Tải bản đầy đủ (.docx) (38 trang)

Bao cao cuoi ki luat du lich

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (298.94 KB, 38 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
Khoa Quản trị Du lịch – Nhà hàng – Khách sạn

BÁO CÁO CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: LUẬT DU LỊCH
TÀI NGUYÊN DU LỊCH – KHU DU LỊCH – ĐIỂM DU LỊCH

Ngành:

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG VÀ DỊCH VỤ ĂN UỐNG

Giảng viên hướng dẫn : THs. NGUYỄN LÊ PHƯƠNG ANH
Sinh viên thực hiện

:

MSSV

:

Lớp

:

TP. Hồ Chí Minh, 2021


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------



KHOA QTDL – NH
– KS

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Họ và tên sinh viên:

...............................................................................................................

MSSV:

...............................................................................................................

Lớp:

...............................................................................................................

Nhận xét chung:
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
Tp.HCM, ngày ....... tháng ....... năm 20....

Giảng viên hướng dẫn

…………………………………..


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

Ngày nay, đời sống của con người ngày càng cao, họ khơng những có nhu cầu
đầy đủ về vật chất mà cịn có nhu cầu được thỏa mãn về tinh thần như vui chơi, giải
trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển vọng. Ngành du lịch
Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trị của nó
thì khơng thẻ phủ nhận. Du lịch là một ngành “cơng nghiệp khơng có khói”, mang
lại thu nhập GDP cho nền kinh tế, giải quyết mọi cơng ăn việc làm cho hàng vạn lao
động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra tồn thế giới. Nhận thức được điều
này, Đảng và nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành
kinh tế mũi nhọn.
Khi du lịch đã trở nên cần thiết thì những điều luật mà nhà nước thành lập nên
cũng dần dần triệt để. Luật du lịch giúp cho ngành du lịch trở nên ổn định, an toàn
và dễ quản lý. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10, Luật này quy định
về du lịch.
Hiện nay Việt Nam đang bước vào tiến trình hội nhập, quá trình cơng nghiệp
hóa – hiện đại hóa diễn ra ngày càng sâu rộng hơn, nền kinh tế dần đạt được nhiều

thành tựu hơn. Trong điều kiện đó, đời sống người dân đang được cải thiện theo
từng ngày theo sau đó là nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi cũng vang lên. Vì vậy luật du
lịch trở nên vô cùng cần thiết và đã trở thành một trong những bộ luật quan trong
của nhà nước. Là một sinh viên tại giảng đường đại học, để hiểu biết thêm rõ về du
lịch cũng như luật du lịch nên em đã quyết định nghiên cứu về luật du lịch của tài
nguyên du lịch, khu du lịch và điểm du lịch.

2.

Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích sau đây:
-

Cung cấp một cái nhìn tổng quát cho sinh viên về luật trong vấn đề tài nguyên du

-

lịch, khu du lịch và điểm du lịch.
Phân tích vai trị của luật du lịch trong đề tài.
4


-

Giúp cho sinh viên hiểu biết hơn về các điều luật, mức phạt khi vi phạm những quy
định có trong các điểm du lịch và trong bộ luật được ban hành của đảng và nhà

-


nước.
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch, qua đó góp

-

phần hạn chế tác động tiêu cực đến tài nguyên du lịch của đất nước.
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch Việt
Nam.

3.

Phạm vi nghiên cứu

-

Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi nước Việt

-

Nam.
Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật du lịch và pháp luật về bảo vệ các
nguồn tài nguyên trong mối liên hệ với hoạt động du lịch. Trên cơ sở đó, đề ra các
giải pháp pháp lý về bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam.

4.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu.
Nghiên cứu và xử lý tình huống những mức phạt và quy định của đề tài. Tìm

hiểu chuyên sâu về các giải pháp và các bộ luật của Nhà nước và Đảng đã ban hành
trong bộ Luật du lịch.
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay về pháp luật du lịch. Ngồi ra, cịn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, dự báo khoa
học để rút ra các kết luận mang tính chính xác, có ý nghĩa cho luận văn.

5


NỘI DUNG
1. TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT DU LỊCH VIỆT NAM

1.1. Khái quát về du lịch và dịch vụ du lịch
Khoa học phát triển luôn phải gắn liền với việc xây dựng hệ thống các khái
niệm. Bởi lẽ, khái niệm vừa là kết quả của tư duy khoa học vừa phương tiện để tư
duy. Do đó khi nghiên cứu pháp luật về dịch vụ du lịch chúng ta phải hiểu về những
khái niệm cơ bản được sử dụng phổ biến vả rộng rãi trong du lịch.

1.2. Khái niệm về du lịch
Từ giữa thế kỉ XIX, du lịch phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện
tượng kinh tế xã hội phổ biến, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn
hóa xã hội của các quốc gia. Đối với các nước đang phát triển du lịch được coi là
cứu cách để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của các quốc gia. Trước thực tế phát triển
của du lịch, việc nghiên cứu thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niệm cơ bản
về du lịch, trong đó khái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết.
Thuật ngữ “du lịch” được bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng
quanh, là cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người dạo chơi. Trong tiếng Anh “to tour”
có nghĩa là đi dã ngoại đến một nơi nào đó. Mặt khác, theo nhà sử học Trần Quốc

Vượng: “du lịch” là từ Hán – Việt, có thể coi là từ ghép giữa “du” là đi chơi với
“lịch” là sự lịch lãm, hiểu biết. Có quan niệm cho rằng, du lịch là một dạng hoạt
động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời
bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất
và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu
thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa.
Ngày nay, du lịch được xem là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, bao
gồm các hoạt động khá đa dạng tư dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lưu
niệm, hàng hóa… các dịch vụ này được gọi chung là hoạt động du lịch. Trên cơ sở
tổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch tại Việt Nam trong nhiều năm trở lại
đây, Luật Du Lịch năm 2017 đã định nghĩa hoạt động du lịch “là hoạt động của
khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân,
cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch.” (Khoản 3, Luật Du Lịch 2017)
6


