ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC BÁCH
KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HÔỊKHOA HOC
ĐỀ TÀI
DÂN CHỦỦ̉ VÀ DÂN CHỦỦ̉ XÃÃ̃ HỘI CHỦỦ̉ NGHĨÃ̃A. LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC
THỰC HIỆN DÂN CHỦỦ̉ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY
LỚP: L13--- NHÓM: 09 --- HK 211
NGÀY NỘP 28/09/2021
Giảng viên hướng dẫn: ThS.Đăngg̣ Kiều Diễm
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thành Nhân
Phạm Ngọc Quân
Lê Duy Tân
Lê Minh Quân
Đào Lưu Hiệp
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL
Mơn: CHỦỦ̉ NGHĨÃ̃A XÃÃ̃ HỘI KHOA HỌC (MSMH: SP1035)
Nhóm/Lớp: L13 Tên nhóm: 09 HK 211 Năm học 2021-2022
Đề tài:
……………………………………......................................................................
.....................
.....................................................................................................
ST
T
1
2
3
4
5
Họ và tên nhóm trưởng: Huỳnh Thành Nhân Số ĐT: 0972022587
Email:
NHĨM TRƯỞNG
(ghi rõ họ tên, ký tên)
Huỳnh Thành Nhân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................3
1. Lý do chọn đềề̀ tài.........................................................................................3
2. Nhiệm vụ của đềề̀ tài.....................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................4
Chương 1. DÂN CHỦỦ̉ VÀ DÂN CHỦỦ̉ XÃÃ̃ HỘI CHỦỦ̉ NGHĨÃ̃A...................4
1.1.
Dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ................................4
1.1.1. Quan niệm về dân chủ..................................................................4
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của dân chủ.............................................5
1.2.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa............................................................... 8
1.2.1. Quá trình ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa....................8
1.2.2. Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa..............................11
Chương 2. LIÊN HỆ VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦỦ̉ TRONG TRƯỜNG
ĐẠI HỌC HIỆN NAY..................................................................................13
2.1. Đặc điểm việc thự hiện dân chủ trong trường đại học hiện nay:...13
2.1.1. Dân chủ trong phương pháp giảng dạy.....................................13
2.1.2. Dân chủ trong phương pháp học tập.........................................14
2.2 Thực trạng việc thực hiện dân chủ trong trường đại học hiện nay
16
2.2.1. Những mặt đạt được và nguyên nhân........................................16
2.2.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân..........................................21
2.3.
Giải pháp phát huy dân chủ trong trường đại học hiện nay.....27
KẾT LUẬN........................................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................34
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đềề̀ tài
Đảng và nhà nước ta đã thực thi một nền dân chủ rộng rãi khắp mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, trong đó có dân chủ trong giáo dục, bởi “khơng có giáo dục, khơng có
cán bộ thì cũng khơng nói gì đến kinh tế văn hóa”. Giáo dục là một mặt trận quan
trọng, thực hiện mục đích “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” để
góp phần phát triển đất nước. Cho nên thiếu dân chủ trong giáo dục sẽ kìm hãm sự
phát triển của nguồn nhân lực- động lực quan trọng nhất, quyết định nhất của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thiếu dân chủ trong giáo dục sẽ làm giảm chất lượng
của nguồn nhân lực, nó sẽ đi ngược lại với xu thế phát triển của thời đại - xu thế đầu tư
vào con người.
Trong những năm gần đây, việc thực hiện dân chủ trong các trường đại học của
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tuy nhiên những hạn chế, bất cập vẫn còn
tồn tại. Trong các trường đại học vẫn cịn tình trạng mất dân chủ, dân chủ hình thức,
dân chủ quá trớn hoặc lợi dụng dân chủ để trục lợi cá nhân, xúi giục những hành động
vi phạm pháp luật, vi phạm dân chủ.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề dân chủ trong giáo dục, chúng em đã
lựa chọn đề tài “Dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Liên hệ việc thưc hiện dân
chủ trong trương đại học hiện nay” để làm bài tập lớn môn Chủ nghĩa khoa học xã
hội. Thực hiện tốt đề tài này sẽ góp phần phát triển nền giáo dục Việt Nam, tạo ra
nguồn nhân lực với tri thức dồi dào trên con đường phát triển đất nước.
2. Nhiệm vụ của đềề̀ tài
Để thực hiện đề tài này, chúng em tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ
- Làm rõ dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Làm rõ thực trạng thực hiện dân chủ trong trường đại học hiện nay
- Đánh giá thực trạng (ưu điểm, hạn chế)
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao việc thực hiện dân chủ
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. DÂN CHỦỦ̉ VÀ DÂN CHỦỦ̉ XÃÃ̃ HỘI CHỦỦ̉ NGHĨÃ̃A
1.1. Dân chủ và sự ra đời, phát triển của dân chủ
1.1.1. Quan niệm về dân chủ
Dân chủ là sản phẩm phản ánh tính chất các mối quan hệ xã hội, trình độ và yêu
cầu phát triển của xã hội, nhất là mối quan hệ, trình độ và yêu cầu phát triển kinh tế. Từ
quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm về hình thái kinh tế - xã
hội và mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng, dân chủ được các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Marx - Lenin lý giải một cách khoa học, nhất là về cơ sở,
nguồn gốc, bản chất và yếu tố ảnh hưởng của nó. Bởi vì, “Trong sự sản xuất xã hội ra
đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, khơng tùy thuộc
vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một
trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những
quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên
đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị”(1). Và “hình thái sản xuất
đều sản sinh ra những quan hệ pháp lý, những hình thức quản lý, v.v., riêng của nó”(2).
Dân chủ - quyền làm chủ của con người trong xã hội - luôn dựa trên những cơ sở hiện
thực của nó, nhất là cơ sở kinh tế. “Quyền khơng bao giờ có thể ở một mức cao hơn
chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”(3).
“Khơng thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà
nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích
những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái
đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”(4). Hơn nữa, “bất cứ nền dân chủ
nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản
xuất trong một xã hội nhất định quyết định”(5).
Dân chủ là cách nói tắt về chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ. Theo quan điểm
của chủ nghĩa Marx - Lenin, chế độ dân chủ là chế độ chính trị, trong đó, tồn bộ
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua
đại diện do nhân dân bầu ra.
Dân chủ là khát vọng ngàn đời của nhân loại; là động lực, mục tiêu của sự phát
triển trong công cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng con người. Có thể thấy, trong
xã hội đã có nhiều người viết và nói về vấn đề “dân chủ” rất hay. Song, để đi vào cuộc
sống thì lại khơng đơn giản. Người dân chỉ mong muốn giản dị là được quyền phát
biểu chính kiến của mình, nói đúng nguyện vọng của mình, nói thật thực trạng mình
đang chứng kiến, làm những điều gì có lợi cho mình, đồng bào mình, dân tộc mình. Có
thể khẳng định, đó là bản chất cơ bản nhất của dân chủ.
Dân chủ trong xã hội Việt Nam được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội,… Trong đó, dân chủ thể hiện trên lĩnh vực chính trị là quan
trọng nhất, nổi bật nhất và được biểu hiện tập trung trong hoạt động của Nhà nước.
