quan trọng xây dựng niềm tin lâu dài của cộng đồng nhà tài trợ quốc tế, tạo điều
kiện thuận lợi cho thu hút nguồn tài trợ ưu đãi quy mô lớn cho phát triển kinh tế.

606


Khả năng chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam còn hạn chế. Theo kết quả nghiên
cứu của Nguyễn Thị Nguyệt Dung (2014), khả năng trả trợ nước ngoài phụ thuộc vào
bốn biến độc lập: hiệu quả sử dụng nợ nước ngoài (HQSD), tăng trưởng xuất khẩu
(TTXK), cán cân thanh toán (CCTT) và thâm hụt ngân sách (THNS).
KNTT= 0,573HQSD+ 0,330 TTXK+ 0,067CCTT- 0,108 THNS [10]
(i) Nguồn trả nợ từ xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng tốt nhưng kém bền vững, khả
năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu cịn yếu, thặng dư thương mại do đóng góp
của doanh nghiệp FDI trong gia công linh kiện điện tử, giá trị gia tăng trong hàng hóa
xuất khẩu cịn thấp (ii) Dự trữ ngoại hối tăng nhanh chóng nhưng chưa đạt ngưỡng 12
tuần nhập khẩu theo khuyến nghị của IMF, (iii). Tốc độ tăng trưởng nợ nước ngồi
ln cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngun nhân chính dẫn đến tình trạng nợ
nước ngồi gia tăng nhanh chóng giai đoạn 2005 - 2014 bắt nguồn từ thâm hụt cán cân
thương mại và bội chi ngân sách. Thâm hụt thương mại được xem xét trong mối tương
quan với chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm.
Bảng 6. Cán cân thương mại và chênh lệch tiết kiệm - đầu tư giai đoạn 2005 - 2014
Chỉ tiêu

2005


2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Chênh lệch
Tiết kiệm
và đầu

0.21

- 0.84

-8.95

-10.3


-9.19

-8.44

-12

-2.2

- 1.78

-0.9

-4314.2

-5064.9

-14203

-18028.7

-12852

-12609

-8895

331

858.6


1973.7

tư/GDP (%)
Cán cân
thương mạ
i(triệu USD)

Nguồn: [11]
Chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm đạt giá trị âm trong thời gian dài cùng với chính
sách mở trong chi tiêu cơng trong bối cảnh tốc độ tăng thu ngân sách luôn thấp hơn tốc độ
tăng nhu cầu chi tiêu đã dẫn đến quy mô nợ nước ngồi gia tăng nhanh chóng.
Phân bổ vốn vay nợ Chính phủ khơng tn thủ ngun tắc thị trường. Vay nợ của
Chính phủ tập trung đầu tư cho khu vực công nhưng hiệu quả của đầu tư công rất hạn
chế. Vì vậy, nguồn trả nợ khai thác từ dự án, chương trình sử dụng vốn vay rất nhỏ.
Mặc dù, Chính phủ đã đổi mới quản lý đầu tư công trong đó tập trung siết chặt kỷ luật
đầu tư cơng, luật hóa đầu tư cơng, mở rộng hợp tác cơng tư nhưng việc đổi mới quản
lý đầu tư công mới chỉ thực hiện siết chặt đầu tư công, chưa tập trung giải quyết những

607


tình trạng kém hiệu quả trong đầu tư cơng; Luật đấu thầu và nghị định hợp tác công tư
đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong phân bổ vốn đầu tư công theo nguyên tắc
thị trường; tuy nhiên, để đưa nghị định vào cuộc sống cần những văn bản hướng dẫn;
các bộ, ngành, địa phương chưa xây dựng hệ thống tiêu chí phân bổ, do vậy hiệu quả
đầu tư công hiện nay không phải là căn cứ phân bổ đầu tư công. Cơ chế cấp bảo lãnh
và cho vay lại từ nguồn vốn ODA tập trung tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước
không căn cứ vào hiệu quả của các dự án. Nguồn tích lũy trả nợ từ Quỹ tích lũy trả nợ
rất eo hẹp. Theo Điều 29 Luật Quản lý nợ cơng, quỹ tích lũy trả nợ bao gồm thu hồi nợ
từ các khoản vay về cho vay lại của Chính phủ, phí bảo lãnh Chính phủ, thu hồi từ các