Tại hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa – Canada (6/1991) đã đưa ra
định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngồi mơi trường
thường xun của mình trong một khoảng thời gian nhất định, mục đích của chuyến
đi khơng phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới
thăm”.
Luật Du Lịch do Quốc hội nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 đưa ra định nghĩa tại khoản
1 Điều 3 như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu
cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết
hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng có rất nhiều khái niệm về du lịch và
đều được định nghĩa theo nghĩa rộng, không phải tất cả các hoạt động đi lại khỏi nơi
cư trú đều là du lịch, việc du lịch được giới hạn lại bởi khơng gian, thời gian, mục

đích như tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng ở nơi khác, có thời gian cụ thể,
khi hết thời gian này thì chủ thể tham gia du lịch sẽ trở lại nơi xuất phát ban đầu
(nơi thường trú). Các hoạt động như đi xa vì công việc, đi chữa bệnh, đi du học…
đều không phải là du lịch. Khái niệm du lịch theo quy định của pháp luật của Việt
Nam được giới hạn hẹp với 4 mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng. Hay nói cách khác du lịch là phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực hiện sự
di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, từ nơi này đến nơi khác bằng bất kỳ
phương tiện nào với mục địch tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng có thời gian
cụ thể và có sự trở về nơi xuất phát ban đầu.

7


2.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH

2.1. Khái niệm của tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn
hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp
ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch văn hóa (khoản 4, điều 3, Luật Du Lịch 2017).
Tài nguyên du lịch được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và nhu cầu gián tiếp,
áp dụng vào việc sản xuất dịch vụ du lịch.
Hiện nay du lịch đang là một trong những ngành có định hướng tài nguyên
một cách vơ cùng rõ rệt. Khi đó tài ngun du lịch có vai trị như một yếu tố cơ bản
hay là điều kiện tiên quyết giúp hình thành cũng như phát triển về du lịch trong một
địa phương.
Tùy thuộc vào từng số lượng tài nguyên, chất lượng và các mức độ kết hợp
của chúng trên cùng địa bàn sẽ mang tới ý nghĩa khác nhau và đặc biệt đối với sự

phát triển của du lịch. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sức hấp dẫn về du lịch
của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn tài nguyên du lịch có trong
địa phương đó.

2.2. Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được chia thành 2 loại: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch văn hóa (Điều 15, Luật du lịch 2017).
2.2.1.

Khái niệm của tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và các yếu tố
có mức độ hấp dẫn cao, phản ánh mơi trường địa lý của chúng và có thể được định
giá cho mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên
nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự
nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch (Khoản 1, Điều 15, Luật Du
Lịch 2017).
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:
-

Tài nguyên địa hình – địa chất – địa mạo
Tài nguyên khí hậu
8


-

Tài nguyên nước
Tài nguyên sinh vật
2.2.1.1. Tài nguyên địa hình – địa chất – địa mạo

Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra tất cả các hoạt
động của con người. Nó được hình thành từ quá trình địa chất, địa mạo lâu dài.
Trong hoạt động du lịch, địa hình là cơ sở quan trọng để hình thành nên các loại tài
nguyên du lịch khác. Các dạng địa hình thích hợp cho sự phát triển các hoạt động
du lịch nổi bật như: địa hình đồng bằng, miền núi, địa hình vùng đồi, địa hình Karst,
địa hình ven bờ biển.
2.2.1.2. Tài ngun khí hậu
Tài ngun khí hậu được xác định nhằm mục đích khai thác phục vụ cho hoạt
động du lịch bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khơng khí, bức xạ mặt
trời. Khi khai thác tài nguyên khí hậu, ta cần đánh giá ảnh hưởng của nó đối với sức
khỏe của con người. Thơng thường, những khu vực có khí hậu ảnh hưởng tích cực
đến sức khỏe con người sẽ được nhiều du khách ưa thích và lựa chọn làm nơi nghỉ
ngơi.
2.2.1.3. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước bao gồm nước ngầm và nước mặt. Trong đó, nước mặt bao
gồm đại dương, biển, suối, thác nước là nguồn tài nguyên có ý nghĩa rất lớn đối với
hoạt động du lịch. Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm cũng rất thích hợp cho các hoạt
động du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh...
2.2.1.4. Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn động, thực vật có khả năng sử dụng nhằm
mục đích phát triển du lịch. Trong hoạt động du lịch, tài nguyên sinh vật có ý nghĩa
đặt biệt do tính đa dạng sinh học, tạo ra nhiều phong cảnh đẹp, sinh động. Tài
nguyên sinh vật bao gồm nhiều loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, du lịch bền
vững, du lịch nghỉ dưỡng...
2.2.2.

Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn động, thực vật có khả năng sử dụng nhằm
mục đích phát triển du lịch. Trong hoạt động du lịch, tài nguyên sinh vật có ý nghĩa

9


đặt biệt do tính đa dạng sinh học, tạo ra nhiều phong cảnh đẹp, sinh động. Tài
nguyên sinh vật bao gồm nhiều loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, du lịch bền
vững, du lịch nghỉ dưỡng (Khoản 2, Điều 15, Luật Du Lịch 2017).
Một dân tộc sẽ tiêu vong khi đánh mất bản sắc văn hóa. Giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc khơng chỉ để phát triển du lịch. Đó cịn là cách tốt nhất để bảo vệ độc
lập và chủ quyền lãnh thổ mà tổ tiên người Việt đã làm rất tốt mấy ngàn năm nay.
Văn hóa là khái niệm rất rộng, bao trùm mọi hành vi, ứng xử của con người trong
cuộc sống trong đó có du lịch.
Theo Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên thế giới (World Wide Fund For Nature WWF), Việt Nam xếp 30/140 quốc gia về tài nguyên văn hóa. Tổ chức giải thưởng
du lịch thế giới (World Travel Awards - WTA) đề cử Việt Nam là điểm đến văn hóa
hàng đầu của du lịch toàn cầu. Đa phần du khách, cả trong nước và quốc tế, đều
mong muốn được trải nghiệm những khác biệt về văn hóa Việt Nam và chưa được
thỏa mãn.
2.2.2.1. Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh
Du lịch tâm linh (Spiritual tourism) bản chất là một loại hình du lịch văn hóa
nên cịn được gọi là du lịch văn hóa tâm linh.
Loại hình này khai thác yếu tố văn hóa tâm linh làm cơ sở và mục tiêu đáp
ứng nhu cầu tâm linh của con người. Nói cách khác, đó là những hoạt động du lịch
về các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử, giá trị về tín ngưỡng, tôn
giáo và những giá trị tinh thần đặc biệt khác.
Du lịch văn hóa tâm linh được thể hiện qua việc con người di chuyển tới các
địa điểm, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng để tham quan, cúng bái, cầu nguyện hoặc tìm
hiểu về các triết lý, giáo phái.
Trong giai đoạn vừa qua, Du lịch Việt Nam chứng kiến giai đoạn tăng trưởng
mạnh mẽ với tỷ lệ ấn tượng trên 12% mỗi năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SARS
2003 và suy thoái kinh tế thế giới 2009). Năm 2012, với 6,8 triệu lượt khách quốc
tế, 32,5 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt 160.000 tỷ đồng. 10 tháng đầu