Dân chủ ở nước Việt Nam mới được thể hiện và được bảo đảm trong đạo luật cơ
bản nhất đó là các bản Hiến pháp do Hồ Chủ tịch chủ trì xây dựng và được Quốc hội
thơng qua. Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, thể hiện rõ nhất và thấm đậm nhất tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh. Điều
thứ 1, Hiến pháp đã khẳng định “Tất cả quyền bính trong nước là của tồn dân Việt
Nam, khơng phân biệt nịi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tơn giáo”. Có thể nói,
Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam.
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của dân chủ
Dân chủ có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại
Athena, Hy Lạp trong thế kỷ thứ V TCN nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy của
dân chúng vào năm 508 TCN. Tương truyền, hình thức nhà nước này được Quốc
vương Theseus - vị vua khai quốc của thành bang Athena - áp dụng lần đầu tiên trong
thời kỳ thượng cổ. Chính phủ đó được xem là hệ thống dân chủ đầu tiên, người dân bầu
cho mọi việc. Tại đó, lao động nơ lệ được sử dụng như lực lượng sản xuất chủ yếu
trong tất cả các ngành. Sau thời kỳ tồn tại và phát triển hưng thịnh, nền dân chủ chủ nô
bộc lộ dần những mặt trái của nó. “Một đằng thì người Hy Lạp đã khám phá, hay phát
minh ra dân chủ, kịch nghệ, triết lý, nhưng đằng khác họ lại bo bo giữ lấy những nghi
lễ, tín ngưỡng cổ hủ và không tránh được nội chiến. Người Aten chuộng tự do mà lại
xử tử Xokrates. Tuy họ đưa ra thuyết “tri bỉ” và thuyết trung dung, thực hiện được
những kiến trúc cân đối, hoàn mỹ, và nền giáo dục của họ phát triển toàn diện con
người về thể xác cũng như về trí tuệ, họ thường tỏ ra khinh mạn con người…Ngạo mạn
đã mang hình phạt tời cho họ” (C. Brinton, J. Christopher, R. Wolff: Văn minh Tây
phương, t. 1. người dịch Nguyễn Văn Lượng; tủ sách Kim Văn, Sài Gòn, 1971, tr. 83).
Sự khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô xuất phát từ những nguyên nhân bên
trong, từ chính bản chất của nó. Đó là hệ thống chính trị hạn chế, chật hẹp và khép kín,
chỉ dành cho dân tự do, tức cơng dân, lúc ấy có khoảng 30 - 40 ngàn người trong số
hơn 250 - 300 ngàn người, bằng một phần mười dân số. Bị tước quyền làm người,
trong suốt nhiều thế kỷ người nô lệ liên tục nổi lên chống giai cấp chủ nô, dẫn đến sự
suy yếu chế độ chiếm hữu nô lệ. Giữa các tầng lớp dân cư tự do cũng nảy sinh mâu
thuẫn trong việc phân chia tài sản, nô lệ, tranh giành quyền lực. Mâu thuẫn tiếp theo là
mâu thuẫn giữa người Hy Lạp “chính gốc” và dân nhập cư, kết quả của việc mở rộng
lãnh thổ. Cuối cùng, mâu thuẫn giữa các thị quốc đã dẫn đến những cuộc chiến tranh
huynh đệ tương tàn, làm suy yếu thế giới Hy Lạp. Người Hy Lạp đã từng đoàn kết với
nhau trong Liên minh Đềlốt (Delos) để đánh đuổi quân xâm lược Ba Tư. Nhưng sau
chiến thắng giữa các thị quốc nảy sinh những rạn nứt nghiêm trọng, đưa đến sự hình
thành hai liên minh - liên minh Aten và liên minh Pêlôpônét (Peloponnes) do Xpáctơ
(Sparta) đứng đầu. Năm 431 TCN bắt đầu cuộc chiến tranh giữa hai liên minh. Các
năm 430 - 428 nạn dịch giết chết một phần tư dân số Aten, kể cả Pêriclét (Pericles).
Năm 411 TCN nền dân chủ bị thay bằng chế độ thiểu số thống trị, nằm trong tay Hội
đồng 400. , Năm 404 TCN sau nhiều tháng bị cây hãm Aten tuyên bố đầu hàng. Xpáctơ
thay Aten kiểm soát thế giới Hy Lạp. Tại một số thị quốc khác của người Hy Lạp nền
dân chủ vẫn tiếp tục được duy trì, song có nơi thì tỏ ra lỏng lẻo, có nơi bị biến thành
“trò chơi dân chủ”, mị dân, nhằm phục vụ mục đích của các tập đồn thống trị. Các nhà
tư tưởng lớn của Hy Lạp như Platôn, Arixtốt đều phê phán nền dân chủ, địi hỏi thay
thế nó bằng các hình thức nhà nước khác.
Sau đó vào thế kỷ thứ XV - XVI phong trào phục hưng đã diễn ra mạnh mẽ,
giáng đòn mạn mẽ của chế độ phong kiến góp phần mạnh mẽ cho sự phát triển của nền
dân chủ tư sản. Tồn bộ nội dung văn hóa của phong trào này đã thể hiện rõ quan điểm
tư tưởng, lập trường của giai cấp tư sản, chĩa mũi nhọn vào chế độ phong kiến, đòi dân
chủ trong văn hóa, khoa học, địi tự do tư tưởng khơng chỉ cho một người (vua) mà cho
toàn bộ giai cấp tư sản và tất cả những ai mà giai cấp tư sản cần đến họ, liên minh với
họ trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến.
Sang thế kỷ thứ XVII, cuộc đấu tranh chống thần quyền và thần học do các nhà
duy lý khởi xướng, tiêu biểu là Descartes. Nhà triết học và tốn học này đề cao tư duy,
trí tuệ con người; phủ định “chân lý” của tôn giáo. Những thành tựu khoa học của thời
kỳ này đã đẩy lùi vai trò sáng thế của Chúa trời, Thượng đế và khẳng định vai trị của
lý trí, tư duy trong q trình tìm tịi, phát hiện chân lý. Đây là con đườn quan trọng
trong quá trình phát triển của khoa học tự nhiên do yêu cầu khách quan của sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản. Đây cũng là một thành tựu của giai cấp tư sản đạt được trên
lĩnh vực đấu tranh giành quyền tự do, dân chủ.