khoản tạm ứng vốn từ Quỹ, lãi tạm ứng vốn và lãi tiền gửi hoặc ủy thác quản lý vốn
của Quỹ. Như vậy, nghĩa vụ trả nợ nước ngồi của Chính phủ tạo gánh nặng dài hạn
cho dân chúng bởi nghĩa vụ thuế và phí.
Bảng 7. Chỉ số ROE và ROA của các doanh nghiệp VNR 500
Đơn vị: %
Chỉ tiêu
ROA

ROE

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

DNNN

3.7


3.1

3.6

5.2

2.7

3.53

4.7

6.2

DN FDI

26.9

14.7

13,7

13

9.8

19.82

N/A


13

DNNN

25.6

15.4

15.3

20.8

10

16.28

10

N/A

DN FDI

62.4

30.9

27.6

27.1


24.6

39.22

N/A

N/A

Nguồn: Bảng xếp hạng VNR 500
Quy định quản lý nợ nước ngồi do Chính phủ bảo lãnh hiện hành không gắn
liền trách nhiệm chủ thể tiếp nhận vốn ủy thác trong việc ra phán quyết tài trợ từ nguồn
ủy thác của Chính phủ. Phần lớn các khoản vay nợ được chính phủ bảo lãnh được ủy
thác cho tơ chức tín dụng cho vay lại nhưng tổ chức tín dụng khơng chịu rủi ro. Do đó,
chủ thể tiếp nhận vốn ủy thác tiến hành giải ngân không căn cứ vào hiệu quả và rủi ro
của dự án. Chính phủ là chủ thể chịu trách nhiệm trả nợ cuối cùng đối với các khoản
nợ được Chính phủ bảo lãnh.
Công tác lập kế hoạch, theo dõi, giám sát, thu thập thông tin và đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn vay nước ngồi cịn hạn chế. “Sự phân cơng phối hợp và cung cấp
thông tin giữa các bộ, ngành trong quản lý nợ chưa rõ ràng, việc điều phối giữa các cơ
quan đã diễn ra nhưng mới mang tính đơn lẻ và sự vụ” [14]. Hoạt động của các bộ

608


trong quản lý nợ nước ngồi cịn chồng chéo, chức năng quản lý dàn trải kém hiệu quả.
Chức năng lập kế hoạch ngắn hạn và trung hạn đối với nợ nước ngoài do Bộ Kế hoạch
và Đầu tư và Bộ Tài chính cùng thực hiện; Bộ Tài chính có chức năng lập kế hoạch
vay và trả nợ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có chức năng phân bổ vốn vay thơng qua
chương trình và dự án sử dụng vốn vay nợ nước ngoài. Việc phân tách chức năng lập
kế hoạch đã gây khó khăn trong cơng tác giám sát, theo dõi và đánh giá hiệu quả sử