năm 2013 số khách quốc tế đạt 6,12 triệu lượt, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm
2012. Với tốc độ đó, ước tính 2013 Việt Nam sẽ đạt mốc 7,4 triệu lượt khách quốc
tế và 35 triệu lượt khách nội địa, tổng thu sẽ đạt 195.000 tỷ đồng (tương đương 9 tỷ
USD). Như vậy, chỉ sau 4 năm phục hồi suy thoái, lượng khách quốc tế đến Việt
10


Nam đã tăng gấp 2 lần, tổng thu du lịch tăng trên 2,2 lần. Với những chỉ tiêu tổng
thể đó thì mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2015 đã về đích
trước 2 năm. Đạt được kết quả tăng trưởng đó có sự đóng góp tích cực của du lịch
tâm linh với những kết quả đáng ghi nhận.

2.3. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch
Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống ngày càng tăng kéo
theo nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ cho các hoạt động phát triển cũng ngày
càng tăng cao. Mỗi ngành nghề khác nhau lại có yêu cầu khác nhau trong khai thác,
sử dụng các nguồn tài nguyên, nên việc phân chia các nhóm nguồn tài nguyên phục
vụ cho từng lĩnh vực cũng có xu hướng ngày càng cụ thể, chi tiết hơn. Sự phân biệt
rõ chức năng của mỗi nguồn tài nguyên phù hợp với từng lĩnh vực là nhằm giúp cho
công tác quản lý các nguồn tài nguyên được thuận lợi, hiệu quả hơn và tài nguyên
du lịch cũng được tiếp cận theo hướng đó.
Từ những phân tích trên cho thấy tài nguyên du lịch có giá trị quan trọng và
rất cần thiết cho sự phát triền và nâng cao chất lượng cuộc sống của các quốc gia
trong đó có Việt Nam. Để phát huy ở mức cao nhất các tác dụng của tài nguyên du
lịch thì việc bảo vệ nguồn tài nguyên này vừa là đòi hỏi mang tính khách quan vừa
là u cầu của cơng tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch.
Theo cách hiểu phổ thơng thì bảo vệ tài ngun du lịch là việc chống lại mọi
sự hủy hoại, xâm phạm đến các loại tài nguyên du lịch để giữ cho tài nguyên du lịch
được nguyên vẹn đúng như giá trị của nó. Cịn từ phương diện quản lý thì bảo vệ tài
nguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các nguồn tài nguyên du lịch

cần bảo vệ, xác định trách nhiệm của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và
bảo đảm phát triển du lịch bền vững. Nói cách khác, bảo vệ tài nguyên du lịch là
việc áp dụng đồng bộ các giải pháp về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nhằm bảo
tồn, giữ gìn và pháy huy có hiệu quả cao nhất giá trị của các tài nguyên du lịch. Bảo
vệ tài nguyên du lịch là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổ
chức cá nhân.
2.3.1.

Khái niệm về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch
11


Như đã đề cập, bảo vệ tài nguyên du lịch là nhu cầu cần thiết, khách quan, góp
phần bảo đảm phát triền kinh tế đất nước. Bảo vệ tài nguyên du lịch có thể được
thực hiện bằng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau, như biện pháp tuyên truyền,
giáo dục ý thức vảo vệ tài nguyên du lịch cho người dân, biện pháp khuyến khích
đầu tư phát triển tài nguyên du lịch và các biện pháp pháp lý về bảo vệ tài nguyên
du lịch.
Trong đó biện pháp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng
hành vi xử sự của con người đối với tài nguyên du lịch. Quá trình định hướng hành
vi bảo vệ tài nguyên du lịch được thực hiện thơng qua các quy định có tính nguyên
tắc về bảo vệ tài nguyên du lịch, quy định về những hành vi bị cấm, những hoạt
động được khuyến khích, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ tài
nguyên du lịch… Kết hợp khái niệm “tài nguyên du lịch” với những phân tích trên,
có thể đưa ra khái niệm pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch như sau: Pháp luật
bảo vệ tài nguyên du lịch dịch là tổng thể những quy phạm pháp luật, điều chỉnh các
quan hệ xã hội khi phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình tác động lên cảnh quan
thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hố, trong trình lao động sáng tạo
của con người và các giá trị nhân văn khác nhằm bảo vệ chúng khỏi sự xâm phạm

làm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói riêng và sự phát triền kinh tế, xã hội nói
chung.
So với pháp luật bảo vệ các nguồn tài nguyên khác, pháp luật bảo vệ tài
nguyên du lịch có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch là một bộ phận quan trọng
trong pháp luật về du lịch. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản,
điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có,
chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên khác có ý nghĩa đặc
biệt đối với sự phát triển du lịch. Hiện nay, một số loại tài nguyên du lịch đã và
đang bị xâm hại nghiêm trọng. Theo đó, để bảo vệ tài nguyên du lịch cần phải có
những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh. Pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch bao
gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo vệ các tài
nguyên du lịch nhằm làm cho ngành du lịch phát triển bền vững, trở thành ngành
kinh tế mũi nhon của đất nước. Chính vì vậy, nó khơng thể tách rời với pháp luật du
lịch.
12