Cuối cùng là cách mạng tư sản Hà Lan, Anh và điển hình là cách mạng tư sản
Pháp. Nền dân chủ được hình thành tương đối đầy đủ trong quá trình đấu tranh cách
mạng tư sản - một nấc thang quan trọng trọng sự phát triển lịch sử.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác lập ở các nước đã hoàn thành cảch mạng
dân tộc dân chủ và bắt đầu tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng của dân
chủ xã hội chủ nghĩa là quyền dân chủ của công dân không ngừng được được mở rộng
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, xã hội thông qua hệ thống cơ quan
nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và tổ chức xã hội với sự tham gia
tích cực vào hoạt động chính trị hàng ngày của đơng đảo quần chúng nhận dân lao
động. Mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xố bỏ chế độ người bóc lột người, tạo
ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện triệt để công bằng xã hội,
dân chủ, văn minh, cơng lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam và nữ, giữa các
dân tộc, tạo cơ hội cho mọi người dân hạnh phúc thông qua việc thừa nhận và khẳng
định các quyền dân chủ đó một cách chính thức trong hiến pháp và các văn bản quy
phạm pháp luật, đặt ra các bảo đảm vật chất và tinh thần để thực hiện các quyền đó và
khơng ngừng mở rộng các quyền dân chủ; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với Nhà
nước và xã hội, phát huy không ngừng quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Các nền văn hóa khác cũng có đóng góp đáng kể vào q trình phát triển của
dân chủ như Đơng Á, Ấn Độ cổ đại, La Mã cổ đại, Châu Âu, và Nam Bắc Mỹ. Tại các
nước Đông Á chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, tuy nhà vua nắm quyền tối cao nhưng
mọi vấn đề quan trọng của quốc gia đều phải được nhà vua đem ra bàn luận với bá
quan văn võ. Sau quá trình thảo luận, nhà vua sẽ là người ra quyết định dựa trên ý kiến
của các quan. Đó là cơ chế làm việc tương tự với các nghị viện trong nền dân chủ hiện
đại chỉ khác nhau ở chỗ nhà vua có quyền quyết định tối hậu còn nghị viện ban hành
luật pháp dựa trên quan điểm số đông. Ở mọi nền văn minh, nền dân chủ tồn tại trong
các cộng đồng dân cư như bộ lạc, thị tộc, công xã, làng xã... từ thời thượng cổ, ở nhiều
nơi tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay trong đó người đứng đầu cộng đồng sẽ do cộng
đồng bầu chọn. Đó là hình thức tổ chức sơ khai nhất của con người trước khi nhà nước
xuất hiện. Nghĩa của từ "dân chủ" đã thay đổi nhiều lần từ thời Hy Lạp cổ đến nay vì từ
thế kỷ thứ XVIII đã có nhiều chính phủ tự xưng là "dân chủ". Trong cách sử dụng ngày
nay, từ "dân chủ" chỉ đến một chính phủ được dân chọn, khơng cần biết bằng cách trực
tiếp hay gián tiếp. Quyền đi bầu khi xưa bắt đầu từ những nhóm nhỏ (như những người
giàu có thuộc một nhóm dân tộc nào đó) qua thời gian đã được mở rộng trong nhiều bộ
luật, nhưng vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi liên quan đến các lãnh thổ, khu vực bị
tranh chấp có nhiều người nhập cư, và các quốc gia khơng cơng nhận các nhóm sắc tộc
nào đó. Hiện nay các quốc gia có nền dân chủ vẫn ln ước mong và vận động, kêu gọi
các quốc gia chưa có nền dân chủ hãy nên mạnh dạn cải cách chính trị theo hướng dân
chủ hóa để tạo điều kiện thiết lập một nền dân chủ thật sự. Sự lan truyền của tư tưởng
dân chủ từ các nước phương Tây sang các nước khác thành một làn sóng dân chủ. Làn
sóng dân chủ đã trở thành một trào lưu chính trị có ảnh hưởng trên thế giới. Sự bất mãn
của dân chúng chỉ góp phần làm cho một nhà nước sụp đổ, dẫn xã hội đến hỗn loạn
chứ không bao giờ đem đến một nền dân chủ. Chỉ có sự trưởng thành của họ mới tạo ra
nền dân chủ.
Vì vậy, hiện nay trên thế giới phổ biến ba nền dân chủ cơ bản đó là dân chủ chủ
nơ, dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa.
1.2.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1. Quá trình ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Ý tưởng về một xã hội cơng bằng, bình đẳng và bác ái đã xuất hiện từ lâu. Ý
tưởng đó xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân lao động muốn thoát khỏi sự bất
công, bạo lực và chuyên chế, ước mơ xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó những giá
trị chân chính của con người được tơn trọng, mọi người đều có điều kiện để tự do phát
triển với tất cả mọi năng lực của mình. Những cuộc đấu tranh không ngừng của nhân
dân lao động trong lịch sử đã chứng minh cho điều đó. Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ
XV, đầu thế kỷ XVI, tư tưởng về chủ nghĩa xã hội (mới là chủ nghĩa xã hội không
tưởng) mới được hình thành rõ nét. Thomas More (1478 - 1535), một trong những
người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội không tưởng, trong tác phẩm nổi tiếng "Utôpia"
(Xứ không tưởng) đã phê phán chế độ chính trị - xã hội đương thời ở Anh, đồng thời
phác họa một mô hình xã hội, ở đó chế độ nhà nước được xây dựng dựa trên sự bình
đẳng và tự do của mọi người, tất cả những nhà chức trách đều do nhân dân bầu ra, phải
báo cáo trước nhân dân và phải hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Trong xã hội như
vậy, chế độ công hữu thống trị và lao động mang tính bắt buộc. Sau Thomas More,
Tomado Campanela (1568 - 1639), tác giả của tác phẩm "Thành phố mặt trời" và
"Luận về thể chế nhà nước tốt nhất", đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Th.More và đi
đến kết luận rằng, chế độ chính trị - xã hội lý tưởng mang lại quyền lợi cho những
người lao động đó là chế độ dựa trên sở hữu xã hội. Mặc dù thấm đượm tư tưởng tiến
bộ, chủ nghĩa xã hội của Th.More và T.Campannela cịn nhiều điểm khơng tưởng. Cả
hai ơng cùng chưa hình dung được một cách cụ thể và có căn cứ khoa học về việc tạo
lập một xã hội mới tốt đẹp hơn, chưa nhận thức được một cách đúng đắn vai trò của
những tiền đề chính trị, kinh tế và tư tưởng để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai ơng cịn
lẫn lộn giữa pháp luật với đạo đức, chưa đoạn tuyệt được hoàn tồn với hệ tư tưởng tơn
giáo...Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà nước xã hội chủ
nghĩa là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người. Sự ra đời, tồn tại và
phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp với các quy
luật vận động và phát triển của xã hội. Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước xã
hội chủ nghĩa là những tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội đã phát sinh trong lòng xã
hội tư bản chủ nghĩa.
Những tiền đề kinh tế: Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thời kỳ đầu của sự
phát triển tư bản chủ nghĩa đã là những quan hệ sản xuất tiến bộ so với quan hệ sản
xuất phong kiến, đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Nhưng do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư cho nên khi chủ nghĩa tư bản đã
phát triển đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì những quan hệ đó đã trở nên mâu thuẫn,
khơng cịn phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ xã hội hóa rất
cao được nữa. Những tiền đề chính trị - xã hội: đặc điểm của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa đã quyết định bản chất và đặc điểm của nhà nước tư sản. Đến giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa đã xuất hiện chủ nghĩa tư bản lũng loạn nhà nước. Nhà nước tư sản đã
trực tiếp tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế, trở thành công cụ trong tay giới tư bản
độc quyền, để củng cố và duy trì những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhằm phục
vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản mà trước hết là của các tập đoàn tư bản lũng loạn nhà
nước. Chính vì vậy, bản chất của nhà nước tư sản ngày càng biến đổi rõ nét, trong hoạt
động của mình, nhà nước tư sản ngày càng sử dụng nhiều hơn những phương pháp
phản dân chủ, quan liêu và độc tài nhưng được che đậy dưới các hình thức dân chủ.
Điều đó càng làm cho những mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản trở nên căng
thẳng, tạo tiền đề cho cách mạng vô sản nổ ra. Yếu tố dân tộc và thời đại: ngoài những
tiền đề trên, những yếu tố dân tộc và thời đại cũng tác động mạnh mẽ đến phong trào
cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trong mỗi nước. Dưới tác động
của nhiều yếu tố khác nhau, cùng với sự mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp vô sản và
nhân dân lao động với các giai cấp bóc lột, cách mạng vơ sản cũng có thể xảy ra ở
những nước có chế độ tư bản chủ nghĩa chưa phát triển cao hoặc trong các nước dân
tộc thuộc địa.