dụng vốn vay.
Cơ chế cảnh báo và quản lý nợ nước ngồi cịn hạn chế
Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro đối
với nợ nước ngoài bao gồm nợ nước ngồi của Chính phủ và nợ nước ngoài của doanh
nghiệp. Hệ thống cảnh báo sớm rủi ro có tính cấp thiết hiện nay khi Việt Nam hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Những hạn chế về cơ sở dữ liệu theo dõi nợ nước
ngồi và mơ hình quản lý nợ nước ngồi hiện nay là nguyên nhân chính dẫn đến hệ
thống cảnh báo sớm khó thực thi trong thực tiễn. Chính phủ đã ban hành quy chế thu
thập, tổng hợp, báo cáo và cơng bố thơng tin về nợ nước ngồi, tuy nhiên cơ sở dữ liệu
bất cập, không thể kết nối, khai thác phục vụ cơng tác giám sát nợ nước ngồi.
3. Giải pháp đảm bảo khả năng chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam
3.1. Một số nguyên tắc đảm bảo khả năng chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam
Một là, phân bổ vốn đảm bảo nguyên tắc hiệu quả và sinh lời. Do vậy vốn vay
cần tập trung vào ngành, lĩnh vực đem lại hiệu quả; không phân bổ vốn dàn trải kém
hiệu quả. Mặt khác, để đảm bảo năng lực trả nợ, cần gắn liền trách nhiệm hoàn trả đối
với chủ thể sử dụng vốn vay được Chính phủ bảo lãnh hoặc nguồn vốn ODA ủy thác
cho vay.
Hai là, cơ cấu lại danh mục nợ nước ngoài theo nguyên tắc thị trường; tỷ trọng
phân bổ vốn cho khu vực công và khu vực tư nhân theo mức độ đóng góp của khu vực
này vào GDP và thu ngân sách; cân đối cơ cấu nợ ngắn hạn và dài hạn theo xu hướng
giảm tỷ trọng nợ ngắn hạn, kiểm soát chặt chẽ huy động vốn nợ ngắn hạn và trung hạn
cho mục tiêu đảo nợ.
Ba là, giảm áp lực nợ nước ngồi trung dài hạn bằng điều chỉnh chính sách thu
hút nguồn vốn FDI, hạn chế nợ ngắn hạn bù đắp cán cân thương mại.

609


3.2. Giải pháp đảm bảo khả năng chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam
 Nâng cao hiệu quả sử dụng nợ nước ngồi

Thứ nhất, đổi mới cơng tác quy hoạch chương trình, dự án sử dụng vốn vay
nước ngồi hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng công tác kế hoạch thu hút và phân
bổ vốn vay nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn trả nợ từ dự án. “Cần phân bổ đầu tư
công theo khuôn khổ đầu tư trung hạn”[7]. Tăng cường liên kết dự án sử dụng vốn
trong nước và dự án, chương trình sử dụng vốn vay nước ngoài nhằm khai thác lợi thế
của vùng miền, tránh trùng lắp, chồng chéo. Cần cân đối dự án vay vốn nước ngoài
hoàn vốn trực tiếp và dự án, chương trình khơng có khả năng hồn vốn trực tiếp nhằm
duy trì chỉ số nợ nước ngồi ở ngưỡng an tồn trong thời gian tới.
Thứ hai, tăng cường hoạt động thẩm định chương trình, dự án sử dụng nguồn
vốn vay nước ngoài. Đổi mới tổ chức bộ máy giám sát và thẩm định đầu tư theo hội
đồng chuyên môn tư vấn cho cơ quan giám sát và thẩm định. Mặt khác, thẩm định cần
được thực hiện trên bộ chỉ tiêu đánh giá thống nhất và tồn diện. Vì vậy, các cơ quan
quản lý nhà nước về nợ nước ngoài cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá đảm bảo
tính tồn diện và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế cạnh tranh bình đẳng, cơng khai giữa các đơn vị sử
dụng vốn đầu tư công từ các khoản vay nước ngồi. Hình thành cơ chế đánh giá hiệu
quả kinh tế - xã hội của dự án khi đưa vào sử dụng, khai thác và đối chiếu với hiệu quả
dự kiến trong báo cáo tiền khả thi nhằm nhận diện những hạn chế trong quy trình phân
bổ vốn đầu tư công từ nguồn vốn vay nước ngoài và sàng lọc chủ thể sử dụng vốn kém
hiệu quả.
 Thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu
Để đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu bền vững, vấn đề chất lượng hàng hóa xuất
khẩu và chất lượng cơng tác dự báo thị trường có tính chất quyết định. Việc kiểm sốt
chất lượng hàng hóa xuất khẩu nhằm đảm bảo uy tín và thương hiệu hàng hóa xuất
khẩu của Việt Nam, đảm bảo quy định về tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn hàng hóa nhập
khẩu nước sở tại. Cơng tác dự báo thị trường có yếu tố then chốt, quyết định tới tăng
trưởng xuất khẩu bền vững trên cơ sở dự báo sự thay đổi nhu cầu của thị trường để
điều chỉnh cung ứng, không lệ thuộc vào một số thị trường.
 Kiểm soát chi nhằm giải quyết bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách là nguyên nhân dẫn đến quy mô nợ nước ngồi của Việt Nam

tăng trưởng nhanh chóng. Để giải quyết bội chi, biện pháp tăng thu từ thuế cần xem