Thứ hai, phạm vị điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch rất
rộng, liên quan đến nhiều loại tài nguyên du lịch khác nhau, nhiều chủ thể khác
nhau trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch và được thể hiện trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau. Chẳng hạn : Luật Di sản văn hóa năm 2013 quy định về
các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, xác định quyền và nghĩa vụ của
các tổ chức cá nhân đối với di sản văn hóa, Luật Lâm Nghiệm 2017 quy định về bảo
vệ các khu rừng đặc dụng, các vườn quốc gia, khu bảo tôn cảnh quan, quy định về
quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ di sản thiên
nhiên,… giữa các văn bản trên ln có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau
tạo thành hệ thống pháp luật chung bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch, từ tài
nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn.
Thứ ba, các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch điều

chỉnh rất đa dạng bao gồm: nhóm quan hệ phát sinh trong q trình khai thác và sử
dụng tài ngun du lịch, nhóm quan hệ hình thành trong hoạt động của các cơ quan
quản lý nhà nước về tài ngun du lịch, nhóm quan hệ hình thành giữa các tổ chức,
cá nhân khác trong bảo vệ tài nguyên du lịch, nhóm quan hệ về các biện pháp xử lý
đối với những hành vi xâm hại đến tài nguyên du lịch. Các chủ thể liên quan đều có
trách nhiệm bảo vệ các tài nguyên du lịch. Đối với từng nguồn tài ngun du lịch cụ
thể cịn có các quy định cụ thể về bảo vệ tài nguyên du lịch đó.

2.4. Nội dung và nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên
du lịch
Xuất phát từ tính đa dạng của của các loại tài nguyên du lịch, đa dạng về các
chủ thể trong quan hệ bảo vệ tài nguyên du lịch nên pháp luật về bảo vệ tài nguyên
du lịch cũng có khá nhiều nội dung.
Những nội dung có tính ngun tắc của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch
là những nội dung mang tính tu tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và tổ chức thực
hiện các quy định cụ thể của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch.
Bảo vệ tài ngun du lịch được hiểu là ln giữ gìn nguyên vẹn các nguồn tài
nguyên du lịch trong quá trình diễn ra các hoạt động của con người tác động vào
chúng, đưa ra các biện pháp phòng, chống nhằm ngăn chặn những tác động từ thiên
nhiên có thể xâm hại đến tài nguyên du lịch, đấu tranh và xử lý nghiêm minh đối
13


với những thành phần gây hại đến các nguồn tài ngun du lịch. Cịn q trình tơn
tạo tài ngun du lịch là một trong những hình thức thiết yếu trong việc duy trì sự
tồn tại của các nguồn tài nguyên du lịch. Tôn tạo là việc sửa chữa những chỗ bị hư
hỏng, mai một của một tài nguyên du lịch nào đó, khơi phục lại những giá trị vốn có
của tài nguyên du lịch khiến cho tài nguyên du lịch đó được bảo lưu lâu dài hơn,
bền vững hơn.
Khơng chỉ dừng lại ở việc bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch một cách thụ

động, các hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên du lịch cũng cần được chú ý.
Khai thác hợp lý tài nguyên du lịch là việc con người sử dụng các nguồn tài nguyên
vào mục đích phục vụ cho phát triền kinh tế du lịch, song cần khai thác sử dụng nó
một cách khoa học, trên cơ sở vừa sử dụng đủ và đúng mục đích nhưng vẫn giữ
nguyên vẹn giá trị của nguồn tài nguyên du lịch đó, để việc sử dụng được diễn ra
bền vững, ổn định, tránh tình trạng lạm dụng khai thác triệt để, tài nguyên không
kịp phục hồi hay bị mất hẳn. Có thể thấy bên cạnh cơng tác bảo vệ tài ngun du
lịch thì ln cần có sự có mặt của cộng tác tôn tạo và các hành động khai thác hợp
lý tài nguyên du lịch. Chỉ có như thế thì việc bảo vệ tài nguyên du lịch mới đạt được
hiệu quả cao. Những hành động bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp lý tài nguyên du lịch
được thể hiện trước hết ở các văn bản pháp luật có hiệu lực thi hành, cùng với đó là
những hành động cụ thể của toàn dân.
Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước. Nội
dung này cũng được xem là mang tính nguyên tắc của bảo vệ tài nguyên du lịch.
Chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh:
Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mơ
tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều chỉnh những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp và
pháp luật. Nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình đối với xã hội bằng pháp
luật. Các lợi ích kinh tế, chính trị và xã hội được thể chế hóa bằng pháp luật và được
pháp luật bảo vệ. Do đó mà pháp luật ln do nhà nước ban hành và đảm bảo thực
hiện, nó là cơng cụ điều chỉnh các quy tắc xử sự, hành vi của con người có hiệu lực
nhất. Mặt khác pháp luật quy định những biện pháp nhằm ngăn chặn, trừng phạt
14


những hành vi trái các quy định mà pháp luật quy định. Chính vì thế mà quản lý nhà
nước đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đời sống xã hội nói chung, bảo

vệ tài nguyên du lịch nói riêng. Trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên du lịch, vai trò của
quản lý nhà nước càng trở nên quan trọng và cần thiết, vì xét cả từ khía cạnh bản
chất tự nhiên và bản chất pháp lý, tài ngun du lịch được xem là một loại “hàng
hóa cơng cộng”, phục vụ đời sống tinh thần của đông đảo người dân nên Nhà nước
là đại diện “đương nhiên” trong việc quản lý nguồn tài nguyên này.
Tính thống nhất trong quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên du lịch được thể
hiện qua việc Nhà nước ban hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về
bảo vệ tài nguyên du lịch thống nhất, mang tính bắt buộc chung trong toàn xã hội;
thành lập một hệ thống thống nhất các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ tài
nguyên du lịch từ trung ương đến địa phương; xác định thống nhất các nội dung,
cách thức, biện pháp quản lý tài nguyên du lịch.
Bảo vệ tài nguyên du lịch vừa là mục tiêu, vừa là nội dung cơ bản của sự phát
triển bền vững ngành Du lịch. Như đã phân tích ở trên, bảo vệ tài nguyên du lịch có
ý nghĩa quyết định đối với phát triển du lịch nói chung, phát triển ngành Du lịch nói
riêng. Điều này có ý nghĩa là mọi đường hướng phát triển ngành Du lịch đều coi
nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên du lịch là trọng tâm. Mọi chiến lược, dự án, quy hoạch
về phát triển du lịch đều phải có nội dung bảo vệ tài nguyên du lịch cũng như việc
thực hiện chiến lược, dự án, quy hoạch phát triển du lịch phải căn cứ vào các quy
định pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch.
Bảo vệ tài nguyên du lịch phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế
tác động xấu đối với tài nguyên du lịch là chính, kết hợp với khắc phục những hậu
quả của việc xâm phạm đến tài nguyên du lịch; kết hợp với đầu tư của Nhà nước
với đẩy mạnh nguồn lực trong xã hội trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch. Cũng
như các nguyên tắc chung về bảo vệ môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với tài nguyên du lịch bao giờ cũng
tiết kiệm hơn, bền vững hơn so với khắc phục hậu quả gây ra đối với tài nguyên du
lịch. Nhiệm vụ của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch là phải quy phạm hóa các
biện pháp phòng ngừa ngay từ khâu lập kế hoạch, phân vùng phát triển du lịch đến
việc khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch… Bên cạnh đó, việc xã hội hóa các