Phơi thai đầu tiên để hình thành nên nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là cuộc đấu tranh
giai cấp ở Pháp và Công xã Paris năm 1871. Cuộc cách mạng 18-3 và công xã Paris 1871
chứng tỏ, nền dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) tất yếu ra đời thay thế dân chủ tư
sản và lý luận soi đường tiến trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa Mac. Bên
cạnh đó công xã Paris 1871 xác nhận rằng, cốt lõi của việc xác lập và vận hành nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa là thông qua bạo lực cách mạng thay thế chun chính tư sản bằng
chun chính vơ sản, trong đó thực hiện dân chủ với nhân dân gắn
liền với thực hiện chuyên chính đối với bọn chống đối cách mạng và các thành phần
bóc lột. Đồng thời nhất thiết phải xây dựng chính đảng vơ sản cách mạng ở mỗi nước
để lãnh đạo tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng, phát triển
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên chỉ đến Cách mạng tháng Mười Nga thành
công với sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới vào năm 1917,
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập. Sự ra đời của nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất của nền dân chủ. Quá trình phát
triển của nền dân chủ xa hội chủ nghĩa bắt đầu từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến
hồn thiện. Trong đó, có sự kế thừa của các nền dân chủ trước đó, đồng thời bổ sung và
làm sâu sắc thêm những giá trị của nền dân chủ mới
1.2.2. Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong chủ nghĩa xã hội, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập và
củng cố dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất - đó là kiểu quan hệ sản
xuất thể hiện sự hợp tác, tương trợ khơng có áp bức bóc lột. Giai cấp vơ sản là người
giữ địa vị thống trị về chính trị. Nhưng sự thống trị về chính trị của giai cấp vơ sản đã
thể hiện bản chất và mục đích khác hẳn với sự thống trị về chính trị của các giai cấp
bóc lột. Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối với tất cả các
giai cấp bị áp bức, bóc lột, để bảo vệ lợi ích của chúng. Cịn sự thống trị về chính trị
của giai cấp vô sản là sự thống trị của đa số đối với giai cấp bóc lột, chỉ là thiểu số
trong dân cư, nhằm mục đích giải phóng giai cấp mình và tất cả người lao động. Mặt
cơ bản nhất trong sự thống trị về chính trị của giai cấp vơ sản là sự lãnh đạo của giai
cấp vô sản đối với toàn xã hội trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Với tư cách đỉnh cao trong toàn bộ lịch sử tiến hóa của
dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa có bản chất cơ bản như sau:
Bản chất chính trị: Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công
nhân (đảng Marx - Lenin) mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyền lực của
nhân dân, thể hiện qua các quyền dân dân chủ, làm chủ, quyền con người, thỏa mãn
ngày càng cao các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân.
Bản chất kinh tế: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu xã hội về
những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của
lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại đại nhằm thỏa mãn
ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của tồn thể nhân dân lao động.
Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị,
phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng và
quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết đảm bảo quyền
làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình
sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối, phải coi lợi ích kinh tế của người lao động
là động lực cơ bản nhất có sức thúc đây kinh tế - xã hội phát triển.
Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù khác về bản chất kinh tế
của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất cơng nhưng cũng như tồn bộ nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa, nó khơng hình thành từ hư vơ theo mong muốn của bất kỳ ai. Kinh tế xã
hội chủ nghĩa cũng là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong
lịch sử, đồng thời lạc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kìm hãm,… của các chế độ
kinh tế trước đó, nhất là bản chất tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công,… đối với đa số
nhân dân.
Khác với nền dân chủ tư sản, bản chất kinh tế của nền dân chủ chủ xã hội chủ
nghĩa là thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ
phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu.
Bản chất tư tưởng - văn hóa - xã hội: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư
tưởng Marx - Lenin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, làm chủ đạo đối với mọi
hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Đồng thời nó kế thừa, phát huy những
tinh hoa văn hóa truyền thống dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng văn hóa, văn
minh, tiến bộ xã hội… mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả cá quốc gia, dân tộc… Trong nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được
nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân. Dưới góc độ này dân chủ
là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng được tự
do và sáng tạo của con người.
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sự kết hợp hài hịa về lợi ích cá nhân, tập
thể và lợi ích của toàn xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra sức dộng viên, thu hút
mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng xã
hội mới.
Với những bản chất nêu trên, dân chủ xã hội chủ nghĩa trước hết và chủ yếu
được thực hiện bằng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là kết quả tự giác hoạt
động của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dân chủ xã
hội chủ nghĩa chỉ có được với điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất
của Đảng cộng sản. Bởi lẽ, nhờ nắm vững hệ tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ
nghĩa Marx- Lenin và đưa nó vào quần chúng, Đảng mang lại cho phong trào quần
chúng tính tự giác cao trong q trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; thông
qua công tác tuyên truyền, giáo dục của mình, Đảng nâng cao trình độ giác ngộ chính
trị, trình độ văn hóa dân chủ của nhân dân để họ có khả năng thực hiện hữu hiệu những
yêu cầu dân chủ phản ánh đúng quy luật phát triển xã hội. Chỉ dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản, nhân dân mới đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi mưu đồ lợi dụng
dân chủ vì những động cơ đi ngược lại lợi ích của nhân dân.
Chương 2. LIÊN HỆ VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦỦ̉ TRONG TRƯỜNG ĐẠI
HỌC HIỆN NAY
2.1. Đặc điểm việc thự hiện dân chủ trong trường đại học hiện nay:
2.1.1. Dân chủ trong phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy của người giáo viên đóng vai trị quan trọng. Phương
pháp khơng tốt làm hiệu quả giảng dạy kém đi nhiều. Phương pháp giảng dạy bao gồm
nhiều vấn đề mà trước hết và quan trọng nhất là cách khơi dậy ở học sinh sự say mê
học tập, sự khát khao hướng về cái thiện, là làm cho học sinh hứng thú trong việc tìm
tịi, khám phá cái mới, cái đẹp.
Mục đích của phương pháp giảng dạy là phải làm cho người học hiểu thấu được
vấn đề, sau khi hiểu được vấn đề thì mục đích cao hơn là phát triển mọi tài năng. Tài
năng sẽ phát triển khi có đủ sức mạnh của nội tâm. Sự vẻ vang của thầy cô giáo không
dừng lại chỗ mang lại sự hiểu biết cho học sinh mà vươn tới chỗ phát triển và bồi
dưỡng tài năng, động viên được sức mạnh nội tâm của con người.
Giảng dạy phải phù hợp với nhu cầu của đối tượng giáo dục. Phải căn cứ vào
nhu cầu của người học trong quá trình giáo dục. Trong lớp học, khả năng nhận thức
của từng người khác nhau, người thầy giáo phải nắm rõ khả năng nhận thức và hoàn
cảnh của từng người để tìm ra cách thức giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng. Có
đối tượng phải tốn nhiều thời giờ, dạy tỉ mỉ thì mới hiểu vấn đề. Có đối tượng dạy bao
quát mà vẫn làm cho người học thấu hiểu được. Như vậy, việc giảng dạy là theo người
học, chứ không phải bắt người học phải học theo cách dạy của mình. Muốn thực hiện
được điều đó thì bài dạy phải chuẩn bị cho tốt kỹ càng, khơng được qua loa đại khái.