610


xét, cân nhắc. Tăng thu từ thuế không phải giải pháp tối ưu vì đây là biện pháp ảnh
hưởng tới lợi ích của dân chúng và có tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Kiểm soát chi là biện pháp cần thiết trên cơ sở thúc đẩy tái
đầu tư công tăng cường hợp tác công tư, nhằm giảm gánh nặng chi đầu tư công, giảm
bội chi ngân sách và cải thiện năng lực thanh khoản nợ nước ngoài. Trong điều kiện
nguồn lực ngân sách hạn chế, việc lựa chọn dự án đầu tư công cần gắn liền với định
hướng chung của chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
4. Kết luận
Nợ nước ngoài là cơng cụ địn bẩy tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát
triển. Tuy nhiên, việc giám sát nợ nước ngồi khơng chặt chẽ kèm theo sự yếu kém
trong sử dụng vốn vay nước ngoài dẫn đến các nước vay nợ lâm vào tình trạng mất
năng lực chi trả nợ nước ngoài. Nhận diện thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam,
trên cơ sở phân tích hệ thống chỉ tiêu đánh giá nhằm nhận diện những hạn chế về năng
lực chi trả nợ nước ngoài của Việt Nam. Việc thực thi những giải pháp đề xuất cần
đảm bảo trong bối cảnh thực thi cải tổ công tác quản lý nợ nước ngồi. Chính vì vậy,
vấn đề tăng cường năng lực chi trả nợ nước ngồi của Việt Nam vơ cùng khó khăn.

Tài liệu tham khảo
1. Bộ tài chính, Bản tin nợ nước ngoài số 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07; Bản tin nợ
công số 01, 02, 03
2. Bộ tài chính (2007), Thơng tư số 21/2007/TT- BTC ngày 21 tháng 03 năm
2007 hướng dẫn phương pháp tính tốn các chỉ tiêu nợ nước ngồi
3. Chính phủ (2006), Quyết định số 131/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 ban
hành quy chế quản lý vay và sử dụng vốn Hỗ trợ phát triển chính thức
4. Chính phủ (2006), Quyết định số 232/2006/QĐ-Ttg ngày 16/10/2006 ban

hành quy chế thu thập, báo cáo, chia sẻ và công bố thơng tin về nợ nước
ngồi
5. Chính phủ (2012), Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27 tháng 07 năm 2012
phê duyệt chiến lược nợ cơng và nợ nước ngồi của quốc gia giai đoạn
2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
6. Chính phủ (2005), Nghị định 134/NĐ-CP ngày 01/11/2005 ban hành Quy chế
vay và trả nợ nước ngoài.

611


7. Nguyễn Tú Anh (2016), Tái cơ cấu đầu tư công của Việt Nam và những vấn
đề đặt ra trong giai đoạn mới, Tạp chí Tài chính số tháng 02/2016.
8. Nguyễn Thị Thanh Hương (2007), Tăng cường quản lý nợ nước ngoài của
Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.
9. Nguyễn Thị Nguyệt (2016), Bội chi ngân sách ở Việt Nam: Vấn đề và giải
pháp, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 05/2016.
10. Nguyễn Thị Nguyệt Dung (2015), Hiệu quả quản lý nợ nước ngoài ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.
11. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê từ năm 2005 - 2014.
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật Ngân sách
nhà nước.
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật quản lý nợ công.
14. ADB, http: www.adb.org.
15. VIE/01/010 (2014), Capacity Development for effective and sustainable
external debt management, NEX- National Execution.
16. World bank, http// www.worldbank.org.

612




×