15


nguồn lực bảo vệ tài nguyên du lịch cũng được xem là biện pháp góp phần hiện
thực hóa nguyên tắc “bảo vệ tài nguyên du lịch là sự nghiệp của toàn dân”.
Bảo vệ tài nguyên du lịch là quyền lợi và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý
nhà nước, cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân, là biểu hiện của nếp sống có văn
hóa, đạo đức là tiêu chí đánh giá quan trọng của xã hội văn minh.
Bên cạnh những yêu cầu mang tính pháp lý về bảo vệ tài nguyên du lịch như
đã phân tích ở trên (trong đó quy định cụ thể phạm vi quyền, quyền lợi, nghĩa vụ
của người dân, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành của Nhà nước
về bảo vệ tài nguyên du lịch), bảo vệ tài nguyên du lịch cịn là những địi hỏi mang
tính đạo đức, thể hiện cách ứng xử văn hóa, văn minh của con người đối với những
giá trị nhân văn của tài nguyên du lịch. Chương trình “Đi xuyên Việt để bảo vệ
rừng” do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam tổ chức; Chương trình
“Một triệu cây xanh cho Việt Nam” do Tổng cục Mơi trường phát động; Chương
trình “Hành động giai đoạn 2014 - 2020 triển khai thực hiện Quyết định số
1570/2013/QĐ-TTg ngày 6/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hịa... là
những ví dụ điển hình về cách ứng xử đầy tính nhân văn đối với tài nguyên du lịch.
2.4.1.

Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ tài

nguyên du lịch
Nhà nước đóng vai trị quan trọng trong việc quản lý xã hội nói chung, quản lý
tài nguyên du lịch nói riêng. Bên cạnh việc ban hành các quy định pháp luật về quản
lý tài nguyên du lịch là việc hình thành tổ chức bộ máy thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ theo quy định.

Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp là những cơ quan có thẩm quyền
chung trong lĩnh vực quản lý bảo vệ tài nguyên du lịch. Trong những năm qua, nhờ
sự chỉ đạo thường xuyên, chiến lược phát triển đúng đắn của Chính phủ và Ủy ban
nhân dân các cấp mà lĩnh vực du lịch nói chung, bảo vệ tài nguyên du lịch nói riêng
ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất
của nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ chịu trách nhiệm trước
Quốc hội về hoạt động du lịch trên cả nước, đồng thời đề ra các chủ trương biện
16


pháp hiệu quả để khai thác và phát triển du lịch Việt Nam. Chính phủ sẽ quyết định
chính sách cụ thể về bảo vệ tài nguyên du lịch, phân công nhiệm vụ, quyền hạn của
các bộ, ngành liên quan đến bảo vệ tài nguyên du lịch, quyết định xếp hạng các di
tích quốc gia đặc biệt... Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập bảo tàng
quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; quyết định việc cho phép đưa các bảo vật quốc
gia ra nước ngoài, quyết định phê duyệt các kế hoạch quy hoạch tổng thể phát triển
ngành, vùng, địa bàn du lịch trọng điểm, khu du lịch quốc gia... Trước đó, Luật Lâm
Nghiệp 2017 cũng có quy định về trách nhiệm của Chính phủ trong việc quản lý
nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng: “Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, tổ chức
quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm các diện tích rừng có chủ” (Khoản 1, Điều 24, Luật
Lâm Nghiệp 2017). Việc quy định rõ chức năng, trách nhiệm riêng biệt của từng
cấp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch thực sự trở thành nền kinh tế mũi nhọn, mở
rộng và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch trong nước và phát triển du lịch quốc
tế.
Ủy ban nhân dân các cấp với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước ở địa
phương nên cũng có vai trị khơng nhỏ trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch. Trách
nhiệm quản lý, bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch của các cơ quan quản
lý nhà nước, Ủy ban nhân dân được quy định ở Luật Du lịch năm 2017, theo đó “Cơ
quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban

nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý tài nguyên du lịch, phối hợp trong việc bảo
vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch” (Khoản 1, Điều 17,
Luật Du Lịch 2017).
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và
theo sự phân cấp của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà
nước về du lịch tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế,
chính sách phát triển bảo vệ tài nguyên du lịch phù hợp với thực tế ở địa phương và
có biện pháp bảo đảm an tồn, trật tự, an tồn xã hội tại khu du lịch, điểm du lịch,
đơ thị du lịch, tuyến du lịch. Bên cạnh Luật Du Lịch 2017, Luật Lâm Nghiệp 2017
cũng có nhiều quy định về quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh
vực bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân các cấp: “ Cơ quan nhà nước, tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy
định của Luật này, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, đa
17


dạng sinh học, bảo vệ va kiểm dịch thực vật, thú y và quy định khác của pháp luật
có liên quan” (Khoản 1, Điều 43, Luật Lâm Nghiệp 2017).
Cụ thể hơn là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cịn có quyền tổ chức, lập quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp quyết định sau khi có ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về du
lịch ở trung ương, xác định quỹ đất dành cho cơng trình, kết cấu hạ tầng du lịch, cơ
sở vật chất - kỹ thuật du lịch trong đô thị, công bố khu du lịch địa phương, điểm du
lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương sau khi có quyết định công nhận, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc thực hiện tổ chức lập hồ sơ khoa học di
sản văn hóa phi vật thể ở địa phương để bảo vệ và phát triển giá trị. Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm kê di tích ở địa phương và lựa chọn, lập hồ sơ khoa
học để quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
xếp hạng di tích quốc gia.
Bên cạnh các cơ quan có thẩm quyền chung thì các cơ quan có thẩm quyền