Vì vậy, cơng tác giáo dục là cơng việc hết sức khó khăn, gian khổ. Cần có phương
pháp tổ chức giáo dục sao cho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh
giáo dục với đối tượng giáo dục.
Trong tương tác giữa người học và người dạy, sinh viên có quyền nói và nêu ra
ý kiến riêng của bản thân. Điều đó cũng thể hiện tính dân chủ trong phương pháp
giảng dạy.
Cần phát huy tính dân chủ trong sinh hoạt học thuật, tăng cường thảo luận, trao
đổi để kích thích tư duy sáng tạo của người học, do đó người giáo viên phải nâng cao
và hướng dẫn việc tự học cho người học.
Sự phát triển những năng lực sẵn có ở mỗi con người có nghĩa là sự phát triển
mà khai thác được tối đa những khả năng tiềm tàng trong con người, để họ bộc lộ đầy
đủ những gì họ có, khơng bị ức chế sự phát triển và như thế là hồn tồn bình đẳng về
giáo dục. Nền giáo dục dân chủ sẽ tạo điều kiện cho họ phát huy những năng lực, sở
trường riêng của mình. Đối với bậc học đại học, điều này lại càng có ý nghĩa to lớn khi
đây là bậc học đào tạo nên những người có chun mơn sâu về một lĩnh vực nào đó,
nếu có điều kiện phát huy những năng lực, sở trường của mình thì họ có thể phát huy
hết khả năng trong lĩnh vực mà mình đã chọn để học.
2.1.2. Dân chủ trong phương pháp học tập
Dân chủ trong học tập giúp người học liên hệ bản thân, đối chiếu với động cơ
học tập của mình, lựa chọn và sử dụng phương pháp học tập cụ thể có lợi nhất cho bản
thân. Và trên hết là thường xuyên trau dồi ý chí cố gắng, khơng ngừng vươn lên trong
học tập để hướng đến mục tiêu vì sự tiến bộ của bản thân, vì dân, vì nước, làm được
điều đó thì nhất định sẽ đạt được mục đích của việc học. Có động cơ học tập đúng đắn
thì người học sẽ tự nguyện, tự giác trong học tập, khơng bị khiên cưỡng, gị ép, tự
động hồn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng khơng lùi bước
trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập. Có được tinh thần tự nguyện học tập
người học mới chủ động tìm tịi, khám phá tri thức bằng tinh thần say mê, hứng thú. Ở
các trường đại học hiện nay việc sinh viên thực hiện dân chủ trong học tập là điều
không mấy xa lạ. Với thay đổi trong việc đăng ký học phần tín chỉ, sinh viên được
quyền chọn lựa và quyết định việc học của mình. Giáo dục phải bắt đầu từ nhu cầu, sở
thích của người học. Nhà trường cho phép người học được lên kế hoạch học tập phù
hợp với từng cá nhân. Cụ thể, sinh viên được chọn môn học và chọn giáo viên. Ngồi
các mơn bắt buộc, sinh viên có quyền đăng ký môn tự chọn và thời gian học theo nhu
cầu, trình độ và điều kiện của mỗi người. Do đó, sinh viên có thể đăng ký học tín chỉ
nào đó ở ngành khác để có thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và mở mang tầm hiểu
biết. Kế đến, dân chủ trong học tập nghĩa là sinh viên được tham gia tích cực vào q
trình học của mình. Sinh viên là nhân vật trung tâm và đóng vai trị tích cực, chủ động
trong q trình học. Ở các trường đại học của Mỹ, sinh viên là người đưa ra nội quy
lớp học chứ không phải nhà trường. Nội quy lớp rất khác nhau, tùy theo đặc trưng và
yêu cầu riêng của từng lớp. Còn ở Việt Nam trong trường học, giáo viên cần là cầu nối
để sinh viên hiểu và nhận thức đúng đắn về dân chủ và tinh thần dân chủ. Phát huy dân
chủ trong dạy và học đồng thời phải chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo
nội quy, quy định của trường học và môn học. Trong dạy học, mọi ý kiến khác nhau
cần được thảo luận dân chủ, thẳng thắn, sinh viên được khuyến khích trình bày ý kiến
của mình, có khi khác với ý kiến của giáo viên và giáo viên cần là người điều hành
cũng như kết luận lại những vấn đề thảo luận. Trong các học phần thì nhiều trường sẽ
có những quy định về bài tập lớn hay bài tập theo nhóm và sinh viên có quyền tự chọn
nhóm cho mình. Sinh viên làm tiểu theo nhóm, nghiên cứu sâu từng chủ đề và trình
bày với các nhóm khác. Phương pháp giáo dục này ni dưỡng trí tưởng tượng, sự tị
mị và óc sáng tạo của sinh viên. Sinh viên đi thực tế, học cách nghiên cứu, phân tích,
tổng hợp các kiến thức để có thể giải quyết các vấn đề cuộc sống hằng ngày. Giáo viên
là người hướng dẫn, khuyến khích, hỗ trợ. Việc đánh giá chủ yếu phản ánh sự nỗ lực
và tiến bộ, kỹ năng làm việc độc lập, hợp tác của sinh viên hơn là bài kiểm tra theo
chuẩn đánh giá. Ngồi ra sinh viên cịn được sử dụng hệ thống thư viện, các trang thiết bị
và phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, văn hóa, văn nghệ,
thể dục, thể thao. Bên cạnh đó cịn được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe theo quy định hiện
hành của Nhà nước hay đăng ký dự tuyển đi học, tham gia các hoạt động giao lưu, trao
đổi sinh viên ở nước ngồi. Sinh viên có thể chủ động trong mọi tình huống và khơng bị
gị bó bởi các tác nhân nào. Trong trường hợp việc học tập gặp gián đoạn sinh viên được
phép nghỉ học tạm thời, được tiếp nhận trở lại học tập, với điều kiện sinh viên xin thơi học
phải có đơn, có ý kiến đồng ý của đại diện gia đình thanh tốn hết cơng nợ với Nhà trường
(nếu có); sinh viên nghỉ học do hồn cảnh gia đình khó khăn phải có đơn, được chính
quyền địa phương xác nhận; Cố vấn học tập, Khoa quản lý đồng ý và thanh toán hết cơng
nợ với Nhà trường (nếu có) đến thời điểm xin nghỉ học tạm thời; đơn xin thôi học, nghỉ
học tạm thời của sinh viên nộp về Nhà trường qua phịng đào tạo; khi sinh viên có nguyện
vọng tiếp tục trở lại học tập sau nghỉ học tạm thời, cần làm đơn đề nghị, có xác nhận của
địa phương trong thời gian nghỉ học không vi phạm các quy định của pháp luật và gửi về
Nhà trường qua phòng đào tạo. Trong quá trình học tập, sinh viên được hưởng các chế độ,
chính sách, được xét nhận học bổng tuyển sinh, học bổng khuyến khích học tập, học bổng
do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ theo quy định hiện hành; được miễn
giảm phí khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giao thông (đi xe bus giá chỉ 3.000đ), giải
trí (xem phim giá chỉ 45.000đ), tham quan bảo tàng, di tích lịch sử, cơng trình văn hóa
...theo quy định của Nhà nước. Ngồi ra mỗi khi kết thúc học phần, sinh viên được góp
ý kiến, tham gia quản lý và khảo sát hoạt động giáo dục và các điều kiện đảm bảo chất
lượng giáo dục; trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị các
giải pháp góp phần xây dựng và phát triển Nhà trường; đề đạt nguyện vọng và khiếu
nại lên Ban Giám hiệu Nhà trường giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền, lợi
ích chính đáng của sinh viên.
2.2 Thực trạng việc thực hiện dân chủ trong trường đại học hiện nay
2.2.1. Những mặt đạt được và nguyên nhân
Về thực hiện dân chủ trong nội dung, chương trình giảng dạy
Với phương châm đào tạo “lấy người học làm trung tâm”, ngành giáo dục- đào
tạo đang tiến hành đổi mới nội dung chương trình và quy trình đào tạo nhằm tăng khả
năng chủ động, sáng tạo, kích thích năng lực tự học, độc lập nghiên cứu của sinh viên.
Những đổi mới này có ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch giảng dạy của các trường đại
học, đến kế hoạch dạy học của giảng viên và sinh viên.
Các chương trình đào tạo đại học thường xuyên được cải tiến, được xây dựng lại
theo hướng tăng cường tính liên thơng giữa các chương trình đào tạo gần ngành với
nhau, tăng cường các mơn tự chọn giúp sinh viên có thể chọn học những mơn hợp sở
trường, nguyện vọng của mình. Các trường đại học ở nước ta vẫn đang trong quá trình
chuyển đổi triệt để quy trình đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ. Quy trình này
cho phép sinh viên tự chọn kế hoạch học tập riêng cho mình, phát huy tối đa quyền
làm chủ của cả người học và người dạy. Tuy nhiên, cần có thời gian và những điều
kiện tối thiểu để từng bước làm quen với mơ hình đào tạo mới này.
Thực tiễn giảng dạy cho thấy, đội ngũ giảng viên đã hoàn thành tương đối tốt
nhiệm vụ của mình. Họ tơn trọng chương trình, tơn trọng người học, chuyển tải đủ nội
dung theo những chương trình thích hợp với chức năng, nhiệm vụ đào tạo của của
trường mình. Đây là yếu tố quan trọng để tạo nên sự đồng thuận trong mục tiêu đào
tạo chung giữa các trường, vừa phát huy được những thế mạnh của từng trường trong
việc giảng dạy.
Thành tựu thực hiện dân chủ trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế ở
các nhà trường đại học nước ta
Thực hiện dân chủ trong nhà trường, trước hết là tạo cơ chế để mỗi cán bộ,
giảng viên được tham gia vào q trình hoạt động chun mơn của nhà trường, làm
cho họ thực sự trở thành những người làm chủ trong nhà trường.
Trường đại học là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước,
đồng thời là cơ sở nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho các lĩnh vực
hoạt động kinh tế- xã hội của cả nước. Trường đại học phải chịu trách nhiệm trước
toàn xã hội về các sản phẩm khoa học, cơng nghệ của mình, trong đó sản phẩm đặc
biệt là các chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau.
Trong bối cảnh của cuộc vận động “hai không” với bốn nội dung của ngành
giáo dục và đào tạo hiện nay: khơng bệnh thành tích; khơng tiêu cực trong thi và kiểm
tra; không đào tạo không đạt chuẩn và không theo nhu cầu xã hội; không vi phạm đạo
đức nhà giáo thì việc tồn thể cán bộ, giảng viên tham gia vào q trình hoạt động
chun mơn của nhà trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hơn nữa, việc
trao quyền tự chủ cho các trường đại học trong việc xác định quy mô đào tạo, tuyển
sinh, chất lượng đào tạo địi hỏi các nhà trường phải có năng lực tự quản tốt, nếu
không sẽ bị đào thải.
Vấn đề dân chủ trong quá trình đào tạo ở các trường đại học nước ta thời gian
qua đã từng bước được cải thiện và đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng.
Quy trình tuyển sinh dần dần được cải tiến theo hướng công khai, công bằng, dân chủ
hơn. Quy mô đào tạo mở rộng tương đối hợp lý, tạo điều kiện cho phần lớn thanh niên
có đủ điều kiện tham gia học tập tại các trường đại học.
Cán bộ, giảng viên được tham gia bàn bạc về công tác đào tạo, kiểm tra, giám
sát và có những phản hồi đối với công tác đào tạo của nhà trường. Công tác quản lý
đào tạo trong những năm qua đã từng bước được đổi mới nhằm phát huy quyền làm
chủ của đội ngũ cán bộ giảng dạy và sinh viên.
Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hiện nay là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học vì nó thể hiện tiềm năng khoa học của các
nhà trường. Đây là lĩnh vực thể hiện năng lực sáng tạo của đội ngũ giảng viên, các nhà
khoa học trong nhà trường và khuyến khích sức sáng tạo của sinh viên. Để nâng cao
hiệu quả của công tác này cần phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của người
nghiên cứu nên đây là lĩnh vực cần được dân chủ hóa một cách triệt để.
Việc thực hiện dân chủ trong nghiên cứu khoa học ở các trường đại học nước ta
thời gian qua đã đem lại những thành tích nghiên cứu đáng kể. Nhiều đề tài, dự án
khoa học được triển khai và hoàn thành với chất lượng tốt, có tính ứng dụng cao do
các nhà trường đại học thực hiện. Nhiều cơng trình, bài báo khoa học của các giảng
viên đại học được công bố trên các tạp chí uy tín trong và ngồi nước.
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hợp tác quốc tế của các trường đại học đang
từng bước được xác lập. Nhà nước, các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản
hướng dẫn thực hiện công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa
học và chuyển giao công nghệ đối với các trường và cơ sở đào tạo đại học. Trong
những năm gần đây, nhiều trường đại học đã mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
đào tạo đại học và sau đại học. Các trường được chủ động hợp tác với các trường đại
học trên thế giới trong việc trao đổi người học, trao đổi giảng viên thỉnh giảng, hỗ trợ
phương pháp và phương tiện dạy học, đào tạo giảng viên và nghiên cứu viên chất
lượng cao.
Thực hiện tốt vấn đề dân chủ trong việc quản lí tài chính và cơ sở vật chất của nhà
trường
Quá trình thực hiện dân chủ trong lĩnh vực quản lý những năm qua ở các trường
đại học nước ta đã đạt được một số bước phát triển quan trọng, góp phần làm cho nhà
trường ngày càng lớn mạnh. Các lĩnh vực quản lý của nhà trường đã dần dần được
cơng khai hóa, minh bạch hóa và có hiệu quả ngày càng cao, được cán bộ, giảng viên
trong trường ghi nhận. Hầu hết các trường đại học đều thực hiện tốt “ba công khai”,
“bốn kiểm tra”.
Trước hết là về quản lý tài chính, chi tiêu trong nhà trường. Tài chính của một
trường đại học bao gồm các nguồn thu chính là: nguồn thu do ngân sách nhà nước cấp;
nguồn thu học phí; nguồn thu từ đào tạo ngồi ngân sách (đào tạo hợp đồng, đào tạo
tại chức, v.v.); nguồn thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ; các nguồn tài trợ
khác. Do các nguồn thu khá đa dạng nên đây là lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực. Hiệu
trưởng là người chịu trách nhiệm toàn bộ về các nội dung thu, chi tài chính trong
trường cho nên cũng dễ xảy ra tình trạng độc đốn, chun quyền, mất dân chủ trong
lĩnh vực này.