chun mơn cũng đóng vai trị quan trọng trong việc bảo vệ tài ngun du lịch. Ở
cấp Trung ương đó chính là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chuyên môn trực
thuộc Bộ. Nghị định số 76/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ
quy định về nhiệm vụ, quyền hạn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với lĩnh vực
du lịch, gồm: Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về thành lập bảo tàng quốc
gia, bảo tàng chuyên ngành thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; xếp hạng và
điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt; phê duyệt chủ trương,
nhiệm vụ và đồ án quy hoạch tổng thể di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia có
quy mơ đầu tư lớn, xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I, điều chỉnh khu vực
bảo vệ đối với di tích quốc gia, hướng dẫn thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, điều kiện
thành lập và hoạt động của cơ sở giám định cổ vật, chủ trì, phối hợp với các cơ
quan, tổ chức liên quan xây dựng cơ chế chính sách huy động, quản lý, sử dụng các
nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa (7, Điều 2).
2.4.2.

Quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo bệ tài nguyên

du lịch
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2013, tổ chức, cá nhân quản lý trực tiếp di sản
văn hóa có các quyền và nghĩa vụ: bảo vệ, giữ gìn di sản văn hóa, thực hiện các
biện pháp phịng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hóa,
18


thông báo kịp thời cho chủ sở hữu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần
nhất khi di sản văn hóa bị mất hoặc có nguy cơ bị hủy hoại, tạo điều kiện thuận lợi
cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hóa; thực hiện các
quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (Điều 14, Luật Di Sản Văn Hóa
2013)
Luật Lâm Nghiệp 2013 quy định: “Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý

rừng đặc dụng được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng” (Điều 8, Luật
Lâm Nghiệp 2013).
Như vậy, để thực hiện tốt công tác bảo vệ tài nguyên du lịch trong quá trình
tiến hành các hoạt động du lịch, trách nhiệm này của các doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành mang ý nghĩa to lớn. Cùng với hoạt động hướng dẫn du khách tham quan
các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh hay thưởng thức cái đẹp tự nhiên, các
hướng dẫn viên du lịch cũng đồng thời là những người tuyên truyền, phổ biến các
quy định về bảo vệ tài nguyên du lịch, ngăn cản những hành vi gây tác động xấu
cho môi trường nơi tiến hành du lịch của du khách.
Như trên đã phân tích, tài nguyên du lịch của Việt Nam hết sức phong phú,
bao gồm từ cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, cơng
trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Sự phong phú về các nguồn tài nguyên du lịch
kéo theo sự đa dạng về các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh dịch vụ du
lịch. Cùng với các công ty lữ hành, cơ sở lưu trú, các doanh nghiệp vận chuyển
khách du lịch, những chủ thể kinh doanh dịch vụ tại bãi tắm, chủ thể kinh doanh
trong rừng đặc dụng hay các tổ chức, cá nhân kinh doanh tại các hoạt động xã hội,
liên hoan du lịch (gọi chung là những chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch khác) cũng
có trách nhiệm nhất định trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch. Đối với loại hình du
lịch biển đảo thì việc bảo vệ tài nguyên ở biển, bãi tắm là rất quan trọng. Theo đó,
các chủ thể này cũng phải có trách nhiệm trong hoạt động để bảo vệ tài nguyên du
lịch, không được tiến hành các hoạt động gây ảnh hưởng hay làm xấu đến tài
nguyên du lịch biển, không được đánh bắt thủy sản, neo đậu phương tiện bắt thủy
sản tại các bãi tắm. Đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch trong rừng đặc
dụng thì cần phải tn thủ các quy định khơng đánh bắt, bẫy, bắt động vật hoang dã
theo quy định của pháp luật; không tổ chức các hoạt động gây tiếng ồn và quấy
19


nhiễu hoạt động bình thường của lồi động vật hoang dã; không đưa thực vật lạ vào

chăn thả, nuôi trồng ở khu, điểm du lịch; khơng mang hóa chất độc hại, chất nổ,
chất dễ gây cháy rừng, thường xuyên phổ biến, giáo dục cho du khách, cộng đồng
dân cư trong khu, điểm du lịch về bảo vệ đa dạng sinh học, phịng và chống cháy
rừng. Ngồi ra trong q trình tiến hành các hoạt động lễ hội, liên hoan du lịch, ban
tổ chức phải khoanh vùng, hạn chế khách du lịch vào tham quan khu du lịch có hệ
sinh thái nhạy cảm, có biện pháp tránh tập trung lực lượng khách quá lớn tại một
thời điểm để tránh những tác động xấu có thể xảy ra đối với tài nguyên du lịch.
Có thể nói, pháp luật đã quy định khá rõ ràng và cụ thể trách nhiệm của các tổ
chức kinh doanh dịch vụ du lịch. Những quy định trên vừa tạo nên sự phối hợp
đồng bộ giữa các chủ thể trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch, đồng thời tránh được
tình trạng trơng chờ, ỷ lại trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch.

20


3.

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHU DU LỊCH

3.1. Khái niệm của khu du lịch
Hiện nay, ngành du lịch của chúng ta đang ngày càng phát triển, Nhà nước và
các cơ quan đồn thể có thẩm quyền liên quan khơng ngừng đưa ra những phương
án phát triển đối với ngành du lịch. Trong đó, các khu du lịch đều được chú trọng và
quy hoạch, để nâng cao được sự phát triển của ngành thì các cá nhân làm trong
ngành cần phải hiểu rõ bản chất của mọi vấn đề trong ngành, trong đó yếu tố quen
thuộc, tưởng chừng như cơ bản nhất là “khu du lịch” thì lại rất nhiều người không
hiểu bản chất của thuật ngữ này.
Theo điều 3 của Luật Du Lịch được ban hành vào năm 2017 thì có định nghĩa
cơ bản về khu du lịch chính là một trong nhữngđịa điểm có chứa tài nguyên về du
lịch vô cùng hấp dẫn và thu hút, cùng với nhiều ưu thế quan trọng về mặt tài nguyên

trong môi trường tự nhiên. Địa điểm này được quy hoạch và thu hút các nhà đầu tư
phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu vô cùng đa dạng của con người, khách du
lịch, từ đó có thể mang tới những hiệu quả thiết thực về mặt kinh tế - xã hội và mơi
trường.
Theo nguồn ý kiến khác thì khu du lịch chính là một đơn vị của các cơng tác
thự hiện về vấn đề quy hoạch cũng như là quản lý đối với ngành du lịch. Đây là một
không gian lớn có nền tảng là mơi trường tự nhiên đẹp, các cảnh quan xung quanh
đẹp mắt, được con người khai thác và cải tạo để đảm bảo nhu cầu khám phá và thư
giãn của khách du lịch.