Hiện nay, các nhà trường đã có nhiều cố gắng trong việc cơng khai các khoản
thu chi trong các báo cáo tại đại hội công nhân viên chức trường hàng năm, các khoản
thu chi đều có giải trình rõ ràng. Trong việc mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ bản
trong trường đều được công khai hóa, khách quan hóa trong việc đấu thầu, đấu giá.
Những cơng việc liên quan đến tài chính và cơ sở vật chất (phịng kế hoạch tài chính,
phịng quản trị của các trường) đều được giao cho những người có chuyên môn để
giúp đỡ ban giám hiệu, hiệu trưởng trong quản lý tài chính và cơ sở vật chất của nhà
trường.
Trong thời gian qua, cơ chế tự chủ tài chính áp dụng đối với các cơ sở giáo dục
đại học công lập đã đạt được nhiều kết quả tích cực, mở ra cơ hội phát triển trên cả
khía cạnh quy mơ và chất lượng đào tạo, cụ thể như: Một là, các cơ sở giáo dục đại
học có cơ hội mở rộng nguồn thu. Hai là, các cơ sở giáo dục đại học chủ động hơn
trong quản lý chi tiêu. Ba là, giảm áp lực chi ngân sách cho giáo dục đại học. Điều
này cũng đã thể hiện tính dân chủ trong việc quản lý tài chính và cơ sở vật chất của
nhà trường.
Thực hiện dân chủ trong công tác quản lý cán bộ, và công tác quản lý sinh viên
Trong công tác quản lý cán bộ, việc thực hiện chính sách đối với cán bộ, giảng
viên và việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, quản lý đào tạo cán bộ đã được các
trường từng bước thực hiện có hiệu quả. Các hoạt động này đã được thực hiện đúng
quy trình, đảm bảo công khai, dân chủ nên được cán bộ, giảng viên ghi nhận.
Việc cơng khai hóa và thực hiện đúng các chính sách đối với cán bộ, giảng viên
ln là ưu tiên hàng đầu trong các trường đại học vì nó tác động trực tiếp đến thái độ
làm việc và bầu khơng khí dân chủ trong trường.
Thực hiện dân chủ không chỉ là nhiệm vụ của lãnh đạo, của tổ chức, đồn thể
mà cịn là trọng trách của mỗi thành viên trong trường. Nhiều cán bộ, giảng viên trong
trường hiểu về trách nhiệm này của mình nên họ đã tích cực tham gia làm chủ tập thể,
làm chủ nhà trường trong khuôn khổ chức trách, nhiệm vụ được giao.
Quyền làm chủ của cán bộ, giảng viên, sinh viên trong trường được thể hiện ở
những nội dung chính là: được cung cấp thông tin kịp thời; được tham gia bàn bạc
những vấn đề liên quan; được giải quyết những công việc thuộc phạm vi, thẩm quyền;
được kiểm tra, giám sát các hoạt động của nhà trường, đơn vị theo quy định.
Hiện nay, các văn bản pháp quy về quyền làm chủ của cán bộ, giảng viên trong các
trường đại học đã được ban hành tương đối đầy đủ, chặt chẽ; cán bộ lãnh đạo trong các
trường có ý thức dân chủ, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nhân dân được làm chủ;
trình độ dân trí của quần chúng trong các trường đại học khá cao; các tổ chức và đoàn
thể quần chúng hoạt động tương đối hiệu quả, từng bước phát huy được vai trò làm
chủ của nhân dân. Cho nên các đối tượng trong trường, từ cán bộ lãnh đạo đến giảng
viên, công chức, sinh viên dần dần thể hiện quyền làm chủ của mình, biết nói lên ý
kiến của mình, tham gia góp ý vào các cơng việc của trường, tích cực, thẳng thắn,
đúng mực trong tự phê bình và phê bình. Dân chủ trong các trường đại học nước ta đã
đạt được những thành quả bước đầu đáng khích lệ.
Trong cơng tác quản lý sinh viên, sinh viên là lực lượng đông đảo nhất trong
các trường đại học nước ta hiện nay. Với phương châm đào tạo là lấy người học làm
trung tâm thì dân chủ trong sinh viên là một trong những nội dung rất quan trọng của
việc thực hiện dân chủ trong nhà trường. Để sinh viên hiểu hơn về quyền và trách
nhiệm thực hiện dân chủ của mình trong nhà trường, các trường đại học đã tổ chức
tuần sinh hoạt công dân, tuần sinh hoạt chính trị đầu khóa, các buổi nói chuyện chun
đề, hội thảo, v.v. Thông qua những hội nghị, hội thảo này, sinh viên được học tập, phổ
biến các quy chế, quy định của ngành và nhà trường, các chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, qua đó nắm bắt được quyền và nghĩa vụ
của mình. Ngồi ra, các trường còn cung cấp cho sinh viên các tài liệu về quy chế đào
tạo, cung cấp nguồn tư liệu để sinh viên tìm hiểu thêm về các chính sách, pháp luật
liên quan đến quyền và nghĩa vụ của sinh viên trong nhà trường đại học.
Dân chủ trong sinh viên phụ thuộc chủ yếu vào quá trình thực hiện dân chủ của
khoa chủ quản, của nhà trường đại học. Trong đó, sát với sinh viên nhất là tập thể lớp,
chi đoàn, đây là nơi sinh viên thể hiện quyền làm chủ của mình. Với quy trình đào tạo
theo niên chế thì tập thể lớp là nơi sinh viên gắn bó trong suốt q trình học đại học
của mình. Hiện nay, nhiều trường thực hiện sinh hoạt lớp hành chính định kỳ 4 lần
trong một năm học để giảng viên cố vấn học tập tư vấn các hoạt động cho lớp, hướng
dẫn lớp trong việc thực hiện tự quản các hoạt động của sinh viên, qua đó phát huy tối
đa quyền dân chủ, tính năng động, sáng tạo của sinh viên thông qua sự điều hành của
ban cán sự lớp và chi đoàn sinh viên.
Trong những năm gần đây, dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mỗi
năm học, các trường đều tổ chức lấy phiếu thăm dò phản hồi ý kiến của người học đối
với người dạy. Thông qua hoạt động này, sinh viên có quyền đánh giá giảng viên về
nội dung, phương pháp dạy học, thái độ của người dạy đối với người học, từ đó đề ra
những mong muốn, yêu cầu của người học đối với người dạy, giúp giảng viên có thể
điều chỉnh phương pháp, thái độ giảng dạy của mình cho phù hợp với nhu cầu của
người học. Với những điều kiện tương đối thuận lợi mà các trường đại học đã tạo ra
được thì vấn đề thực hiện dân chủ trong sinh viên phụ thuộc chủ yếu vào thái độ và
tính năng động, sáng tạo, tự giác của sinh viên. Hiện nay, hầu hết sinh viên đã nhận
thức được vai trị của mình trong nhà trường, do đó bước đầu sinh viên có được những
hiểu biết cơ bản về dân chủ trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện. Sinh viên
luôn nêu cao tinh thần làm chủ trong các nhiệm vụ, có thái độ tuân thủ nghiêm pháp
luật Nhà nước, kỷ luật, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy chế của các nhà
trường.
2.2.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân
Tuy đã đạt được những thành tích bước đầu quan trọng, nhưng q trình thực
hiện dân chủ trong nhà trường đại học nước ta vẫn cịn nhiều hạn chế, thiếu sót. Hạn
chế này thường được biểu hiện trên hai phương diện chính là: dân chủ tùy tiện, thiếu
định hướng dẫn đến vi phạm các nguyên tắc, quy định về dân chủ của cấp trên; hoặc
ngược lại, vận dụng một cách cứng nhắc các văn bản, quy định, quy chế dân chủ được
áp đặt từ trên xuống vào quá trình thực hiện dân chủ trong nhà trường nên khơng thấy
được tính đặc thù của q trình này trong khuôn khổ nhà trường đại học, dẫn đến hiện
tượng rập khn giáo điều; vẫn cịn những biểu hiện dân chủ hình thức trong một số
hoạt động của nhà trường. Qua q trình nghiên cứu, khảo sát có thể rút ra những hạn
chế chủ yếu như sau:
Vấn đề thực hiện “Ba công khai” vẫn chưa đi vào thực chất. Chủ yếu mới chỉ
công khai về chỉ tiêu tuyển sinh, kế hoạch đào tạo. Còn vấn đề liên quan đến đời sống
của cán bộ, giảng viên là tài chính thì việc cơng khai cịn hạn chế. Hội nghị cơng chức
hàng năm của các đơn vị thường có mục cơng khai tài chính nhưng các số liệu chủ yếu
là “tổng thu, tổng chi” chứ chưa công khai cụ thể, rõ ràng. Có trường hợp, do đảng ủy,
ban giám hiệu khơng cung cấp đầy đủ và kịp thời những thông tin cần thiết, khơng có
sự giải thích thỏa đáng cho nên, mặc dù các quyết định được đưa ra là đúng đắn nhưng
vẫn khơng được quần chúng ủng hộ. Vai trị tổ chức trong cơng đồn trong các trường
đại học mới chỉ dừng lại ở việc tổ chức một số hoạt động phong trào, đời sống và công
tác xã hội. Việc tham gia của tổ chức này vào quá trình quản lý và đào tạo của nhà
trường cịn khá hạn chế. Đồn thanh niên và hội sinh viên là hai tổ chức rộng rãi của
tuổi trẻ trong các trường đại học, mà đơng đảo nhất là sinh viên. Đồn và hội đã tổ
chức được rất nhiều hoạt động bổ ích, góp phần tập hợp giới trẻ, giáo dục và hướng
các hoạt động của họ vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của nhà trường.
Tuổi trẻ thường năng động, sáng tạo nhưng bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, lập
trường tư tưởng chưa ổn định. Nếu thiếu sự lãnh đạo sâu sát của đảng ủy, không gắn
với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường thì hoạt động đồn, hội dễ bị
chệch hướng, bị các thế lực xấu lợi dụng. Cùng với những yếu kém trong hoạt động
đoàn, hội ở một số trường đại học, tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ quá trớn tất
yếu sẽ này sinh và xét đến cùng thì tất cả những yếu kém này đều bắt nguồn từ sự yếu
kém của đội ngũ cán bộ đoàn, hội.
Hạn chế trong nhận thức về dân chủ của cán bộ, giảng viên và sinh viên
Nhận thức về dân chủ của các đối tượng trong nhà trường còn chưa đầy đủ, mơ
hồ, chung chung, cho nên thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ của mình; dân chủ
đơi khi cịn mang tính áp đặt từ trên xuống thông qua hệ thống văn bản, chưa thật sự
phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của mọi người. Qua gần 30 năm thực hiện cuộc vận
động dân chủ và 15 năm thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà
trường, nhận thức về dân chủ của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong các nhà trường
đại học ở nước ta có những chuyển biến tích cực. Hầu hết quần chúng trong trường
đều hiểu biết về quyền dân chủ của mình, biết và hiểu về quá trình thực hiện dân chủ
trong nhà trường ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, nếu coi đại học là mơi trường
có trình độ dân trí cao so với các loại hình cơ sở khác thì nhận thức dân chủ của một
bộ phận cán bộ, giảng viên, sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu mà thực tế đòi hỏi.
Sự hiểu biết của cán bộ, giảng viên, sinh viên về Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt
động của nhà trường, về quyền và trách nhiệm dân chủ của mình còn khá mơ hồ, họ
mới chỉ biết về sự tồn tại của Quy chế hoặc là có được nghe nói đến, chứ chưa thật sự
hiểu và nắm vững những nội dung cơ bản của nó. Những người được tiếp cận trực tiếp
với Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường có khi lại cố tình hiểu
sai, hiểu lệch lạc theo hướng có lợi cho mình, dẫn đến việc tuyên truyền, phổ biến và
thực hiện quyền và trách nhiệm của các đối tượng trong trường có khơng ít hạn chế,
sai sót. Có trường hợp, cán bộ lãnh đạo lợi dụng dân chủ để củng cố phe cánh, che mắt
quần chúng gây nên tình trạng dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu. Có trường hợp,
quần chúng lợi dụng dân chủ để áp lực đối với lãnh đạo, nói xấu, bơi nhọ cán bộ, lơi
kéo quần chúng, bóp méo dư luận gây nên tình trạng dân chủ quá trớn, vi phạm nội
quy, quy chế nhà trường, cá biệt còn vi phạm pháp luật. Xét đến cùng, tất cả những vi
phạm trên đều bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về dân chủ trong một bộ phận cán bộ,
giảng viên và sinh viên, do đó mơi trường văn hóa sư phạm cịn chưa cao. Do có biểu
hiện khơng đúng trong nhận thức về dân chủ cho nên nhiều người chỉ quan tâm đến
quyền mà chưa chú trọng đến nghĩa vụ, dẫn đến dân chủ bị lợi dụng để phục vụ cho
những mục đích riêng. Trong thực tế, nhiều trường đã khơng có văn bản hướng dẫn
hoặc xây dựng quy chế cho riêng trường mình, cho nên việc thực hiện các quy định,
chỉ thị thiếu thống nhất, lúc thế này, lúc thế khác tùy thuộc vào cách hiểu của mỗi
người. Có trường cịn ban hành những văn bản riêng trái với quy định của cấp trên,
không phù hợp với nguyện vọng, lợi ích quần chúng và gây bất bình trong nhà trường.
Về nội dung, chương trình giảng dạy tại các trường đại học nước ta hiện nay
Thực hiện dân chủ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên
là một vấn đề được ngành giáo dục- đào tạo và các trường hết sức quan tâm. Trên thực
tế, ngành giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, thời gian qua đã có những
nỗ lực để đổi mới, kết cấu lại khung chương trình từ nội dung cho đến phương pháp
giảng dạy. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nội dung, chương trình đào tạo đại
học hiện nay vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục như: nội dung kiến thức truyền đạt
nhiều khi còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; ở một số nội dung thuộc các ngành lý
luận chính trị cịn mang nặng tính lý thuyết, chưa cập nhật kiến thức thực tiễn, thiếu
sức thuyết phục đối với người học. Đây là một hạn chế lớn cần khắc phục vì nội dung,
chương trình mơn học là yếu tố ảnh hưởng rất mạnh đến việc tạo ra hứng thú học tập
cho sinh viên. Bài giảng khơng có sức hấp dân chính là nguyễn nhân đầu tiên dây mất
hứng thú học tập, giảm hiệu quả tiếp thu tri thức. Việc không quan tâm đến việc bổ
sung chương trình giảng dạy chứng tỏ nhà trường và cán bộ giảng dạy ít quan tâm đến
nhu cầu tiếp thu tri thức của sinh viên, không tôn trọng thực tiễn, kiến thức học ở nhà