3.2. Điều khiện để trở thành khu du lịch
Không phải bất cứ địa điểm nào cũng được coi là khu du lịch mà nó phải có
điều kiện cụ thể. Vậy thì một khu vực hoặc địa điểm có thể trở thành khu du lịch
cần thỏa mãn những điều kiện như thế nào?
-

Địa điểm đó có tài ngun với quy mơ được quy đinh và có đặc điểm mang tính tập

-

trung một cách tương đối.
Địa điểm đó các cơ sở giúp đáp ứng về các khía cạnh trong du lịch như: điều kiện
về ăn uống, điều kiện về chổ ở, điều kiện về giao thông đi lại dành cho khách du
lịch, điều kiện về các loại hình dịch vụ, điều kiện về khu vui chơi và mua sắm…

21


Đối với điều kiện này thì chúng cần phải phân tích một cách kỹ càng hơn như
sau:

-

Tại địa điểm đó có nguồn tài nguyên du lịch chiếm ưu thế và có sự hấp dẫn đặc biệt
đối với các mặt: cảnh quan của thiên nhiên đẹp mắt, thu hút, địa điểm đó có khả

-

năng thu hút đối với lượng khách du lịch.
Về mặt diện tích đất quy hoạch trong khu du lịch thì cần phải rộng lớn, ít nhất phải
đạt được là 1.000 ha, trong đó thì cần phải phân chia và quy hoạch hợp lý đối với
các khu vực để có thể xây dựng lên các cơng trình thiết thực. Tạo ra được những cơ
sở về dịch vụ có sự phù hợp đối với các cảnh quan thiên nhiên và mơi trường xung
quanh trong khu du lịch đó.
Đối với các trường hợp mà khu vực đó có địa điểm nhở hơn 1.000 ha thì cần
phải được các cơ quan quản lý của Nhà nước có thẩm quyền trong ngành du lịch
xem xét và kiểm tra.
Về mặt hạ tầng và mặt cơ sở vật chất của địa điểm thì khu vực đó cần đảm bảo
về tính đồng bộ, nâng cao khả năng cung cấp các dịch vụ, đảm bảo về khả năng
phục vụ cho một triệu khách du lịch tới tham quan nghỉ dưỡng hàng năm. Trong số
đố thì cơ sở lưu trú của khu vực và các dịch vụ cần thiết cần phải có sự phù hợp với
nhu cầu và đặc điểm của từng đối tượng khách du lịch.
Lưu ý đối với các khu vực được công nhận là khu du lịch mang tầm cỡ và quy
mô cấp địa phương thì cần phải thỏa mãn những điều kiện cơ bản như sau:
Khu vự đó cần phải có nguồn tài nguyên về ngành du lịch đa dạng, có sức hút
đối với khách du lịch và có thể thu hút lượng khách đơng đảo đến khám phá.
Khu vự đó cần phải có diện tích đảm bảo tối thiểu là 200ha, trong diện tích
này thì cần phải đảm bảo về việc có thể xây dựng được những cơng trình và các cơ
sở cung cấp các loại hình dịnh vụ trong ngành du lịch một cách ổn địch và đủ.
Khu vực đó cần phải có tiềm năng và tài nguyên thu hút khách du lịch, đảm
bảo về mặt cơ sở lưu trú, có những dịch vụ cần thiết, có nét độc đáo về văn hóa bản

sắc riêng của địa phương đó.
Khu vực đó cần phải đảm bảo thu hút và cung cấp dịch vụ trải nghiệm du lịch
cho tối thiểu là 100.000 lượt khách du lịch đến hàng năm.
Với những điều kiện này thì một khu vực, địa điểm sẽ được công nhận là khu
du lịch và có điều kiên để phát triển cơ hội, phát triền khả năng thu hút khách du
22


lịch và trở thành một trong những khu du lịch có tiềm năng phát triền (Điều 26,
Luật Du Lịch 2017)

3.3. Phân loại khu du lịch
Hiện nay các loại hình du lịch được phân ra theo rất nhiều tiêu chí khác nhau
như phân loại theo mục đích thuần túy (Du lịch nghỉ dưỡng, khu sinh thái, Du lịch
văn hóa, lịch sử…), phân loại du lịch theo phạm vi lãnh thổ (Du lịch quốc tế, du lịch
nội địa), phân loại theo đặc điểm địa lý (Du lịch biển, du lịch núi, du lịch thơn
q…), phân loại du lịch theo hình thức tổ chức (du lịch có tổ chức theo đồn, du
lịch cá nhân, gia đình).
Trong các khu du lịch cũng sẽ được Nhà nước xếp hạng chi tiết, theo đó có hai
cấp cụ thể như sau: cấp tỉnh và cấp Quốc gia. Ở mỗi cấp độ khác nhau sẽ được lập
theo tiêu chí riêng, dựa vào quy mơ quy hoạch và mức độ thu hút các khách tới khu
du lịch, dựa vào chất lượng về mặt dịch vụ cũng như là khả năng mà khu du lịch đó
có thể cung cấp các loại sản phẩm dịch vụ.
3.3.1.

Khu du lịch cấp tỉnh

3.3.1.1. Điều kiện công nhận khu du lịch cấp tỉnh
Để một khu du lịch được công nhận là khu du lịch cấp tình thì khu du lịch đó
cần phải đạt được những yêu cầu của pháp luật (Điều 26, Luật Du lịch 2017).

Là một khu du lịch cấp tỉnh được công nhận hợp pháp thì phải có tài ngun
với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định một
cách rõ ràng và minh bạch. Các kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ
phải đáp ứng đủ nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu phát sinh của khách du
lịch. Ngồi ra, khu du lịch cịn cần có hệ thống kết nối với hệ thống hạ tầng giao
thông và viễn thông quốc gia. Để đảm bảo vấn đề môi trường tại khu du lịch, khu
du lịch cấp tỉnh cần phải có hệ thống an ninh, trật tự để dễ dàng giải quyết những
vấn đề phát sinh đột ngột của khách du lịch khi khách du lịch tham quan. Bảo đảm
an toàn cho bản thân khách du lịch và nhân viên tại khu du lịch. Bảo đảm, giữ gìn
vệ sinh môi trường theo đúng quy định của bộ Luật được nhà nước ban hành. Cải
thiện môi trường, tránh làm ô nhiễm khu du lịch làm ảnh hưởng tới chất lượng tham
quan của khách du lịch (Điều 26, Luật Du lịch 2017).
23


Theo điều 32, nghị định dự thảo/2018/NĐ – CP về điều kiện công nhận khu du
lịch cấp tỉnh:
Khu du lịch phải có các di sản văn hóa vật thể có giá trị tiêu biểu của địa
phương được công nhận là di tích cấp tỉnh. Ngồi ra, khu du lịch cần phải có cảnh
quan thiên nhiên hoặc khu vui chơi giải trí tiêu biểu của địa phương. Khu du lịch
phải đáp ứng đủ các cơ sở vật chất kỹ thuật theo đúng quy định của luật pháp được
ban hành. Khu du lịch phải có hệ thống cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 01 – 02 sao.
Xây dựng hệ thống nhà hàng đáp ứng đủ tiêu chuẩn phục vụ của khách du lịch. Khu
du lịch phải có hệ thống khu vui chơi giải trí cho mọi đối tượng khách du lịch. Xây
dựng hệ thống trung tâm thương mại và mua sắm đạt tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu
của khách du lịch. Cung cấp và đào tạo dịch vụ hướng dẫn viên, thuyết minh viên
tại chỗ để trợ giúp và hướng dẫn khách du lịch trong và ngồi nước có nhu cầu tham
quan khu du lịch (điểm b, khoản 1, Điều 25).
Phải đáp ứng đủ điều kiện đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh mơi trường của
Nhà nước. Có hệ thống trung tâm thông tin và hỗ trợ khách du lịch có nhu cầu. Phải

có biển chỉ dẫn, biển báo tại các khu vực nguy hiểm, cần lưu ý, hướng dẫn khách du
lịch tại nơi tham quan. Nhân viên tại khu du lịch phải biết nội quy của Nhà nước nói
chung và nội quy của khu du lịch nói riêng. Khu du lịch phải phổ biến nội quy hoặc
có hệ thống bảng nội quy cho khách du lịch. Xây dựng hệ thống hotline, cứu hộ,
cứu nạn giải quyết các trường hợp khẩn cấp, nguy hiểm phát sinh. Khu du lịch phải
có nhà vệ sinh cơng cộng đạt tiêu chuẩn tại phân khu chức năng và các điểm tham
quan theo sức chứa. Cung cấp hệ thống thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý nước
thải, chất thải rắn và rác thải sinh hoạt. Quan trọng nhất vẫn là phải đạt đủ tiểu
chuẩn, có lượng khách lưu trú đạt mức tối thiểu 100.000 (một trăm nghìn) lượt mỗi
năm trong 3 năm liền kề.
3.3.1.2. Hồ sơ, trình tự, thủ tục, thầm quyền cơng nhận khu du lịch cấp tỉnh
Khi khu du lịch đã đáp ứng đủ các yêu cầu về cơ sở hạ tầng của quy định luật
du lịch tại điều 25 của bộ Luật Du Lịch 2017 thì khu du lịch phải nộp đơn đề nghị
công nhận khu du lịch cấp tỉnh theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch quy định cùng với bản thuyết minh về điều kiện công nhận khu du lịch cấp tỉnh.
Hồ sơ cơng nhận phải được nộp theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền:
24


-

Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc tổ chức quản lý khu du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến

-

cơ quan chun mơn về du lịch cấp tỉnh nơi có khu du lịch.
Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về

-


du lịch cấp tỉnh thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định công nhận khu du lịch cấp tỉnh, trường hợp từ chối, phải trả lời

-

bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với khu du lịch nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp huyện trở lên, cơ
quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch cấp
tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hội đồng thẩm định, quyết định công nhận

-

khu du lịch cấp tỉnh.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi quyết định công nhận khu du lịch cấp tỉnh trong
trường hợp khu du lịch khơng cịn bảo đảm điều kiện quy định.
3.3.2.

Khu du lịch cấp quốc gia

3.3.2.1. Điều kiện công nhận khu du lịch cấp quốc gia
Khu du lịch muốn được công nhận là khu du lịch cấp quốc gia phải đáp ứng
đủ các tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng, các quy định có tại Điều 26 luật Du lịch 2017.
Khu du lịch phải có tài nguyên đa dạng, đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh
quan thiên nhiên hoặc giá trị văn hóa, có ranh giới xác định rõ ràng đúng theo pháp
luật quy định. Khu du lịch phải có trong danh mục các khu vực tiềm năng phát triển
khu du lịch quốc gia được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Ngồi ra
khu du lịch phải có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ chất lượng cao,
đồng bộ, đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các nhu cầu phát sinh khác của khách
du lịch. Khu du lịch phải xây dựng được hệ thống kết nối với hệ thống hạ tầng giao

thông, viễn thông quốc gia. Để đảm bảo an toàn cho khách du lịch và trật tự tại khu
du lịch, khu du lịch phải đáp ứng đủ điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Khu du lịch cịn phải có hệ thống xử lỷ rác thải, bảo vệ môi trường theo đúng quy
định nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường tại khu du lịch của pháp luật. (Khoản 2,
Điều 26 luật Du lịch 2017).
Theo điều 33 Nghị định dự thảo của Chính phủ 2018 hướng dẫn thi hành Luật
Du lịch 2018 chi tiết điều kiện công nhận khu du lịch cấp quốc gia thì khu du lịch
có được cơng nhận là khu du lịch cấp quốc gia phải sở hữu tài nguyên du lịch hấp
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×